Thu hoạch thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
Quản lý rủi ro ở trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề khá
mới mẻ. Rủi ro trong lĩnh vực hải quan là nguy cơ tiềm ẩn việc không tuân thủ
pháp luật về hải quan trong thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá,
xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải khiến cho cơ quan hải quan
không thể thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của mình.
Trong hoàn cảnh hiện nay, khi nền kinh tế Thế giới đang có những biến
chuyển mạnh mẽ, các hoạt đông buôn bán, thương mại quốc tế ngày càng mở
rộng thì khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu vào mỗi quốc gia cũng tăng lên
nhanh chóng, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài xu thế của sự phát triển,
Việt Nam cũng không ngoại lệ. Trong những năm gần đây, nhất là sau khi Việt
Nam gia nhập WTO vào năm 2006, khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu,
phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, hành khách xuất nhập cảnh ngày càng gia
tăng nhanh chóng. Vấn đề đặt ra đối với ngành Hải quan là làm sao vừa có thể
kiểm tra, kiểm soát được tất cả hàng hóa xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh vừa tạo
thông thoáng cho hoạt động thương mại quốc tế với nguồn lực có hạn. Để giải
quyết vấn đề này, ngành Hải quan đang từng bước thực hiện cải cách và hiện đại
hóa để nâng cao năng lực quản lý, chất lượng phục vụ của Hải quan nhằm tạo
thuận lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu nói chung của doanh nghiệp. Trong
đó, việc áp dũng kỹ thuật quản lý rủi ro đóng vai trò rất quan trọng, là giải pháp
tối ưu cho Hải quan Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Với nhận thức đó, đề tài “ Áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục
hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Bắc Nội” vừa
mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn xây dựng trong quá trình hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế của Hải quan Việt Nam.
Đề tài được chia làm 3 chương:
- Chương 1 : Giới thiệu chung về Chi Cục Hải Quan Bắc Hà Nội
- Chương 2 : Thực trạng áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải
quan tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội
1
Bưu điện Hà Nội, Hải quan Giảng Võ
Như vậy, từ tháng 8 năm 1985, Trạm Hải quan số I Hà Nội được đổi tên
thành Hải Quan Giảng Võ và nằm trong cơ cấu của Hải Quan Thành phố Hà Nội.
Thực hiện qui định của Chính phủ về việc cho phép làm thủ tục hải quan
tại các địa điểm thông quan bên ngoài cửa khẩu, ngày 26/05/1999, Tổng cục
trưởng Tổng cục Hải quan ra Quyết định số 312/TCHQ-TCCB về việc thành lập
Hải quan Đường Láng trên cơ sở tổ chức của Hải quan Giảng võ thuộc Cục Hải
quan TP Hà nội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn như Hải quan cửa
khẩu, hoạt động theo qui chế địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu và
3
Thu hoạch thực tập
hàng hoá chuyển tiếp tại địa điểm thông quan tại 358 Đường Láng do Công ty
Dịch vụ Lao động hợp tác quốc tế (Interserco) thành lập và quản lý.
Năm 2002 được coi là năm “bản lề” của ngành Hải quan với việc triển
khai Luật Hải quan được xây dựng trên tinh thần đổi mới, cải cách hành chính và
hội nhập quốc tế, hiện đại hoá hải quan, đảm bảo quản lý nhà nước về hải
quan.Để triển khai thực hiện Luật Hải quan, đồng thời nhằm nâng cao năng lực
hoạt động của các Chi cục Hải quan thuộc Cục Hải quan Thành phố Hà Nội,
ngày 16 tháng 12 năm 2001, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Đức
Kiên đã ký quyết định số 364/QĐ-TCCB về việc “sắp xếp lại, đổi tên và thành
lập mới các đơn vị Hải quan cửa khẩu và đơn vị tương đương thành Chi cục Hải
quan cửa khẩu, Đội Kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương thuộc Cục Hải
quan Thành phố Hà Nội”, gồm 11 đơn vị, trong đó Hải quan Đường Láng được
đổi tên thành Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội.
Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội được quy định chức năng và nhiệm vụ như
sau:
Chức năng: tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu trên địa bàn Hà Nội theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ:
- Tổ chức thực hiện các quy trình nghiệp vụ và thủ tục hải quan; chế độ kiểm tra,
năng, làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát cho nhiều loại hình hàng hoá xuất
nhập khẩu: ICD, chuyển tiếp hàng hoá đường biển, đường bộ, chuyển phát
nhanh, hàng không, quá cảnh, hàng TN-TX triển lãm, cửa hàng miễn thuế, phục
vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội và
các vùng lân cận.
1.2. Những điều kiện cần thiết để áp dụng quản lý rủi ro tại Chi cục hải
quan Bắc Hà Nội
1.2.1. Hệ thống khuôn khổ pháp lý
Luật Hải quan ban hành năm 2001, được sửa đổi bổ sung bằng Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 với
các điều khoản số 29, điều 30, điều 32; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số
45/2005/QH11 ngày 14/06/2005, các Nghị định, Thông tư, Quyết định và các
văn bản hướng dẫn dưới Luật khác có liên quan, cho phép Chi cục áp dụng quy
5
Thu hoạch thực tập
trình quản lý rủi ro, coi đó như một phương pháp quản lý hiện đại cần thiết của
cơ quan hải quan.
Ngoài ra, các quy định pháp luật mới được ban hành trong những năm gần
đây về hoạt động xuất nhập khẩu và quản lý hải quan đã khẳng định rất rõ, rằng
Việt Nam đang phấn đấu hội nhập cùng quốc tế, áp dụng các quy trình quản lý
hải quan hiện đại phù hợp với khuyến nghị của Công ước Kyoto sửa đổi năm
1999 về hài hòa và đơn giản hóa thủ tục hải quan, chuẩn bị hành trang đầy đủ để
tham gia vào các tổ chức kinh tế, hợp tác khu vực và thế giới như Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác Kinh tế khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM)…
1.2.2. Quy trình thủ tục hải quan
Theo quy định tại Luật Hải quan (2001), Nghị định 101/2001/NĐ-CP
ngày 31/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan và Quyết định
56/2003/QĐ-TCHQ ngày 16/04/2003 quy định về hồ sơ hải quan, quy trình thủ
trình độ đại học.
Ngoài ra, do đặc thù riêng của ngành nên vấn đề đạo đức nghề nghiệp và
liêm chính hải quan cũng rất được chú trọng. Chi cục đã thường xuyên tổ chức
giáo dục cho các cán bộ công chức hiểu rõ các yêu cầu về xây dựng lực lượng, về
nhiệm vụ chính trị của ngành và thực hiện tốt phương châm hành động “Thuận
lợi, tận tụy, chính xác” theo tinh thần tại Quyết định 517/TCHQ/QĐ/TCCB ngày
17/06/2004 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về áp dụng một số giải pháp
để ngăn chặn và chấm dứt tệ gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong cán bộ,
công chức hải quan.
1.2.4. Cơ sở vật chất
Vấn đề trang thiết bị vật chất đóng một vai trò quan trọng nhằm đưa Hải
quan Việt Nam trở thành cơ quan quản lý hiện đại, mang tầm vóc quốc tế. Có
thiết bị máy móc, phương tiện làm việc hiện đại các thao tác thủ công sẽ được
giảm bớt, do đó, tiết kiệm được thời gian, sức lao động với kết quả kiểm tra
chính xác, công tác kiểm soát hiệu quả hơn.
7
Thu hoạch thực tập
Được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới trong dự án Hiện đại hóa Hải
quan, thời gian gần đây, Chi cục đã được Tổng cục Hải quan đã tiến hành trang
bị thêm các phương tiện, thiết bị hỗ trợ công việc hiện đại như hệ thống máy vi
tính đồng bộ có nối mạng internet để truyền và nhận thông tin giữa các cấp trong
ngành, cân ô tô cố định, máy soi container và các thiết bị giám sát hàng hiện đại
khác… phục vụ công tác kiểm soát, thay thế dần các trang thiết bị, phương tiện
làm việc cũ, sử dụng kém hiệu quả.
1.2.5. Hệ thống công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin có vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực của
đời sống hiện đại. Đối với ngành hải quan, công nghệ thông tin không chỉ là công
cụ hữu ích nhằm hiện đại hóa các khâu nghiệp vụ hải quan mà còn góp phần
phân tích, dự báo, lưu giữ, thống kê các cơ sở dữ liệu của ngành và các đối tượng
khác có liên quan.
Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục
hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan.
Nhóm tiêu chí đánh giá, phân loại doanh nghiệp: gồm 46 tiêu chí nhằm
phân tích, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp dựa trên mức độ chấp hành pháp
luật, loại hình doanh nghiệp, vốn kinh doanh, thời gian hoạt động, loại hình xuất
nhập khẩu thường xuyên và kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm của doanh
nghiệp.
Nhóm tiêu chí phân loại hàng hóa: gồm 11 tiêu chí đánh giá, chủ yếu căn
cứ vào nhóm hàng hóa có thuộc diện xuất nhập khẩu có điều kiện hay không và
thuế suất của hàng hóa đó.
9
Thu hoạch thực tập
Nhóm tiêu chí phân loại xuất xứ: gồm 3 tiêu chí, phân loại hàng hóa có
xuất xứ từ các nước ASEAN, các nước được hưởng ưu đãi thuế quan và các nước
là trung tâm sản xuất, trung chuyển ma túy.
Nhóm tiêu chí phân loại hình thức thanh toán: gồm 4 tiêu chí đánh giá
mức độ rủi ro trên các hình thức thanh toán quốc tế như thanh toán bằng tiền mặt,
bằng điện chuyển tiền hay thanh toán nhờ thu…
Nhóm tiêu chí đánh giá loại hình xuất nhập khẩu: gồm 6 tiêu chí đánh giá
dựa trên các loại hình xuất, nhập khẩu, với mức độ rủi ro có thể xảy ra khác nhau
như hàng kinh doanh, hàng xuất - nhập khẩu gia công, hàng chuyển khẩu, tạm
nhập - tái xuất…
Mỗi tiêu chí được xây dựng trong bộ tiêu chí rủi ro trên ứng với một mức
điểm rủi ro nhất định. Khi doanh nghiệp làm thủ tục hải quan, căn cứ vào thông
tin thu thập được, kết hợp với nội dung khai báo của doanh nghiệp, máy tính
hoặc cán bộ tiếp nhận (đối với những đơn vị hải quan chưa được cài đặt phần
mềm đánh giá rủi ro) đánh giá rủi ro của doanh nghiệp và lô hàng xuất nhập khẩu
dựa trên mức điểm rủi ro đó. Tương ứng với mỗi mức độ rủi ro được đánh giá sẽ
có hình thức kiểm tra thực tế lô hàng xuất, nhập khẩu thích hợp.
Ngoài ra, để phân tích rủi ro được chính xác, Tổng cục Hải quan đã phân
phối hợp giữa các tiêu chí được xây dựng ở cấp Tổng cục với các tiêu chí do Cục
xây dựng để tổng hợp thành bộ tiêu chí chung, là cơ sở cho các Chi cục hải quan
trực thuộc thực hiện.
• Tiêu chí tĩnh (Fixed parameters): là các tiêu chí có tính chất ổn định trong
khoảng thời gian nhất định. Tiêu chí này xác định khả năng và mức độ rủi ro
bằng cách áp dụng các phương pháp tính toán dựa trên cơ sở thông tin do cơ
quan hải quan thu thập, phân tích .
Tiêu chí tĩnh xác định trước khả năng xảy ra rủi ro (pre-determined risk
values) dựa trên thang điểm và cơ sở dữ liệu do hải quan thu thập, được đánh giá
định kỳ và cập nhật cho các Cục, Chi cục hải quan địa phương sử dụng. Khi cán
bộ hải quan tại khâu đăng ký nhập tờ khai hải quan (hoặc cập nhật bằng phương
thức khai điện tử) vào hệ thống máy tính, máy tính sẽ trợ giúp cán bộ hải quan
trong việc kiểm tra đối chiếu giữa các tiêu chí trên tờ khai với tiêu chí tĩnh và
tính toán để xác định mức độ rủi ro theo công thức toán học có sẵn để đưa ra
điểm rủi ro chung, là căn cứ để xác định mức độ kiểm tra thực tế hàng hóa.
11
Thu hoạch thực tập
2.1.2. Phân tích và xác định mức độ rủi ro
* Sơ đồ các bước tiến hành xác định rủi ro của một lô hàng:
Nguồn: Tổng cục Hải quan - Quyết định số 2148/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2005
Bước 1: Xác định mức độ rủi ro thông qua nhóm các tiêu chí động
Qua bước này có thể xác định được các thông tin như:
Doanh nghiệp được ưu tiên làm thủ tục hải quan (thông tin về các doanh
nghiệp được cấp thẻ ưu tiên do chấp hành tốt pháp luật hải quan được cập nhật
12
Tham
số
động
Tham
số
có bị cưỡng chế làm thủ tục hải quan hay không)
Doanh nghiệp được ân hạn thuế hay không dựa vào thông tin về tình trạng
nợ thuế của doanh nghiệp. Nếu nợ thuế quá hạn theo quy định của pháp luật, các
lô hàng làm thủ tục hải quan tiếp theo của doanh nghiệp sẽ không được tiếp tục
hưởng thời gian ân hạn thuế.
Lô hàng có thuộc diện phải kiểm tra thực tế theo quy định của pháp luật
hay không
Bước 2: Xác định mức độ rủi ro thông qua nhóm các tiêu chí tĩnh:
Đối với những lô hàng không thuộc diện ưu tiên và không phải kiểm tra
thực tế đã xác định ở bước 1, thông tin về lô hàng tiếp tục được tính toán mức độ
rủi ro dựa trên các tiêu chí rủi ro tĩnh. Cụ thể như sau:
Dựa trên tiêu chí khai báo của doanh nghiệp, đối chiếu với cơ sở dữ liệu
các đối tượng rủi ro đã được tính toán trước (thông tin được truyền từ Tổng cục
Hải quan xuống các đơn vị địa phương), hệ thống máy tính sẽ tự động tính mức
độ rủi ro của từng tiêu chí. Mức độ rủi ro tổng thể của tập hợp tất cả các tiêu chí
tĩnh tương ứng với một lô hàng cụ thể được tính toán dựa trên công thức sau:
∑
=
=
n
i
i
kK
1
∑
=
=
n
i
ii
Các tiêu chí rủi ro của doanh nghiệp: mức điểm cho đối với từng tiêu chí
từ 3 đến 80 (tuỳ theo mức độ rủi ro của từng tiêu chí).
* Các nhóm tiêu chí khác cho điểm theo 03 mức: rủi ro cao: 03 điểm, rủi
ro trung bình: 02 điểm, rủi ro thấp: 01 điểm.
Ngoài ra, bằng các công cụ phân tích rủi ro chung như phân tích tỷ số,
phân tích chuỗi thời gian, phân tích hồi quy và phân tích tương quan… ,cơ quan
hải quan so sánh kết quả đánh giá rủi ro thu được với định mức trung bình của rủi
ro có thể chấp nhận được để nhận biết đối tượng có tiềm năng rủi ro cao, các yếu
tố bất thường phát sinh và phân lô hàng vào một trong các hình thức kiểm tra
sau:
Lô hàng thuộc diện kiểm tra thực tế (luồng đỏ)
Lô hàng thuộc diện kiểm tra chi tiết hồ sơ (luồng vàng)
Chuyển qua bước 3 xác định lô hàng kiểm tra ngẫu nhiên
Bước 3: Những lô hàng không thuộc diện 1 và 2 trong bước 2 ở trên sẽ
được lấy ngẫu nhiên theo hàm toán học. Kết quả ở bước này sẽ lựa chọn và tiếp
tục phân loại các lô hàng thành 2 diện:
Lô hàng không phải kiểm tra thực tế và kiểm tra chi tiết hồ sơ (luồng
xanh)
Lô hàng thuộc diện phải kiểm tra ngẫu nhiên.
14
Thu hoạch thực tập
Tiêu chí lấy ngẫu nhiên lô hàng để kiểm tra (Random parameters): thông
qua hàm toán học đã được xây dựng và cài đặt sẵn trong máy tính, hệ thống máy
tính sẽ tự động lọc tờ khai phát sinh trong ngày tại đơn vị làm thủ tục hải quan và
đưa ra lô hàng phải kiểm tra thực tế một cách ngẫu nhiên. Tại mỗi đơn vị có thể
số lượng lô hàng phải kiểm tra khác nhau, tiêu chí lựa chọn cũng khác nhau, tùy
theo tình hình thực tế, nhưng tỷ lệ kiểm tra ngẫu nhiên không quá 5% tổng số tờ
khai làm thủ tục hải quan trong ngày và tỉ lệ hàng hóa kiểm tra không quá 5% lô
hàng phải kiểm tra thực tế.
Bước 4: Hàng hóa sau khi thông quan sẽ được tiến hành kiểm tra sau
nhập khẩu hàng hoá, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ và các quy định khác có
liên quan.
* Hàng hóa thuộc luồng đỏ: gồm hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của chủ
hàng nhiều lần vi phạm pháp luật về hải quan hoặc hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu thuộc diện miễn kiểm tra thực tế nhưng cơ quan Hải quan phát hiện có dấu
hiệu vi phạm pháp luật hải quan; hàng hóa qua kết quả phân tích thông tin của cơ
quan hải quan xác định có khả năng vi phạm pháp luật hải quan, hàng hóa thuộc
diện phải kiểm tra ngẫu nhiên. Hàng hóa thuộc diện này ngoài việc phải kiểm tra
chi tiết hồ sơ như đối với hàng hóa luồng vàng còn phải chịu sự kiểm tra thực tế
hàng hóa toàn bộ hay theo tỷ lệ, tùy theo mức độ rủi ro được đánh giá và được
thực hiện trực tiếp bởi các cán bộ hải quan được phân công kiểm hóa.
2.2 Đánh giá hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro vào quy trình thủ tục hải quan
của Chi cục hải quan Bắc Hà Nội
2.2.1. Các kết quả đạt được
* Quy trình thủ tục hải quan mới được đánh giá là hiện đại, phù hợp
với quy định, chuẩn mực trong các công ước quốc tế nhằm hướng tới một môi
trường lành mạnh, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, là điểm đến hấp dẫn đối
với các nhà đầu tư và du khách nước ngoài. Việc cải cách thủ tục theo hướng
quản lý rủi ro đã mang lại những lợi ích to lớn cho cộng đồng doanh nghiệp, môi
trường hoạt động xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và du lịch.
Năm 2007, Chi cục làm thủ tục cho 11.500 tờ khai XNK với tổng kim
ngạch đạt 480 triệu USD; làm thủ tục cho 24 cuộc triển lãm với tổng số 140 tờ
khai, tổng trị giá là 3,99 triệu USD.
Năm 2008, trong công tác chuyên môn nghiệp vụ, Chi cục đã làm thủ tục
hải quan cho 23.246 bộ tờ khai XNK (gấp hơn hai lần năm 2006), với kim ngạch
XNK đạt 1,26 tỷ USD (tăng hơn 93% so với năm 2006), tỷ lệ kiểm tra hàng hoá
rút xuống còn 20%. Từ đầu năm 2007, Chi cục đã triển khai thực hiện khai báo
điện tử qua mạng.
16
Thu hoạch thực tập
quy trình thủ tục hải quan, thời gian thông quan hàng hóa nhanh hơn, các chi phí
lưu kho, lưu bãi phát sinh do thời gian làm thủ tục xuất nhập khẩu bị kéo dài đã
giảm đáng kể.
Nếu trước đây, thời gian làm thủ tục khai báo hải quan trung bình cho một
lô hàng xuất khẩu phải mất từ 02 đến 03 giờ thì nay còn tối thiểu là 20 phút, tối
đa không quá 40 phút, và thời gian tối thiểu đối với lô hàng nhập khẩu là 30 phút
và tối đa không quá 60 phút, thay vì phải mất 1 ngày làm thủ tục, hoặc nhiều
hơn, vì hầu hết hàng hóa đã được miễn kiểm tra thực tế. Năm 2008, trong tổng số
24.324 tờ khai loại hình xuất nhập khẩu bằng đường biển tại Chi cục, có 21.082
tờ khai được miễn kiểm tra thực tế hàng hóa (chiếm 86% tổng số tờ khai).
* Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu tuân thủ các
quy định của pháp luật.
Áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan, Chi
cục tiến hành phân luồng hàng hóa dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật của doanh
nghiệp và tính chất hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm khuyến khích các đối tượng
tham gia xuất nhập khẩu nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Doanh nghiệp được
đánh giá là tuân thủ pháp luật tốt sẽ được tạo môi trường thuận lợi tối đa, được
ưu tiên làm thủ tục hải quan đơn giản và nhanh hơn các doanh nghiệp khác.
Theo thống kê của Chi cục, trong năm 2008, đã có trên 28.524 tờ khai hải
quan làm thủ tục xuất nhập khẩu, trị giá tương đương 1.581 triệu USD, trong đó,
số lô hàng phải kiểm tra chi tiết hồ sơ (luồng vàng) chiếm 15,4%; các lô hàng
được ưu tiên làm thủ tục hải quan, không phải kiểm tra thực tế và kiểm tra chi
tiết hồ sơ (luồng xanh) chiếm 70,2%. Tức là có tới 85,6% lượng hàng hóa xuất
nhập khẩu được miễn kiểm tra thực tế (trong đó, khoảng 90% hàng hóa xuất
khẩu được miễn kiểm), chỉ có một lượng nhỏ khoảng 14,4% hàng hóa phải chịu
sự kiểm tra của cơ quan hải quan, thay vì 80% hàng hóa nhập khẩu và khoảng
20% hàng hóa xuất khẩu phải kiểm tra thực tế như trước đây.
Rõ ràng, kết quả trên cho thấy phương pháp quản lý mới tại Chi cục hải
quan Bắc Hà Nội đã tạo môi trường quản lý đơn giản, thuận lợi, minh bạch hơn
và nhận được sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp. Hơn nữa, nó còn
với xu hướng quản lý hải quan hiện đại. Ban lãnh đạo Chi cục đã mạnh dạn đề
xuất và áp dụng những phương pháp quản lý mới, vừa không sai chế độ, chính
sách, quản lý được hàng hoá XNK vừa tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp.
19
Thu hoạch thực tập
Bên cạnh những kết quả thu được, quá trình thực hiện quy trình quản lý
rủi ro cũng bộc lộ nhiều điểm bất cập cả về chính sách và con người, gây ảnh
hưởng đến chất lượng, hiệu quả triển khai và mục tiêu đặt ra.
2.2.2 Một số vấn đề tồn tại
Về văn bản quy phạm pháp luật:
Hải quan là cơ quan quản lý nhà nước về các lĩnh vực hải quan. Công cụ
hỗ trợ công việc quan trọng nhất là hệ thống văn bản pháp luật. Tuy nhiên, các
văn bản hướng dẫn Luật còn nhiều, chồng chéo, không thống nhất và thường
xuyên thay đổi. Đối với các cơ quan thực thi pháp luật, cụ thể là các Chi cục hải
quan đại phương, các quy định của luật pháp càng chặt chẽ, rõ ràng thì càng có
nhiều thuận lợi trong việc triển khai công việc quản lý. Mặt khác, tính hiệu quả,
thiết thực, phù hợp với thực tiễn của các quy phạm pháp luật còn thể hiện trách
nhiệm, tính nghiêm túc của người soạn thảo văn bản. Nếu luật pháp thay đổi
thường xuyên sẽ gây khó khăn không chỉ cho những người làm nhiệm vụ quản lý
nhà nước, mà các đối tượng chịu sự quản lý đó cũng gặp không ít phiền phức.
Về quy định phân luồng hàng hóa:
Một số quy định trong Luật và các văn bản hướng dẫn quy trình thủ tục
hải quan, phân luồng hàng hóa còn cứng nhắc, khi nêu rõ nguyên tắc thực hiện
chỉ được điều chỉnh từ thấp lên cao (từ luồng xanh sang luồng vàng, luồng đỏ, từ
luồng vàng sang luồng đỏ), từ tỷ lệ kiểm tra ít sang tỷ lệ kiểm tra nhiều hoặc
kiểm tra toàn bộ chứ không được điều chỉnh theo hướng ngược lại, trừ trường
hợp máy tính xác định sai, nhưng khái niệm thế nào là xác định sai thì không
được đề cập đến và các biện pháp, cách thức xác định rủi ro phát sinh để kiểm tra
ngược lại máy tính cũng chỉ được phổ biến một cách chung chung tới các cán bộ
làm nghiệp vụ trực tiếp.
Về nguồn nhân lực quản lý rủi ro:
Áp dụng phương pháp quản lý rủi ro hiện đại, Chi cục rất cần những con
người mới có tư duy thay đổi kịp thời với phương thức quản lý mới. Ngoài ra,
quản lý rủi ro rất cần những cán bộ có khả năng thu thập và phân tích các thông
tin về rủi ro trong hệ thống cơ sở dữ liệu để các bước tiếp sau trong quy trình có
cơ sở làm việc. Mặt khác, các cán bộ công chức tiếp xúc trực tiếp với đối tượng
rủi ro cũng rất cần có tư duy phân tích để kiểm tra ngược lại tính chính xác các
kết quả phân tích rủi ro do máy tính đưa ra. Nhưng thực tế cho thấy khả năng thu
21
Thu hoạch thực tập
thập, phân tích và xử lý thông tin về rủi ro của các cán bộ công chức làm nghiệp
vụ trực tiếp còn thấp. Tổng cục Hải quan vẫn chưa tổ chức được nhiều tập huấn
chính thức đào tạo về lĩnh vực này cho các cán bộ công chức. Tại Chi cục, hiện
mới có 5 đồng chí được đi học lớp huấn luyện về quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải
quan.
Về hệ thống công nghệ thông tin
Phân tích thông tin, phân luồng rủi ro hoạt động chủ yếu dựa vào hệ thống
công nghệ thông tin. Đó có thể được coi là công cụ chiến lược khi triển khai
phương pháp quản lý mới. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tiên
tiến sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục hải quan, tăng mức độ minh bạch, khách quan,
loại bỏ những cơ hội lạm dụng quyền hành trái phép của công chức hải quan,
đảm bảo áp dụng nghiêm các quy trình thủ tục chuẩn mực đã được quốc tế công
nhận.
Tuy nhiên, hệ thống phần mềm máy tính hiện nay hoạt động chưa ổn định,
còn mắc lỗi và đang trong quá trình hoàn thiện, nâng cấp như các lỗi về phân
luồng hàng hóa, về sự đồng bộ, thống nhất giữa các chương trình phần mềm đa
chức năng quản lý số liệu, dữ liệu, thông tin về hàng hóa và doanh nghiệp xuất
nhập khẩu, các yêu cầu khai thác thông tin từ hệ thống quản lý vẫn chưa đáp ứng
được thực tế… Đường truyền dữ liệu giữa Tổng cục và các Cục hải quan với Chi
cục cũng chưa thật sự ổn định, băng thông còn hạn chế nên nhiều khi xảy ra tình
thông quan hàng hóa tai Chi cục nói riêng và toàn ngành Hải quan nói chung.
Những hạn chế phân tích ở trên là những tồn tại chung,không chỉ tại Chi cục hải
quan Bắc Hà Nội, rất mong các nhà quản lý rủi ro của ngành hải quan sớm nhận
biết được các hạn chế đó và cần sớm khắc phục để phương pháp này phát huy
được hiệu quả cao hơn.
23
Thu hoạch thực tập
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ RỦI RO TẠI CHI CỤC HẢI QUAN BẮC HÀ NỘI
Với những vấn đề còn tồn tại đã nêu tại mục 2.3.3.2 chương 2, trong phạm vi
đề tài này, tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro
tại Chi cục hải quan Bắc Hà Nội. Cụ thể như sau:
3.1. Xây dựng chiến lược quản lý sự thay đổi theo hướng quản lý rủi ro
Trước sự phát triển nhộn nhịp và biến động thường xuyên của hoạt động
thương mại quốc tế, Chi cục phải có những thay đổi kịp thời để thích nghi và không
bị tụt hậu. Vì vậy, dù phải đối mặt với khối lượng công việc rất lớn từ chuẩn bị nhân
sự, nguồn lực… nhưng xây dựng chiến lược quản lý sự thay đổi là việc làm thiết
thực và cần tiến hành ngay để phát huy tối đa những lợi ích thay đổi đó. Trước hết,
chiến lược quản lý sự thay đổi cần phải tập trung vào các vấn đề sau:
3.1.1. Xây dựng quy trình thủ tục hải quan hiện đại
Điều quan trọng trong việc xây dựng các quy trình thủ tục hải quan hiện đại
là phải đơn giản hóa cho cả cơ quan hải quan và các bên có liên quan, tạo thuận lợi
cho hải quan, nhưng không được gây khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp. Quá
trình này không dễ dàng, Chi cục cần có kiến nghị, đề xuất để nhận được sự hỗ trợ
từ Cục hải quan Thành phố Hà Nội, Tổng cục Hải quan và nhiều cơ quan, tổ chức
cá nhân có liên quan.
Thứ nhất, có thể đơn giản hóa thủ tục bằng cách cho phép doanh nghiệp
được thông quan hàng hóa trước khi hàng đến. Dựa trên cơ sở tự đánh giá, các
doanh nghiệp tuân thủ khai báo hồ sơ, giải quyết các vấn đề vướng mắc trước khi
kiến thức mới như kỹ thuật quản lý rủi ro, phương pháp thu thập và phân tích thông
tin doanh nghiệp…. . Chi cục cần thanh lập một bộ phận chuyên trách về quản lý rủi
ro, thu thập phân tích thông tin và thường xuyên tiến hành tổ chức đào tạo về quản
lý rủi ro cho tất cả các cán bộ tại Chi cục. Hiện Chi cục đã có 5 cán bộ được tham
gia khóa đào tạo về quản lý rủi ro của Tổng cục Hải quan. 5 cán bộ này sẽ là lực
lượng nòng cốt, chịu trach nhiệm chính trong việc lập kế hoạch, xây dựng hệ thống
quản lý rủi ro, kế hoạch triển khai trong toàn Chi cục. Đồng thời, 5 cán bộ này sẽ
25