Quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chi cục hải quan hồng lĩnh - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

HOÀNG THỊ LIỆU

QUẢN LÝ RỦI RO
ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
TẠI CHI CỤC HẢI QUAN HỒNG LĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG ỨNG DỤNG

Hà Nội – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

HOÀNG THỊ LIỆU

QUẢN LÝ RỦI RO
ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
TẠI CHI CỤC HẢI QUAN HỒNG LĨNH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG ỨNG DỤNG




MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG...........................................................................................i
DANH MỤC HÌNH VẼ ............................................................................................. ii
PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
CHƢƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CƠ QUAN
HẢI QUAN .................................................................................................................4
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ......................................................................4
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cơ quan
hải quan ...................................................................................................................6
1.2.1. Khái niệm về rủi ro ...................................................................................6
1.2.2. Khái niệm rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu ...................................7
1.2.3. Khái niệm về quản lý rủi ro đối với hoạt động xuất nhập khẩu của doanh
nghiệp tại cơ quan hải quan..............................................................................10
1.2.4. Nội dung quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cơ quan
hải quan ............................................................................................................11
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất
nhập khẩu .........................................................................................................23
1.2.6. Tiêu chí quản lý rủi ro.............................................................................29
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................32
2.1. Nguồn tƣ liệu và số liệu .................................................................................32
2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng ..................................................33
2.2.1. Phương pháp phân tích ...........................................................................33
2.2.2. Phương pháp tổng hợp ............................................................................34
2.2.3. Phương pháp so sánh ..............................................................................34
2.2.4. Phương pháp phân tích thống kê ............................................................35
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT
NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN HỒNG LĨNH .......................................36

4.2.5. Đầu tư cơ sở vật chất cần thiết cho quản lý rủi ro .................................76


4.2.5. Tăng cường quan hệ phối hợp và hợp tác quốc tế trong quản lý rủi ro .77
KẾT LUẬN ...............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................80


DANH MỤC CÁC BẢNG
STT

Bảng

Nội dung

Trang

Số lƣợng nhân viên thực hiện nghiệp vụ quản lý rủi ro
1

Bảng 3.1

tại Chi cục Hải quan Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh giai đoạn

46

2014 - 2016
Số lƣợng nhân viên đƣợc tham gia đào tạo, huấn luyện
2



Bảng 3.7

8

Bảng 3.8

Kim ngạch XNK hàng hóa qua các năm của Chi cục Hải
quan Hồng Lĩnh giai đoạn 2014 – 2016
Số lƣợng tờ khai XNK Chi cục Hải quan Hồng Lĩnh giải
quyết trong giai đoạn 2014 - 2016
Giá trị nộp ngân sách Nhà nƣớc của Chi cục Hải
quanHồng Lĩnh giai đoạn 2014 – 2016
Mô hình phân cấp quản lý rủi ro theo 03 cấp
Tình hình phân luồng kiểm tra hải quan tại Chi cục Hải
quan Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh giai đoạn 2014 - 2016

50

51

51
55
60

Tình hình phát hiện vi phạm nhờ áp dụng quản lý rủi ro
9

Bảng 3.9


11
19


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hiện nay, hội nhập về kinh tế, thƣơng mại, toàn cầu hóa, tạo
thuận lợi thƣơng mại đã trở thành một yêu cầu tất yếu với các quốc gia.Việt Nam
đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, chịu sự tác động của các
mối quan hệ ngoại thƣơng ngày càng đa dạng, phức tạp hơn. Hải quan đƣợc ví nhƣ
“ngƣời gác cổng nền kinh tế” vừa tạo thuận lợi thông thoáng hoạt động thƣơng mại
- đầu tƣ - du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế; nhƣng phải kiểm soát đƣợc
buôn lậu, gian lận thƣơng mại, bảo vệ chủ quyền kinh tế, an ninh quốc gia và an
toàn xã hội. Tuy nhiên, khối lƣợng hàng hóa thƣơng mại qua lại biên giới ngày càng
lớn, chủng loại hàng hóa thay đổi và đa dạng hơn, trong khi nguồn lực tăng cƣờng
cho hải quan không tƣơng xứng, đã buộc hải quan Việt Nam phải hiện đại hóa
nhanh mới có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, trong trào lƣu toàn cầu hóa,
hải quan Việt Nam không chỉ thực thi chức năng kiểm soát ngoại thƣơng, thu ngân
sách nhà nƣớc, mà còn phải đáp ứng yêu cầu tạo thuận lợi cho thƣơng mại. Những
yêu cầu đó càng gây sức ép buộc hải quan Việt Nam phải hiện đại hóa nhanh. Để
giải quyết vấn đề này, ngành Hải quan đang từng bƣớc thực hiện cải cách và hiện
đại hóa để nâng cao năng lực quản lý, chất lƣợng phục vụ của Hải quan nhằm tạo
thuận lợi cho các hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung của doanh nghiệp.
Một trong những nội dung cải cách, hiện đại hóa hoạt động hải quan của Việt
Nam, là áp dụng phƣơng thức quản lý rủi ro (quản lý rủi ro) vào quá trình quản lý
hàng hóa XNK. Quản lý rủi ro cho phép hải quan tập trung nguồn kiểm soát các đối
tƣợng có mức rủi ro cao, nhờ đó vừa tạo điều kiện cho hàng hóa thông quan nhanh,
vừa thực thi đƣợc chức năng kiểm soát hiệu quả của Nhà nƣớc.
Tổng cục Hải quan Việt Nam đã bắt đầu áp dụng quản lý rủi ro vào công tác
nghiệp vụ, nhất là từ ngày 01 tháng 01 năm 2006, khi Luật Hải quan sửa đổi có hiệu


Phân tích thực trạng quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục
Hải quan Hồng Lĩnh trong giai đoạn 2014-2016. Từ đó đánh giá những thành
tựu đạt đƣợc và những tồn tại, hạn chế cũng nhƣ nguyên nhân của hạn chế
trong việc quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan
Hồng Lĩnh.

-

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất
nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Hồng Lĩnh trong thời gian từ năm 2018-2025.

2


3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu: Quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi
cục Hải quan Hồng Lĩnh.
* Phạm vi nghiên cứu:
-

Về không gian: Nghiên cứu thực trạng áp dụng hệ thống quản lý rủi ro đối với
hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Hồng Lĩnh.

-

Về thời gian: Các số liệu đƣợc thu thập trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm
2016.

4. Kết cấu luận văn

ngành Hải quan Việt Nam, Luận văn thạc sĩ của Trƣờng Đại học Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh. Đề tài đã hệ thống những vấn đề lý luận về quản lý rủi ro trong lĩnh
vực Hải quan. Tác giả Nguyễn Văn chớp đã phân tích thực trạng quản lý rủi ro của
Hải quan Việt Nam, nêu bật đƣợc quá trình phát triển cũng nhƣ những kết quả đạt
đƣợc và những tồn tại của việc thực hiện quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan Việt
Nam. Từ đó, đƣa ra hệ thống giải pháp tăng cƣờng quản lý rủi ro nhằm nâng cao
hiệu quả công tác của Hải quan Việt Nam.
- Vũ Ngọc Anh (2010): Nâng cao hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực
nghiệp vụ Hải quan, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành. Là một lãnh đạo cao cấp của
Tổng cục hải quan, Tiến sĩ Vũ Ngọc Anh đã có cái nhìn toàn diện và sâu sắc. Đề tài là
những nội dung chi tiết, cụ thể về những vấn để liên quan đến quản lý rủi ro.
- Quách Đăng Hòa (2009): Nghiên cứu, xây dựng khung tiêu chuẩn Quản lý
rủi ro của Hải quan Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành. Hiện nay,
Ông Quách Đăng Hòa Trƣởng ban quản lý rủi ro – Tổng cục Hải quan, với nhiều
năm kinh nghiệm, Đề tài là tài liệu tổng hợp các văn bản, nghiệp vụ về Quản lý rủi
ro của Hải quan Việt Nam.
- Trung tâm Nghiên cứu Thuế và Hải quan, Đại học Canberra (2004):Giới
thiệu phương pháp quản lý rủi ro trong bối ý cao cấp cho ngành Hải quan Việt
Nam. Nêu ra các đặc điểm chung của các phƣơng pháp quản lý rủi ro trên thế giới
và cách áp dụng phù hợp với những đặc thù của ngành Hải quan Việt Nam.( Bỏ)
- Ngô Duy Tùng (2014): Một số giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro trong
hoạt động quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Phước đến

4


năm 2020, Luận văn thạc sĩ của trƣờng Đại học Lạc Hồng. Tác giả đã đƣa ra đƣợc
thực trạng, quá trình áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện hoạt động quản lý hàng
hóa xuất nhập khẩu cũng nhƣ các giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro nói
chung đến năm 2020.( Thêm vào).

điều đó đồng nghĩa Việt Nam có nhiều cơ hội thu hút đầu tƣ của nƣớc ngoài hơn,
đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và áp dụng phƣơng pháp quản lý rủi ro trong
lĩnh vực Hải quan của thế giới.
- Trần Thị Bảo Quế (2016): Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế Quốc
tế, Luận văn thạc sĩ của Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Hà Nội. Đây là đề tài mang
tính thực tiễn rất cao, có thể áp dụng thiết thực vào những nghiệp vụ quản lý rủi ro
hải quan nói chung và doanh nghiệp nói riêng, đề tài phân tích cụ thể Quản lý rủi ro
trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt nam từ góc
nhìn các doanh nghiệp.
Các nghiên cứu trên đã đánh giá tầm quan trọng cũng nhƣ sự cần thiết của quản
lý rủi ro trong hoạt động Hải quan nhƣng mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh mang
tính khởi đầu của việc áp dụng hệ thống quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải
quan, mà chƣa có nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề hoàn thiện quản lý rủi ro đối với
hoạt động xuất nhập khẩu. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cùng với
quá trình toàn cầu hóa thì phƣơng pháp quản lý rủi ro hiện đại cần phải có những thay
đổi cho phù hợp với tình hình thực tế. Vì vậy nên tác giả sẽ kế thừa các điểm đã đạt
đƣợc của các nghiên cứu trên và tiếp tục nghiên cứu để hoàn thành đề tài “quản lý rủi
ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Hồng Lĩnh” của mình.
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cơ
quan hải quan
1.2.1. Khái niệm về rủi ro
Rủi ro là một khái niệm phổ biến, hầu nhƣ ai cũng có thể biết đến phạm trù
này.Tuy nhiên lại không có một quan điểm thống nhất nào về rủi ro. Những trƣờng
phái khác nhau, các tác giả khác nhau đƣa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.
Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, có thể kế đến nhƣ:

6



1.2.2. Khái niệm rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu
* Khái niệm về hoạt động xuất nhập khẩu
Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá đƣợc đƣa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
hoặc đƣa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật. Xuất khẩu mang lại nguồn thu nhập ngoại
tệ quan trọng, góp phần đáng kể trong việc cải thiện cán cân ngoại thƣơng và cán
cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối, đẩy mạnh nhập khẩu, phát huy đƣợc lợi thế so
sánh, là một tiền đề quan trọng giúp chuyển dịch về chất từ cơ cấu nông - công
nghiệp sang cơ cấu công - nông nghiệp… đƣa nền kinh tế nƣớc ta hoà nhập vào sự
phát triển chung của kinh tế khu vực và thế giới.

7


Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá đƣợc đƣa vào lãnh thổ Việt Nam từ
nƣớc ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu
vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Nhập khẩu làm cho thị trƣờng trong
nƣớc dồi dào, phong phú hơn, giải quyết đƣợc tình trạng khan hiếm hàng hoá trên
thị trƣờng, điều hoà quan hệ cung cầu tạo môi trƣờng cạnh tranh, kích thích ngƣời
sản xuất trong nƣớc phải cải tiến, hoàn thiện chất lƣợng mẫu mã bao bì của sản
phẩm đáp ứng đƣợc nhu cầu cao của ngƣời tiêu dùng…
Nhƣ vậy, XNK hàng hoá là hoạt động buôn bán hàng hoá ở phạm vi quốc tế,
bao gồm nhiều khâu, từ nghiên cứu tiếp cận thị trƣờng trong và ngoài nƣớc để lựa
chọn đƣợc mặt hàng XNK, đối tác kinh doanh sau đó tiến hành giao dịch ký kết hợp
đồng, tổ chức thực hiện hợp đồng, cuối cùng là hoàn thành các thủ tục thanh toán và
thanh lý hợp đồng.
*Khái niệm rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu
Kinh doanh XNK là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro và mạo hiểm do đặc
thù của hoạt động này bởi sự xa cách về mặt địa lý, sự khác biệt về môi trƣờng
kinh doanh, chính trị và văn hoá...

có thể trở thành hiện thực hoặc không, khả năng rủi ro có thể biến thành thế này hay
thế khác, chỉ có thể dự đoán nó xảy ra hay không trong giới hạn thời gian và không
gian, nó có khả năng xảy ra nhƣng cũng có thể không xảy ra. Nếu rủi ro không có
tính khả năng thì bảo hiểm không ra đời và không ai phải lo sợ trƣớc rủi ro.
-

Rủi ro có tính tương lai.
Rủi ro có tính tƣơng lai vì khi bàn đến rủi ro nghĩa là nó chƣa xảy ra, con

ngƣời chỉ dự đoán, đo lƣờng trƣớc trong tƣơng lai, ở thời điểm ta dự báo rủi ro
chƣa xảy ra. Căn cứ vào tính khả năng và tính tƣơng lai của rủi ro, ngƣời ta có thể
“kinh doanh rủi ro”- bảo hiểm.
-

Rủi ro có tính lịch sử.
Rủi ro mang tính lịch sử, ứng với mỗi giai đoạn nhật định, mỗi chủ thể doanh

nghiệp cụ thể, rủi ro mang tính riêng biệt.Hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc vào
sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, với sử tham gia của nhiều nền kinh tế khác
nhau trên thế giới. Do đó, rủi ro xuất nhập khẩu mang tính lịch sử. Đặc trƣng của
những rủi ro này luôn thay đổi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế,
ví dụ nhƣ khi nên khoa học kỹ thuật, công nghệ càng phát triển, kỹ thuật đóng tàu
hiện đại hơn với những con tàu an toàn hơn, khắc phục nhiều hơn yếu tố rủi ro thiên
tai đối với vận tải biển, song đồng thời cũng mở ra nhiều hình thức thƣơng mại mới,
thanh toán mới và nảy sinh những loại rủi ro mới.
** Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK:Có nhiều tiêu chí để phân loại
rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK, chẳng hạn nhƣ:
-

Theo tính chất của rủi ro: Rủi ro suy đoán và Rủi ro thuần tuý.

WCO phát triển thành những chuẩn mực chung và khuyến nghị hải quan các
nƣớc thành viên áp dụng tại “Công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục
hải quan”1. Tiếp cận theo phƣơng pháp quản lý hải quan hiện đại,quản lý rủi ro
đƣợc hiểu là việc ứng dụng có hệ thống các chính sách, thủ tục vàthông lệ vào các
lĩnh vực quản lý Nhà nƣớc về hải quan, nhằm tạo ra cơ chế hoạt động đồng bộ,
hiệu quả trong việc phát hiện và xử lý các vi phạm. Đồng thời, qua đó tạo ra môi
trƣờng và các điều kiện cho việc tự nguyện tuân thủ, hạn chế tối thiểu các vi phạm
pháp luật hải quan.
Nhƣ vậy, “Quản lý rủi ro là việc cơ quan hải quan áp dụng hệ thống các biện
pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm
cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ
hải quan khác có hiệu quả”(Theo Luật Hải quan).
Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra, giám
sát hải quan đối với hàng hóa, phƣơng tiện vận tải; hỗ trợ hoạt động phòng, chống
buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm việc thu thập, xử
lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật
của ngƣời khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro; tổ chức thực hiện các biện pháp
quản lý hải quan phù hợp.Cơ quan hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin
nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro
trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.

10


Khi đã thực hiện đúng các quy định và quy trình nhƣng không phát hiện đƣợc
vi phạm pháp luật về hải quan thì công chức hải quan thực hiện thủ tục hải quan,
kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh,
phƣơng tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy trình quản lý rủi ro
đƣợc miễn trừ trách nhiệm cá nhân.

Đối với những doanh nghiệp thuộc diện đƣợc cấp thẻ ƣu tiên đặc biệt về thủ
tục hải quan thì thực hiện theo quy định riêng.
Với quy trình mới này, hàng hóa của các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp
luật hải quan sẽ đƣợc tạo điều kiện thông quan nhanh, chi phí thực hiện thủ tục hải
quan giảm, nhờ đó vừa tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thƣơng mại quốc tế, vừa
khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật. Đồng thời cơ quan hải quan cũng tập
trung đƣợc nguồn lực có hạn của mình vào kiểm soát các đối tƣợng có truyền thống
không tuân thủ pháp luật hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Hơn nữa, sự phân loại
tờ khai theo luồng xanh,vàng, đỏ chủ yếu dựa trên cơ sở thông tin của cơ quan hải
quan nên cho phép hải quan vừa chủ động kiểm soát doanh nghiệp, vừa rút ngắn thời
gian thông quan cho các doanh nghiệp chấp hành tốt, vừa giảm thiểu chi phí kiểm
tra hải quan.
Tuy nhiên, quy trình thủ tục hải quan đối với hàng XNK dựa trên cơ sở áp
dụng quản lý rủi ro cũng đòi hỏi những điều kiện nhất định nhƣ hệ thống thông tin
đƣợc thu thập, lƣu trữ đầy đủ, hệ thống cập nhật về doanh nghiệp và các chuyến
hàng; sự phối hợp giữa các cơ quan hải quan và giữa cơ quan hải quan với cơ quan
quản lý nhà nƣớc khác; đƣợc sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp…
1.2.4.2. Quản lý rủi ro theo trình tự thủ tục hải quan
* Xác định rủi ro trong xuất, nhập khẩu hàng hóa

12


+Nhận diện rủi ro trong quản lý hải quan
Trong ngành hải quan, ngƣời ta định nghĩa rủi ro là sự không tuân thủ
pháp luật của các chủ thể kinh tế khi xuất nhập khẩu hoặc quá cảnh qua biên
giới.Ví dụ, Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) cho rằng, rủi ro là sự không tuân
thủ pháp luật về hải quan. Theo quan điểm của Hải quan Việt Nam, rủi ro trong
hoạt động nghiệp vụ hải quan là nguy cơ tiềm ẩn hành vi không tuân thủ pháp
luật về hải quan trong thực hiện XNK, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh,

Loại rủi ro này xảy ra do chủ hàng cố ý khai báo hàng hóa không đúng với trị
giá giao dịch thực tế; áp sai thuế suất của hàng hóa để giảm số thuế phải nộp hoặc cố
tình chây ỳ, không nộp thuế theo quy định, thậm chí là thành lập những doanh
nghiệp "ma", thực hiện XNK một vài lô hàng, tiêu thụ nội địa, rồi tự giải thể để trốn
tránh nghĩa vụ nộp thuế. Rủi ro loại này cũng có thể xuất hiện do một số doanh
nghiệp không nắm vững pháp luật về thuế suất, nhập khẩu, nên không thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế đúng thời gian quy định.
- Rủi ro trong khâu thực hiện nghiệp vụ của nhân viên hải quan. Đây là các rủi
ro thƣờng gặp khi nhân viên hải quan phạm sai lầm trong tính thuế hoặc trong kiểm tra
lô hàng hóa XNK khiến chủ hàng có hội không tuân thủ pháp luật.
- Rủi ro trong khâu cung cấp thông tin. Đây là loại rủi ro xảy ra khi nhân
viên hải quan đƣợc cung cấp thông tin sai lạc dẫn đến định hƣớng sai hoạt động
kiểm tra.Trên thực tế, cơ quan hải quan không thể trực tiếp kiểm tra mọi lô hàng hóa
XNK mà chủ yếu kiểm tra dựa trên thông tin về nguy cơ không tuân thủ của chủ
hàng. Do đó, nếu thông tin không đầy đủ, không hệ thống, không cập nhật thì dễ dẫn
đến sự phán đoán sai, phí nguồn lực vào lô hàng không có vấn đề, bỏ qua lô hàng có
vấn đề, nhất là khi chủ hàng ranh ma cố tình đƣa tin lừa dối cơ quan hải quan.
Rủi ro này cũng liên quan đến thông tin sai lệch của hải quan cung cấp cho
chính phủ dẫn đến các quyết định chính sách sai lầm.
- Rủi ro bất khả kháng: Rủi ro do thiếu công nghệ và trang bị máy móc đủ
khả năng hỗ trợ cho công việc kiểm tra hoặc do ảnh hƣởng của thời tiết, thiên tai…
nên dẫn đến kết luận nhầm hoặc không phát hiện ra sai lệch trong chuyến hàng. Loại
rủi ro này có xác suất khá lớn, nhất là ở những nơi thiếu thốn trang bị, điều kiện
ngoại cảnh khó khăn và trong bối cảnh hàng hóa dễ thay đổi theo hƣớng ngày càng
đa dạng, tinh xảo, khó phát hiện thành phần hóa học và tính năng của chúng.
b. Nguyên nhân làm xuất hiện và gia tăng rủi ro trong quản lý hải quan
14


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động hải quan và có thể khái



Đặc biệt, số liệu thống kê không chính xác là nguyên nhân không chỉ của các quyết
định hải quan sai lầm mà còn gây ra nhiều rắc rối, tranh chấp về sau.
Việc thiếu các phƣơng tiện kiểm tra cần thiết khiến nhân viên hải quan buộc phải
bỏ qua các hành vi gian lận tinh vi do thiếu căn cứ để đƣa ra các chế tài theo luật.
Thứ tư, là nhóm nguyên nhân liên quan đến mặt tiêu cực của các chủ hàng
hóa vận chuyển qua biên giới. Đây là nhóm nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro buôn
lậu và buôn bán trái phép.
Do thuế quan là khoản thu khá lớn của Nhà nƣớc đánh vào giá trị hàng hóa,
nên nếu trốn đƣợc thuế, chủ hàng vừa có thể thu lợi lớn, vừa có thể hạ giá, bán hàng
hóa nhanh, chiến thắng đối thủ cạnh tranh nộp đủ thuế XNK. Chính vì thế, các chủ
hàng thƣờng xuyên nghiên cứu tìm mọi cách để có thể giảm nộp thuế cho Nhà
nƣớc.Chỉ cần cơ quan hải quan lơi lỏng là các chủ hàng tận dụng cơ hội trốn thuế.
Ngoài ra, trong xã hội có nhiều loại sản phẩm nếu cho tiêu dùng tự do có thể
gây hại đáng kể cho dân tộc, đất nƣớc nhƣ ma túy, vũ khí,… Do bị cấm đoán nên
giá cả các mặt hàng này trên thị trƣờng ngầm tăng vọt tạo điều kiện cho các chủ
hàng thu lợi lớn. Chính vì thế các tổ chức tìm mọi cách để qua mặt hải quan, kể cả
mua chuộc cán bộ.
*Đo lƣờng, Đánh giá mức độ rủi ro
Đo lường:
Việc đo lƣờng tuân thủ pháp luật về hải quan đƣợc thực hiện theo kế hoạch
hàng năm và theo các thang đo mức độ tuân thủ khác nhau: mức cao, trung bình
hoặc thấp. Trách nhiệm đo lƣờng tuân thủ đƣợc thực hiện theo phân cấp.
Cụ thể tại cấp Tổng cục, căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu quản lý hải quan theo
từng năm để xây dựng và ban hành bộ chỉ số và kế hoạch đo lƣờng tuân thủ; tổ chức
thực hiện và điều phối việc thực hiện theo kế hoạch đƣợc phê duyệt nhƣ nêu trên
đảm bảo việc bố trí có hiệu quả các nguồn lực, biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm
soát hải quan, kiểm tra sau thông quan và các biện pháp nghiệp vụ khác trong các
lĩnh vực xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status