Đặt vấn đề
Các bệnh lý về gan trong những năm gần đây có chiều hướng gia tăng,
chiếm tỷ lệ cao trong mô hình bệnh tậtvà làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khẻo
và tính mạng của con người. Đặc biệt ở các nước đang phát triển như nước ta,
các bệnh viêm gan virut A, B, C, D, xơ gan do rượu, ung thư gan… ngày càng
nhiều. Vì vậy việc chẩn đoán chính xác, theo dõi và tiên lượng các bệnh gan
là rất cần thiết. Cùng với các thông số hoá sinh đã được sử dụng trong chẩn
đoán cácb ệnh gan mật nh: Protein, Albumin, Bilirubin, AST, ALT… chúng
tôi tìm hiểu giá trị của enzym gamma glutamyl transferase (GGT) trong các
bệnh lý về gan.
GGT khu trú trên màng bào tương của các tế bào. Ở gan người lứon
enzym này tập trung tại các tiểu quản mật trong nhu mô gan, đặc biệt là phần
bờ của các tế bào biểu mô đường mật [8]. Ở người khoẻ mạnh, chỉ một lượng
nhỏ GGT tan trong tế bào gan, còn phần lớn gắn với màng, đặc biệt ở các
tếbào biểu mô tiểu quản mật và phân tiểu thuỳ trung tâm xoang của màng tế
bào gan và màng biểu mô của ống mật chủ. GGT trong huyết thanh có nguồn
gốc từ gan. Mặc dù một số cơ quan khác cũng có GGT, nhưng sự tăng GGT
không liên quan đến gan mật là không đáng kể và hiếm gặp [7].
Gan là cơ quan tham gia nhiều quá trình chuyển hoá của cơ thể, nên
trong tế bào gan có sự định khu khá phong phú các enzym, có loại có cả ở hai
nơi, vì vậy để đánh giá mức độ tổn thương tế bào cũng như qui mô tổn thương
dựa vào sự có mặt và mức độ tăng hoạt tính của enzym huyết thanh. Các xét
nghiệm enzym huyết thanh đánh giá các rối loạn chức năng gan cho phép
chẩn đoán xác định ở hầu hết các trường hợp. Vấn đề là nên chọn enzym nào
nếu nghi ngờ bệh về gan. Như đặc tính đều đặc hiệu cho gan, trong đó mỗi
enzym đại diện cho một loại tổn thương khác nhau của tế bào gan, do đó mỗi
enzym tăng cao đều phản ánh một tình trạng bệnh lý gan. Để cùng các bác sĩ
lâm sàng tìm hiểu về GGT, mét enzym gắn màng trong bệnh lý gan, chúng tôi
thực hiện đề tài này với mục tiêu:
1. Tìm hiểu sự biến đổi của enzym GGT trong một số bệnh gan
mật.
có nhiều điểm quan trọng: gan tổng hợp pipid cho gan, tổng hợp các
lipoprotein cho máu và acid tù do cho máu. Gan là nơi chủ yếu tổng hợp
phospholipid, quá trình tổng hợp này đóng vai trò quan trọng trong sự vận
chuyển mỡ ra k hái gan tránh ứ đọng mỡ trong gan. Nh vậy nếu chức năng
gan bị giảm dẫn đến giảm lipid huyết thanh và ứ đọng mỡ ở gan.
1.3. Chức năng chuyển hoá protid.
Gan tổng hợp protein cho gan và cho máu. Gan tổng hợp toàn bộ
albumin và một phần globulin cho huyết thanh, gan tổng hợp fibrinogen,
ferritin, và prothombin. Khi gan suy thì protein, albumin giảm, tỷ lệ các
globulin bị rối loạn biểu hiện trên sự thay đổi điện di và các phản ứng lên
bông. Gan cung cấp các acid amin tù do cho máu để cung cấp cho các cơ
quan khác tổng hợp protein.
Gan chứa nhiều acid glutamic và các enzym trao đổi amin nh AST
(SGOT) và ALT (SGPT), vì vậy quá trình trao đổi và khử amin xảy ra rất
mạnh ở gan. Khi gan bị tổn thương các enzym transaminase tăng cao trong
huyết thanh, hoạt tính các enzym này trong huyết thanh. Gan là nơi duy nhất
tổng hợp ure hoàn chỉnh. Khả năng tổng hợp ure của gan rất lớn, nếu ta cắt
4/5 gan đi thì 1/5 phần còn lại vẫn tổng hợp ure bình thường.
1.4. Chức năng tạo mật
Gan chuyển bilirubin tù do thành bilirubin liên hợp, tái tạo bilirubin từ
urobilinogen (tái hấp thu từ ruột). Gan là nơi duy nhất tổng hợp acid mật từ
cholesterol và tổng hợp muối mật từ các acid mật. Tế bào gan tạo mật, mà
thành phần hữu cơ chính là sắc tố mật, muối mật và cholesterol. Mật được
chuyển vào ống mật lớn ngoài gan và vào túi mật để duy trì. Nhiều bệnh lý gan
mật có rối loạn tạo thành các thành phần của mật và sự vận chuyển mật dẫn
đến những thay đổi từ bilirun máu, urobilinogen nước tiểu, stercobilinogen
(urobilinogen) phân, sắc tố mật nước tiểu và muối mật nước tiểu.
1.5. Chức phận khử độc
Gan là cơ quan khử độc chính của cơ thể. Nguyên tắc chung là gan biến
các chất độc (ngoáiinh và nội sinh) thành các chất không độc thải ra ngoài
GGT hiện nay là một chỉ số enzym huyết thanh được đánh giá cao trong chẩn
đoán bệnh gan mật: nó không chỉ thể hiện sự tắc mật về tổ chức học mà còn
biểu hiện tổn thương gan do viêm hoặc do nhiễm độc.
- Hoá sinh và sinh lý về GGT:
GGT là một protein dimer không thuần nhất, mỗi tiểu đơn vị là một
chuỗi polypeptid. GGT thuộc nhóm peptidase xúc tác sự vận chuyển các acid
amin từ peptid này sang peptid khác và vì vậy hoạt động như một acid
transferáe. Enzym này chỉ phản ứng với peptid hoặc các hợp chất giống
peptid chứa gốc glytamat tận, gắn với phần còn lại của hợp chất qua nhóm
carboxyl tận.
GGT khu trú trên màng bào tương của tế bào trong cơ thể với trung tâm
hoạt động của enzym hướng về phía ngoài. GGT là enzym duy nhất phân cắt
một lượng có ý nghĩa Glutathion (GSH) và các chất liên kết GSH. Vì vậy
trong chu trình gamma glytamyl, GSH được tạo thành trong tế bào được
chuyển ra vị trí ngoài tế bào của màng tế bào, nơi mà nó được phân cách bởi
GGT thành cysteinyl glycine và gama glytamy (chu trình γ glutamyl [3]) GSH
có vai trò quan trọng trong việc duy trì cấu trúc và chức năng của tế bào, tham
gia bảo vệ màng tế bào chống lại sự oxy hoá của các gốc tự do và các chất
trung gian của oxygen hoạt động.
GGT đo được trong huyết thanh có nguồn gốc từ gan và ở dạng không
thuần nhất và được loại khỏi huyết thanh chủ yếu qua gan và được đào thải
theo mật. Hoạt độ trong mật bằng 10 lần hoạt độ huyết thanh. Ở gan người
lớn GGT khu trú chủ yếu ở ngoại vi của thuỳ, chỉ một lượng tan trong tế bào
gan còn phần lớn là gắn với màng đặc biệt là phần xoang của màng tếbào gan
và màng của biểu mô ống mật lớn. Tổng hợp GGT ở gan có thể được cảm
ứng bởi ứ mật, tiêu thụ rượu mạn và điều trị bởi nhiều thuốc khác nhau. Sự
tăng GGT đo được trong huyết thanh có thể do các nguyên nhân sau:
- Tăng tổng hợp do cảm ứng enzym bởi thuốc hay rượu.
- Tổn thương màng tế bào, GGT được giải phóng do những chất độc, do
thiếu máu cục bộ hoặc tổn thương tế bào gan do viêm nhiễm.
* Các nghiệm pháp: BSP, Quick, galactose niệu, tăng đường máu
đều dương tính.
2.2. Hội chứng tổn thương tế bào gan
Tuỳ thuộc vào từng trường hợp mà mức độ tổn tưhơng tế bào nhu mô
gan có thể chỉ làm thay đổi tính thấm màng tế bào gan, hay phá huỷ màng
bào tương hoặc thậm chí phá huỷ các thành phần dưới tế bào như màng ty thể.
Các triệu chứng hoá sinh trong hội chứng huỷ hoại tế bào nhu mô gan nh sau:
- Các transaminase: AST, ALT, huyết thanh tăng.
- Gamma glutamyl transferase (GGT) huyết thanh tăng.
- Ornithin carbamyl transferase (OCT) huyết thanh tăng
- Sắt huyết thanh tăng
- Bilirubin toàn phần, liên hợp, tự do huyết thanh tăng
2.3. Hội chứng tắc mật
Tắc mật có thể do sỏi đường mật, u đầu tuỵ, hoặc do tổ chức xơ phát
triển quá nhiều nh trong xơ gan làm các thành phần của mật không đào thải
theo đường mật mà ứ lại trong máu. Vì vậy các triệu chứng hoá sinh trong hội
chứng tắc mật nh sau:
- Bilirubin toàn phần huyết thanh tăng cao.
- Cholesterol tù do, este tăng trong huyết thanh.
- Gamma glutamyl transferase (GGT) huyết thanh tăng cao.
- Muối mật huyết thanh tăng.
- Phosphatase kiềm (ALT) huyết thanh cao.
- Nước tiểu có sắc tố mật và muối mật.
2.4. Hội chứng viêm gan trung mô
Trong các bệnh gan đặc biệt trong xơ gan, tế bào Kupffer phát triển làm
tăng tiết các globulin, vì vậy có thể dùng phản ứng lên bông để phát hiện tình
trạng này:
- Phản ứng Gros phát hiện tình trạng mất thăng bằng giữa albumin và
globulin (albumin giảm, globulin tăng).
- Phản ứng Maclagan phát hiện tình trạng tăng β - globulin.
điều trị tại bệnh viện đa khoa Thái Bình từ 01/01/2005 đến 31/5/2006, được
chỉ định làm các xét nghiệm hoá sinh.
1.3. Trang thiết bị và hoá chất
- Trang thiết bị:
+ Máy ly tâm Kobuta - Nhật
+ Tủ Êm 37
0
C - Trung Quốc
+ Máy sinh hoá tự động Hitachi 717 - Nhật
- Hoá chất: Các Kit định lượng: AST, ALT, GGT, bilirubin, protein,
albumin của hãng Bio Systems - Tây Ban Nha.
Hoá chất được bảo quản theo đúng chỉ dẫn của Hãng sản xuất.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu mô tả
2.1. Phương pháp lựa chọn nhóm chứng:
Những người có nhu cầu khám sức khoẻ đi nước ngoài, sau khi khám
lâm sàng được xác định là bình thường, không có bệnh lý gan mật và các
bệnh lý khác, được lấy máu vào buổi sáng, lúc đói về làm các xét nghiệm theo
mục tiêu của đề tài.
2.2. Phương pháp lựa chọn nhóm nghiên cứu
Chọn các bệnh nhân được chẩn đoán xác định trên lâm sàng là: viêm
gan virus cấp, viêm gan mạn, xơ gan, được chỉ định làm xét nghiệm hoá sinh
máu: AST, ALT, bilirubin, protein, albumin. Chúng tôi tiến hành làm thêm
chỉ số GGT theo mục tiêu của đề tài.
2.4. Kỹ thuật nghiên cứu
2.3.1. Chuẩn bị bệnh phẩm
- Các đối tượng khám sức khoẻ: Lấy máu vào buổi sáng, khi chưa ăn, tại
khoa Sinh hoá.
- Các bệnh phẩm của các bệnh nhân được chẩn đoán xác định mắc các
bệnh về gan, được gửi tới khoa sinh hoá.
mất dần. Do đó mật độ quang giảm dần. Từ sự chênh lệch mật độ
quang (∆ A ở 340nm trong 1 phút, ở 37
0
C) tính ra hoạt độ enzym.
Giá trị bình thường: AST (GOT): Nam: ≤ 37U/l
Nữ: ≤ 31 U/l
ALT (GPT): Nam: ≤ 40 U/l
Nữ: ≤ 31 U/l
2.3.2.2. Hoạt độ GGT:
Nguyên tắc phản ứng
L - γ - glutamyl - 3 - carboxy - 4 - nitroanilide + glycylycine
L - γ - glytamyl glycylglycine + 5 amino - 2nitro - benzoae
Dưới điều kiện 37
0
C, sự tăng nồng độ trong phức chất này được đo bởi
sự thay đổi mật độ quang ở bước sóng 405nm, tỷ lệ thuận với hoạt độ enzym
trong hỗn hợp phản ứng, trên máy sinh hoá tự động Hitachi 717.
Giá trị bình thường: Nam: từ 11 - 50 U/l ở 37
0
C
Nữ: từ 7 - 32 U/l ở 37
0
C.
2.3.2.3. Định lượng Bilirubin huyết thanh
Nguyên tắc phản ứng: kỹ thuật Jendrassik
GOT
GOT
GOT
- Bilirubin toàn phần phản ứng với acid sulphanilic và acid nitro (thuốc
thử Diazo) với sự có mặt của Cafein tạo thành phức hợp azo màu và được đo
n % n % n %
0 - 9 0 0,0 2 100,0 2 2,3
10 - 19 2 100,0 0 0,0 2 2,3
20 - 29 10 83,3 2 16,7 12 13,9
30 - 39 20 83,3 4 16,7 24 27,9
40 - 49 14 73,6 5 26,4 19 22,1
50 - 59 7 70,0 3 30,0 10 11,6
≥ 60
13 76,4 4 23,6 17 19,7
Tổng 66 76,7 20 23,3 86 100,0
2,3
2,3
13,9
27,9
22,1
11,6
19,7
0
5
10
15
20
25
30
0 - 9 10 -19 20 - 29 30 - 39 40 - 49 50 - 59 60³
%
Tuæi
Biểu đồ 1: Phân bố đối tượng mắc mốtố bệnh về gan theo tuổi.
Trong sè 86 người có bệnh lý về gan trong nhóm nghiên cứu chúng tôi
thấy lứa tuổi gặp nhiều nhất là 30 - 39 tuổi (chiếm 27,9%). Tuổi 40 - 49 là
< 0,05
Xơ gan 30 24,8
211,8 ± 31,1
Viêm gan mạn 25 20,7
224,9 ± 29,4
Viêm gan VP 31 25,6
163,5 ± 86,8
Tổng 121 100,0
Hoạt độ AST của các nhóm bệnh nhân bị bệnh về gan cao hơn hẳn so
với những người không bị bệnh (p < 0,05). Đặc biệt những người xơ gan,
AST tăng rất cao (223,8 ± 31,1 U/l0.
Bảng 4: Hoạt độ ALT (U/l) trung bình của các đối tượng nghiên cứu
Đối tượng Số
lượng
Tỷ lệ %
X ± SD
p
Bình thường 35 28,9
23,4 ± 8,1
< 0,05
Xơ gan 30 24,8
106,4 ± 15,9
Viêm gan mạn 25 20,7
111,8 ± 12,2
Viêm gan VP 31 25,6
493,6 ± 90,9
Tổng 121 100,0
Nhận xét: Trong các bệnh lý về gan, chỉ số men gan ALT đều tăng hơn ở
nhóm chứng có ý nghĩa thống kê. Điển hình là ở nhóm bệnh nhân bị viêm gan
vi rút cấp (493,6 ± 90,9).
Bảng 5: Nồng độ Bilirubin toàn phần (
µ
mol/l) trung bình ở các đối tượng
nghiên cứu
Đối tượng Số
lượng
Tỷ lệ %
X ± SD
p
Bình thường 35 28,9
9,6 ± 2,8
< 0,05
Xơ gan 30 24,8
42,9 ± 17,6
Viêm gan mạn 25 20,7
23,2 ± 11,5
Viêm gan VP 31 25,6
67,3 ± 10,9
Tổng 121 100,0
Kết quả ở bảng 5 cho thấy nồng độ Bilirubin toàn phần ở những bệnh
nhân bị bệnh gan mật cao hơn ở nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05),
nhất là ở nhóm bệnh nhân bị viêm gan vurut (67,3 ± 10,9).
9,6
42,9
23,2
67,3
0
10
20
30
Đối tượng Số
lượng
Tỷ lệ %
X ± SD
p
Bình thường 35 28,9
76,5 ± 3,9
< 0,05
Xơ gan 30 24,8
63,2 ± 11,2
Viêm gan mạn 25 20,7
67,1 ± 6,3
Viêm gan VP 31 25,6
65,4 ± 7,2
Tổng 121 100,0
Qua kết quả ở bảng 7 cho thấy, cùng với sự giảm Albumin, ở các bệnh
nhân bị bệnh gan nồng độ Protein máu đều giảm rõ rệt so với những người
bình htường (p < 0,05), nhất là đối với những bệnh nhân bị xơ gan.
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
B×nh thêng X¬ gan Viªm gan
m¹n
Bilirubin ở 2 nhóm khác biệt có ý nghĩa ( p < 0,05). Hàm lượng Protein và
Albumin máu ở nhóm bệnh nhân viêm gan mạn cao hơn nhóm xơ gan, song
Bilirubin toàn phần lại thấp hơn rất nhiều (p < 0,001).
2. Tương quan giữa GGT với các chỉ số AST (GOT), ALT (GPT),
Protein, Albumin, Bilirubin trong nhóm bệnh nhân viêm gan mạn và xơ
gan
Bảng 9: Tương quan giữa GGT (U/l) với các chỉ số xét nghiệm ở nhóm
bệnh nhân viêm gan mạn và xơ gan.
GGT
Chỉ số tương quan
r
Viêm gan mạn (n = 25) Xơ gan (n = 30)
AST 0,52 0,22
ALT 0,50 0,44
Protein 0,24 0,18
Albumin - 0,02 0,33
Bilirubin 0,25 - 0,44
Kết quả ở bảng 9 cho thấy ở nhóm bệnh nhân bị viêm gan mạn, nồng độ GGT
ó sự tương quan thuận với nồng độ AST (r = 0,52) và ALT (r = 0,50). Ở nhóm bệnh
nhân xơ gan thấy GGT có tương quan nghịch với bilirubin (r = - 0,44), còn với các
chỉ số khác ở cả 2 nhóm, mối tương quan với GGT không rõ ràng.
Bàn luận
Trong nghiên cứu của chúng tôi, việc chọn mẫu không thể ngẫu nhiên và
lớn như khi làm tại cộng đồng. Tuy nhiên qua kết quả nghiên cứu (bảng 1)
cũng phần nào phản ánh được tính chất nguy hại của các bệnh về gan. Chiếm
tỷ lệ cao nhất mắc bệnh lại là ở lứa tuổi 30 - 49, là tuổi phải lao động nhiều,
khó kiêng khem và khả năng lây nhiễm lớn nếu là những bệnh VGVR. Với tỷ
lệ bệnh lý gan mật chủ yếu ở nam giới, có thể lý giải thêm cho mối liên quan
giữa việc sử dụng bia rượu và tiến triển của các bệnh gan mật.
Từ các kết quả nghiên cứu, chúng tôi thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh
tương.
Hoạt độ GGT, ALT, AST giữa hai nhóm xơ gan và viêm gan mạn tuy có
sự khác biệt nhưng không có ý nghĩa thống kê có lẽ do số lượng bệnh nhân
trong nhóm nghiên cứu còn Ýt. Nghiên cứu của Ellen Schimidt cho thấy trong
viêm gan mạn hoạt độ GGT tăng cao gấp nhiều lần so với trị số bình thường,
và hoạt độ enzym này cũng tăng trong xơ gan [6].
Ở nhóm viêm gan mạn, GGT có mối tương quan thuận lợi AST và ALT
do sù thay đổi tính thấm hoặc hoại tử tế bào gan (bảng 9). Có tác giả còn nhận
thấy, hoạt độ GGT có xu hướng trở về giá trị bình thường muộn hơn AST và
ALT, vì thế việc xác định hoạt độ GGT trong huyết thanh còn phản ánh quá
tình tăng) sang trạng thái viêm gan mạn tính (hoạt độ GGT còn tăng cao trong
khi đó AST, ALT đã trở về bình thường hoặc gần bình thường) [8, 9]. Đối với
xơ gan, GGT tăng phản ánh sớm tổn thương tế bào gan, trong khi đó AST,
ALT vẫn bình thường [1, 9].
Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu trên 86 bệnh nhân bị bệnh về gan như viêm gan
virut cấp, viêm gan mạn, xơ gan và 35 người bình thường, khoẻ mạnh chúng
tôi rót ra một số nhận xét như sau:
1. Hoạt độ GGT huyết thanh ở các bệnh nhân bị mắc bệnh nhân bị mắc
bệnh gan mật tăng một cách có nghĩa so với người bình thường khoẻ mạnh p
< 0,05. Các hoạt độ AST, ALT, nồng độ bilirubin tăng trong khi Protein toàn
phần và Alibumin huyết thanh giảm có ý nghĩa với p < 0,05. Hoạt độ GGT
huyết thanh ở bệnh nhân bị viêm gan mạn cao hơn ở bệnh nhân xơ gan nhưng
không có ý nghĩa với p > 0,05. Hoạt độ AST, ALT, nồng độ Protein, Albumin
huyết thanh lại cao hơn có ý nghĩa với p < 0,05 , trong khi nồng đọ
Bilirubin huyết thanh ở bệnh nhân viêm gan mạn thấp hơn so với ở bệnh nhân
xơ gan.
2. Có mối tương quan tuyến tính thuận giữa GGT với AST và ALT ở các
bệnh nhân viêm gan mạn (r = 0,52) trong hi đó lại có sự tương quan nghịc
giữa hoạt độ GGT và nồng độ bilirubin huyết thanh ở bệnh nhân xơ gan (r = -