PHẦN MỞ ĐẦU
H iện nay với công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Đất Nước
dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước, Việt Nam đã đạt được một số
thành tựu hết sức to lớn cả về khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội.Sự phát
triển này được biểu hiện thông qua sự phát triển đồng bộ của nhiều ngành
Công nghiệp,Nông nghiệp, Lâm nghiệp,GTVT, Dịch vụ Trong đó ngành
sản xuất vật liệu xây dựng nói chung và ngành sản xuất xi măng nói riêng là
một trong những ngành đóng vai trò quan trọng trong công cuộc này.
Xi măng (XM) là vật liệu thông dụng nhất trong ngành công nghiệp
xây dựng vì chúng là chất kết dính rẻ tiền hơn so với các loại chất kết dính
khác. Mặc khác khi sử dụng XM lại cho cường độ chịu nén, chịu uốn cao.
XM đã có mặt trong đời sống của con người hàng nghìn năm qua và cho đến
nay con người vẫn sử dụng nó trong hầu hết các công trình xây dựng. Theo
những dự đoán thì XM vẫn là chất kết dính chủ lực trong thế kỷ tới.
Đất nước ta trải qua 2 cuộc chiến tranh tàn phá cơ sở hạ tầng còn
thấp kén. Do vậy nhu cầu sử dụng XM ngày càng tăng khi nước ta bước vào
thời kỳ đổi mới tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Hàng loạt
các công trình xây dựng: thuỷ điện, cầu cống, đường xá, các công trình thuỷ
lợi, nhà ở. ., sẽ tiêu thụ một lượng XM rất lớn. Mặc dù, sản lượng XM sản
xuất trong nước ngày càng tăng nhanh nhưng vẫn không đủ nhu cầu sử dụng
trong nước. Vì vậy, việc tăng sản lượng XM nhằm cân đối giữa cung - cầu
trong nước, một phần tham gia xuất khẩu đang là mục tiêu của ngành công
nghiệp XM Việt Nam. Hiện nay với dân số 78 triệu người, bình quân đầu
người về xi măng của Việt Nam là 162kg/người, còn rất thấp so với các
nước trong khu vực và thế giới như Thái Lan(535),Ma Lai(584), Hông
Kông(724), Đài Loan(964),Hàn Quốc(1022) Để góp phần thúc đẩy sự
tăng trưởng kinh tế của đất nước đồng thời thực hiện được mục tiêu trên thì
việc xây dựng các nhà máy XM là rất cần thiết.
Tuy nhiên bên cạnh những vai trò to lớn đó, cùng với sự phát triển
cao của ngành công nghiệp ximăng thì đó cũng là một vấn đề cần quan tâm
đối với các nhà môi trường.Trong quá trinh sản xuất xi măng có thải ra một
I.1.1- Lịch sử phát triển xi măng thế giới.
Từ xa xưa loài người đã biết dùng các loại nguyên liệu thiên nhiên có
tính kết dính để xây dựng các công trình, nhưng nói chung các chất kết dính
này có cường độ thấp không đáp ứng được nhu cầu sử dụng ngày càng cao
của con người. Mãi đến năm 1812 đến năm 1825 XMP mới được phát hiện,
XMP đã được phát triển qua gần hai thế kỷ nên công nghệ sản xuất ngày
càng cao. Trước đây xi măng được sản xuất chủ yếu theo phương pháp bán
khô, phối liệu được vê viên trong lò đứng, phương pháp ướt lò quay và ph-
ương pháp khô chỉ là thứ yếu, sản lượng xi măng sản xuất theo phương pháp
ướt chiếm 70 á 80% sản lượng xi măng sản xuất ra. Ngày nay để tiết kiệm
nhiên liệu, nhiệt lượng, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì
công nghệ sản xuất xi măng theo phương pháp khô đang chiếm vị trí chủ
đạo. hiện nay công nghệ sản xuất xi măng trên thế giới đạt đến trình độ cao,
sản lượng tăng, chất lượng tốt, phong phú về chủng loại. đứng đầu là các n-
ước có nền công nghiệp tiên tiến như Mỹ, Nhật và các nước Tây âu.
* Sản lượng xi măng của một số nước Đông Nam á trong những năm
đầu và cuối thập kỷ 90 như sau (triệu tấn):
BảngI.1.1: Sản lượng XM của một số nước Đông Nam Á
Năm Thái lan Inđônêxia Malaixia Philipin
1990 18, 044 16, 298 6, 732 6, 632
1991 18, 890 16, 238 7, 738 7, 536
1998 22, 829 22, 314 11, 722 12, 888
1999 25, 700 33, 212 15, 840 13, 394
2000 26, 700 43, 983 18, 050 15, 039
Nhận xét: Sản lượng xi măng tăng nhanh, sau 10 năm sản lượng tăng
gần gấp ba như Indônêxa, Malaixia, Philipin. Riêng Thái Lan do chịu khủng
hoảng tài chính những năm cuối của thập kỷ nên sản lượng tăng chậm hơn.
So sánh bình quân xi măng trên một đầu người của nước ta và một số
nước trong khu vực (kg/người/năm).
3
máy xi măng Hoàng Thạch với năng suất 1, 1 triêu tấn theo phương pháp
khô.
Bước sang thời kỳ đổi mới nhu cầu tiêu thụ xi măng có một bước nhảy
vọt sản lượng Xi măng sản suất ra không đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng của
đất nước, do vậy một loạt các nhà máy Xi măng có công xuất lớn và có công
4
nghệ hiện đại nhất trên thế giới được nhà nước đầu tư xây dựng. Từ năm
1991 á 1992 xây dựng nhà máy Hà Tiên II theo phương pháp khô với năng
suất 1, 1 á 1, 2 triệu tấn. Mặc dù vậy lượng Xi măng mà xã hội cần các nhà
máy vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu, do vậy để đáp ứng đủ nhu cầu Xi măng
tại chỗ cho các địa phương vào những năm 1993 á 1996 xây dựng hơn 40
dây truyền xi măng lò đứng với công nghệ, và thiết bị của Trung quốc. Năm
1994 sản lượng Xi măng sản xuất theo phương pháp ướt đạt 914 nghìn tấn,
năm1995 đạt 1200000 tấn, năm 1995 đạt 2, 384 triệu tấn. Năm 1998 xây
song Hoàng Thạch II với năng suất 1, 2 triệu tấn, năm 1999 xây song Bót
Sơn với năng suất 1, 4 triệu tấn. Ngoài ra còn xây dựng thêm 3 cơ sở liên
doanh: Chinh Poong năng suất 1, 5 triệu tấn, Sao Mai 1, 7 triệu tấn, Nghi
Sơn 2, 3 triệu tấn. Năm 2001 xây dựng song nhà máy Xi măng Hoàng Mai
với công suất 1, 4 triệu tấn, vào nhưng năm cuối của thế kỷ 20 các trạm
nghiền Xi măng tại các địa phương ở phía nam được đầu tư xây dùng.
BảngI.1.3:Công suất các nhà máy Xi măng đang sản xuất đến năm
2002
TT Tên công ty
công suất Xi
măng
(triệu tấn)
Công nghệ
Hãng cung cấp
thiết bị
I
Công suất Cl
(triệu tấn)
Công suất
thiết kế XM
Hãng cung cấp
thiết bị
1 XM Tam Điệp 1, 260 1, 400 FLS Đan Mạch
2 XM Hải Phòng mới 1, 260 1, 400 FLS Đan Mạch
3 XM Sông Gianh 1, 260 1, 400 Krupp Polysius
Tổng 3, 780 4, 200
Đến năm 2005 năng lực sản xuất XM toàn nghành XM sẽ lên 18,
780 triệu tấn Clinke tương ứng với 21, 810 triệu tấn XM trong nước sản xuất
(không tính đến trạm nghiền XM phải nhập Clinke)
2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ XM từ năm 1990 đến năm 2002
Nhu cầu XM trong 12 năm qua không ngừng tăng, năm 1990 là 2, 75
triệu tấn thì đến năm 1995 là 7, 2 triệu tấn tăng 2, 8 lần, và đến năm 2000 là
13, 621 triệu tấn và năm 2002 19, 6 triệu tấn, dự kiến năm 2003 là vào
khoảng 22 triệu tấn. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong vòng 12 năm từ
năm 1990 đến năm 2002 là 18, 5%.
Mặc dù các công ty XM đã nỗ lực phấn đấu, qua những trở ngại khó
khăn, sản xuất nhiều năm vượt công suất thiết kế, nhưng vẫn chưa đáp ứng
đủ nhu cầu nội địa, cung vẫn chưa đáp ứng được cầu, hàng năm vẫn phải
nhập Clinke. Trên thị trường vẫn xẩy ra hiện tượng sốt XM (giá XM tăng
đột biến không nằm trong vùng kiển soát, đặc biệt là khu vực phía nam khu
vục nhạy cảm vì có Ýt nhà máy sản xuất Clinke XM)
BảngI.1.4: Sản lượng XM sản xuất và tiêu thụ thời kỳ từ năm
1990 đến năm 2002 (đơn vị triệu tấn)
199
0
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 200
Nhu cầu XM 2005 là 28 triệu tấn, nhưng khả năng khai thác từ
trong nước chỉ được khoảng 21 triệu tấn còn phải nhập khoảng 8 triệu tấn
-Trong giai đoạn 2006 ÷ 2010, dự báo tăng trưởng hàng năm trong
tiêu thụ XM nước ta từ 9 ÷ 12%, và vào năm 2010 nhu cầu tiêu thụ XM là
vào khoảng 42 ÷ 45 triệu tấn tăng 1, 5 ÷ 1, 6 lần so với năm 2005. Trong giai
đoạn từ năm 2011 ÷ 2015 dự báo tốc độ tăng trưởng tiêu thụ XM vào
khoảng 5 ÷ 8%, nhu cầu XM sẽ là 60 ÷ 62 triệu tấn. Trong giai đoạn từ năm
2016 ÷ 2020 dự báo vào khoảng 2 ÷ 3% nhu cầu XM sẽ vào khoảng 66 ÷ 68
triệu tấn
BảngI.1.6: Tổng hợp dự báo nhu cầu XM từ 2005
÷
2020
2000 2005 2010 2015 2020
Tốc độ tăng trưởng trong tiêu thô %
13 ÷ 18 9 ÷ 12 5 ÷ 8 2 ÷ 3
Nhu cầu Xi măng (triệu tấn) 13,
91
28 ÷ 29 42 ÷ 46 60 ÷ 62 66÷68
Để đáp ứng nhu cầu Xi măng trên thị trường trong nước từ năm 2005
÷ 2020 đáp ứng đủ lượng XM cho xã hội thì đòi hỏi phải xây dựng một loạt
các nhà máy XM ưu tiên xây dựng các nhà máy XM có công suất lớn, có
công nghệ hiện đại, và tập trung ở những vùng có nguồn nguyên liệu tốt, và
thuận tiện trong việc tiêu thụ, tập trung xây dựng các nhà máy mà thuận tiện
trong giao thông vận tải, có sẵn cơ cở vật chất giản giá thành xây dựng cơ
bản. Tiến tới giản suất đầu tư xuống dưới 100 USD/tấn Xi măng. Xây dựng
các nhà máy có cảng nước sâu thuận tiện cho quá trình suất khẩu, cũng như
suất Clinke vào thị trường phía nam nơi sẽ đặt các trạn nghiền Clinke, tập
trung xây dựng các nhà máy tại Quảng Ninh, và phía nam tỉnh Thanh Hoá
nơi có nguồn nguyên liệu và có cảng nước sâu. Mặc dù vậy việc đầu tư xây
7
Dự án được duyệt
8 XM Hoàng Thạch 3 1, 2
2003 ÷ 2005
Dự án được duyệt
9 XM Bót Sơn 2 2, 3
2003 ÷ 2006
10 XM Bỉm Sơn 2 2, 3
2003 ÷ 2006
Đang trình duyệt
11 XM Chin Fon HP 2 1, 5
2005 ÷ 2008
12 XM Thạch Mỹ 2, 5
2003 ÷ 2007
Đang lập dự án
13 XM Hà Tiên 3 1, 2
2004 ÷ 2007
14 XM Mỹ Đức 2, 3
2010 ÷ 2014
15 XM Đồng Lâm 2, 3
2004 ÷ 2008
16 XM Nghi Sơn 2 3, 0
2007 ÷ 2010
17 XM Đồng Bánh 1, 5
2004 ÷ 2008
18 XM Sông Gianh 2 2, 3
2007 ÷ 2010
19 XM Hạ Long 2 3, 0
2010 ÷ 2013
20 XM Cẩm Phả 2 3, 0
2009 ÷ 2012
2
O
3
, Fe
2
O
3
ta dùng nguyện liệu phụ gia điều chỉnh như- đất pháp
cổ chứ nhiều SiO
2
, quăng sắt chứa nhiều Fe
2
O
3
và bô xít chứa nhiều Al
2
O
3
.
Đá vôi.
Đá vôi là nguyên liệu chính trong sản xuất xi măng, nó chiếm khoảng
78÷80% nguyên liệu đầu vào.Hiện nay ở nước ta có rất nhiều chủng loại đá
vôi nhung để đáp ứng cho việc sản xuất xi măng thì chủ yếu những loại đá
vôi sau:
- Đá vôi Dvon TrungD2 là loại đá có hạt nhỏ,đồng nhất có thành phần
hoá học:CaO ≥ 52%, MgO ≤ 1%.
- Đá vôi Trung Pecni C
2
P là loại đá có hạt nhỏ mịn,mầu xanh có thành
Al
2
O
3
Fe
2
O
3
CaO MgO
9
Hải Phòng 42,4 0,2 0,1 0,1 54,6 0,6
Bỉm Sơn 42,4 0,2 0,1 0,1 54,3 0,6
ChiFon-Hải Phòng 42,52 0,2 0,09 0,47 54,4 0,63
Hà Tiên 42 3,2 0,1 0,1 53,2 1,4
Sài Sơn 42,73 0,15 0,76 0,16 53,07 1,18
Hoàng Thạch 42,3 0,3 0,2 54,4 0,6
Đất sét:
Đất sét có chữa những ôxit: Al
2
O
3
, Fe
2
O
3
, SiO
2.
Trong thành phần
2
làm xi măng đóng rắn nhanh
nhưng độ bền vĩnh cửu không cao,nhiều SiO
2
thi xi măng đóng rắn chậm.
Đất quá nhiều Al
2
O
3
dính kết đóng rắn nhanh nhưng toả nhiệt lớn, ngược lại
nếu quá Ýt Al
2
O
3
nhiều Fe
2
O
3
đóng rắn chậm toả nhiệt Ýt.§Ó tăng hàm
lượng SiO
2
lên ta dùng thêm loại đất chứa nhiều SiO
2
. ơ nước ta muốn điêù
chỉnh nâng cao lương SiO
2
lên tốt nhất dùng đất pháp cổ, Phó liệt Hải Phòng
hoặc có thể lấy quăczít phong hoá mạnh có ở Vĩnh Phú và Hoà Bình, đường
từ Méc Châu đi Yên Châu…Để tăng lượng Fe
2
Quăczít phong hoá
- 89,7 3,2 2,0 0,8 0,3 1,3
- 92,6 3,8 1,1 0,5 0,2 1,4
- 83,1 5,1 1,5 3,0 0,3 -
Quặng sắt
Thái Nguyên
- 13,2 5,1 73,8 1,5 3,2 3,2
8,56 15,7 3,8 68,8 2,0 0,4 -
Bôxit Lạng Sơn 10,1 4,2 59,0 25,4 0,4 0,23 -
Bôxit Cao Bằng 13,8 0,4 50,0 24,4 0,5 0,78 6,4
I.2.2- Nhiên liệu.
Công nghệ sản xuất xi măng co nhiều công đoạn phải sử dụng nhiên
liệuhư quá trinh sấy bột liệu,nghiên nguyên liệu,vận hành lò nung….Tuỳ
theo công nghệ và và thiết bị lò nung mà sử dụng nhứng loại nhiên liệu khác
nhau như khí thiên nhiên dầu lửa hay dàu madut, than Riêng công nghệ xi
măng lò quaycó thể dùng nguyên liệu khí lỏng hoặc rắn. Nhưng riêng với
công nghệ lò đứng do cấu tạo của lò nên đa số dùng nguyên liệu rắn Ýt chất
bốcvà càng Ýt tro than càng tốt Quá trình nug clinke đòi hỏi ở nhiệt độ
cao(t
0
max
=1450
0
C) nên nhất thiết phải dùng nhiên liệu có nhiệt độ cao.Các
loại than khác nhau co thành phần khác nhau tính toán trê cơ sở không co tro
và độ Èm phản ánh trong bảng sau.
BảngI.2.5- Thàn phần các loại than
Loại Than
Thành phần
C% H% O% N%
<11,5 <3 5360
0÷5
11
BảngI.2.7- Tính chất của dầu đốt.
Chủng loại
Thành phần hoá học
Hàm lượng tro
(%)
Hàm lượng
S
(%)
Cặn C
(%)
Nhiệt trị
(kcal/kg)
Dầu DO 0,02 1 0 9950
Dỗu FO
0,05÷0,15
0,5
0,15÷0,35
9500
I.2.3- Năng lượng dùng trong sản xuất xi măng
Trong công nghiệp sản xuất xi măng sử dụng một lượng rất lớn năng
lượng chủ yếu là điện năng. Điện năng cung cấp năng lượng để vân hanh các
thiết bị trong dây chuyền(lò quay,băng tải, quạt phân ly…) tính trung bình
năng lương dung trong sản xuất xi măng khoảng 85÷95 Kwh/tấn xi măng.
Tuy theo công suất của mỗi nhà máy mà lương điên năng tiêu thu khấc nhau.
Có một số nhà máy xây dưng đường điện riêng phục vụ cho sản xuất như
nhà máy xi măng Hoàng Thạch,xi măng ChinFon Hải Phòng…
I.2.4-Công nghệ sản xuất.
2
, NO, bụi )
Bụi, ồn
Khói lò
Bụi, ồn
N<ớc
Không khí
Phụ gia CaF
2
, Na
2
SiF
6
(Xỉ pirit, apatit)
Than
Hỡnh I.2- Quy Trỡnh Sn Xut Xi Mng Lũ Quay Cụng Ngh Khụ
14
Đá vôi Đất sét Phụ gia
Đập nguyên liệu
Kho đồng nhất sơ bộ
Nghiền liệu
Tháp trao đổi nhiệt
Canxinơ
Lò quay
Làm nguội
Đập Clinke
Silo clinke
Nghiền xi măng
Silo xi măng
Đóng bao
thải ra khí thải ô nhiễm môi trường.
Thành phần chủ yếu của khí thải là: SO
X
, CO
2
, NO
X
…
Thành phần chủ yếu của bụi thải là những thành phần có trong nguyên
liệu:đá sét, đá vôi…
II.3.1- Chất thải khí
Nguồn gốc phát sinh bôi.
Trong sông nghiệp sản xuất xi măng vấn đề ô nhiễm do bụi là đáng
quan tâm nhất. Bụi phát sinh từ trong hầu hết các công đoạn trong quá trình
sản xuất.
- Công đoạn khai thác nguyên liệu.
- Công đoạn gia công nguyên liệu.
- Bôi theo khói lò nung.
- Bôi thải từ quá trình nghiền xi măng.
- Công đoạn đóng bao và nghiền sản phẩm.
Bôi trong quá trình sản xuất xi măng chủ yếu là bụi đá vôi,đá sét,
than. Clinke, phô gia, xi măng…Hiện nay tại các nhà máy xi măng lò quay
khô cung đã có lắp đặt hệ thông xử lý bụi tại từng công đoạn. Đối với các
nhà máy xi măng lò quay ướt công nghệ cũ và lạc hậu nên việc xử lý ô
nhiễm là không đạt hiẹu quả cao. Ví dụ nhà máy xi măng Bỉm Sơn Thanh
15
Hoá gây ô nhiễm rất nghiêm trọng. Qua khảo sát đo đạc tại nhà máy cho
thấy nồng độ bụi vượt quá TCCP 3 –5 lần đặc biệt tại điểm cách ống khói
800 m thì nồng độ bụi lơ lửng là 3,15mg/m
măng và bê
tông
Đông Âu 92,8 33,4 127,2 3,7 32,7 3,96
Trung Quốc 80,6 10,5 91,1 13,8 20,3 17,12
Bắc Mỹ 50,9 17,5 68,4 8,1 11,1 15,9
Tây Âu 48,3 10,9 59,2 8,1 34,9 16,77
Ên Độ 35,0 3,9 38,9 2,0 0,8 5,71
Nam Phi 28,5 1,5 30,0 0,4 5,6 1,40
Ôxtralia 7,4 0,8 8,2 0,8 0,1 10,67
Nhật 3,7 0,5 4,2 1,6 0,6 43,20
Nam Mỹ 1,2 0,1 1,3 0,2 0,4 17,24
Khí thải độc hại
Khi thải trong quá trình sản xuất xi măng chủ do tác động nhiệt trong
các qua trình sấy nguyên liệu, sấy than, nung clinke. Do phải sử dụng dầu và
than trong các quá trình đó, chứa các nguyên tố C, N, S, O, P nên khi đốt
cháy sẽ tác dụng với oxy tao thanh các chất khí gây ô nhiễm môi trường
gồm:CO
2
, SO
2
, NO
X
…Ngoài ra còn có một lượng khí sinh ra từ qua trình
phân huỷ nguyên liệu.
Nguyên nhân gây ra khí CO và CO
2.
+Do quá trình cháy của nguyên liệu chứa C.
16
2
Phản ừng với các sản phẩm khí mới được sinh ra
C + CO
2
= 2CO – 41961
C + 2H
2
= CH
4
+ 28870
Các sản phẩm khí mới sinh ra cũng phản ứng với nhau.
2CO + O
2
= 2CO
2
+ 136215
2H
2
+ O
2
= 2H
2
O + 116670
CO + H
2
O
hơi
= CO
2
+ H
4
2CaO + 2SO
2
+ CO
2
Giện nay một số nhà máy xi măng lò quay khô có sử dung thêm dầu
DO và FO tham gia quá trinh sấy và nung cliken.
Thành phần chủ yếu của loại nguyên liệu này là Hydrocacbon C
n
H
2n+2
nên khi cháy sẽ sinh ra khí CO
2
theo phản ứng sau:
C
n
H
2n+2
+ O
2
= nCO
2
+ (n+1)H
2
O + Q
Nguyên nhân sinh ra khí SO
2
.
Do quá trình đốt than trong lò.Trong thành phàn nhiên liệu có chứa S
khi chay nó phản ứng với O
C
2Na
2
SO
4
+ C 2Na
2
O + 2SO
2
+ CO
2
2K
2
SO
4
+ C 2K
2
O + 2SO
2
+ CO
2
2Ca
2
SO
4
+ C 2Ca
2
O + 2SO
2
+ CO
NO + 1/2O
2
NO
2
Nguyên nhân sinh ra khí HF:
Tại các nhà máy sản xuất xi măng lò đứng có sử dung thêm một số
phụ gia khoáng hoá đây là những hợp chất có chứa Flo như :CaF
2
,
Na
2
SiF
6
…khi tham gia vào quá trình nung clinke ở nhiệt độ cao chúng bị
phân huỷ tạo thành F
2
và sau đó tác dụng với hydro tao thành HF.
F
2
+ H
2
= 2HF
Nguyên nhân phát sinh khí thải khác.
Một lượng khí thải do các hoạt động giao thông vận tải, khói khí sinh
hoạt(động cơ ôtô, máy súc, tầu…) do quá trình nổ mìn khai thác nguyên
liệu.
BảngI.3.2- Tổng hợp kết quả cân băng vật chất, lượng thải của các loại
hình công nghệ sản xuất xi măng.
224,25(*)
0,71
227,75(*)
14,34
125,54(*)
18
884
0
C
1074
0
C
1450
0
C
CO
2
SO
2
CO
NO
2
THC
HF
954,17
5,565
0,042
1,27
7,755.10
-3
và nước thải sản xuất. No được sinh ra trong các công đoạn sau đây:
- Nước thải sinh ra trong công đoạn là mát máy bao gồm:
+ Nước dội vào vỏ máy nghiền (nghiền phối liệu và nghiền xi
măng)để hạ nhiệt độ trong máy nghiền.
+ Nước làm mát các ổ trục ( nước này có chứa dầu mỡ và căn lơ
lửng).
- Nước thải từ quá trình nghiền nghuyên liệu trong công nghệ lò quay,
có chưa bùn tạp chất răn và một số kim loại như Fe, Al, Si…
- Nước thải rửa vệ sinh thiết bị, vệ sinh bể chứa dầu có hàm lượng
dầu, căn lơ lửng, COD lớn. Đây là lượng nước thải không thường xuyên lưu
lượng nhỏ nhưng hàm lượng chất độc cao có thể gây ảnh hưởng tới hệ sinh
thái nước khu vực quanh nhà máy.
II.3.4- Ô nhiễm tiếng ồn.
Trong nhà máy sản xuất xi măng sử dụng nhiều thiết bị cơ khí như:
máy đập búa, may nghiền bi, hệ thông vận hành,lò nung quay , các quạt hut
bụi…khi hoạt đông các thiết bị nay tao ra tiêng ồn rung mạnh làm ảnh
19
hưởng trực tiếp tới người lao động. Cường độ tiếng ồn phụ thuộc tính năng
và công suất động cơ của từng thiết bị. Đây cũng là vấn đề môi trương quan
trong cần quan tâm, nó rất rễ gây lên bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
BảngI.3.2-Một số kết quả đo tiếng ồn tại công ty Xi Măng Hoàng
Thạch[3]
Vị trí đo Mức ồn (dBA)
Xưởng nguyên liệu 84
Xưởng lò nung
CT18 > 95
Khu vực khác < 80
Xưởng xi măng < 80
Xưởng đóng bao
Khu vực máy đóng bao 81,8
sơ hoá phổi có khả năng dẫn đến ung thư.
Khí CO
- Tác hại đối với sức khoẻ con người: khí CO là loại khí độc đối
với con người và động vật,khi đi vào cơ thể làm giảm khả năng
vận chuyển ôxy trong máu tới các tế bào. Với nồng độ khí CO
cao có thể gây ngất hoặc gây tử vong.
- Trong quá trình sản xuất xi măng khí thải có nồng độ khí CO
cao có thể gây cháy, nổ đe doạ tính mạng của người lao động và
21
Khí SO
2
và NO
x
- Tác hại đối với sức khoẻ con người:Khí SO
2
, NO
2
khi đi vao cơ
thể con người gây viêm đường hô hấp, viêm họng căng thẳng
thần kinh. SO
2
đi vào máu làm rối loá sự chuyển hoá protein, gây
thiếu hụt vitamin B,C làm cơ thể mệt mỏi. Ngoài ra khí SO
2
còn
gây nhiễm độc qua da, làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đáo thải
amoniac ra nước tiểu và kiềm ra nước bọt.
- Khí SO
2
hệ sinh thái.
Hydro
cacbon
- Hydrocacbon mạch thẳng, bậc thấp thường gây nhiễm độc cấp
tính các triệu chứng nhiễm độc cấp tính là: mệt mỏi, tróng mặt
buồn nôn, say ngạt thở viêm phổi… Nũu nồng độ lớn có thể gây
co giật, rối loạn tim thạm chí có thể dẫn đến tử vong.
- Các hydrocacbon mạch vòng có thể gây độc mãn tính và tồn
tại lầu trong cơ thể
Tiếng ồn
- Nếu tiếng ồn và độ dung cao hơn tiêu chuẩn sẽ gây điếc, mệt
mỏi, kém tập trung tư tưởng làm giảm năng suất lao động, dễ
xẩy ra tai nạn khi vận hành máy móc.
Ô nhiễm
nhiệt
- Nhiệt độ cao xuất hiện tai biến nguy hiểm đối với người lao
động người như rối loạn điều hoà nhiệt, say nóng mất nước
ngoài ra còn gây nhức đầu mệt mỏi, đặc biệt gây kích não.
ảnh hưởng đến môi trường đất và nước
Các chất
hữu cơ
- Các chất hữu cơ trong chất thải sẽ làm giảm lượng oxy hoà tan
trong nước, làm giảm chất lượng nước và khả năng tự làm sạch
22
của chúng. Mặt khác khi nồng độ oxy hoà tan tong nước giảm sẽ
gây tác hại nghiêm trọng đến tài nguyên thuỷ sinh khu vực trung
quanh.
Chấ rắn
lơ lửng
- Nước thải chứa hàm lượng tổng chất rắn cao có thể gây tắc hệ
Giao thông vận tải.
Phương tiện giao thông vận tải thực sự không thể thiếu được tại các
nhá máy sản xuất xi măng. Đối với những nhà máy đang hoạt động, giao
thông vận tải đóng vai trò chuyên chở nguyên vật liệu về nhà máy và chở
sản phẩm ra khỏi nhà máy. Đối với những nhà máy đang xây dựng thì dùng
phương tiện giao thông vận tải để chở nguyên vật liệu xây dựng nhà máy.
Quá trính hoạt động của các phương tiện thải ra một lượng khí thải gây ô
nhiễm môi trường chủ yếu CO
2
, làm háng hệ thống đường xá trong nhà máy,
gây ồn Tuy nhiên nó có nhiều mặt tích cực như tăng hoạt động giao lưu
với các vung trung quanh, tao công ăn việc làm cho người lao động
Nông nghiệp và thuỷ lợi
23
Nếu khu vực trung quanh nhà máy có nuôi trồng thuỷ sản, cây nông
nghiệp lúa hoa mầu thì có thể bị ảnh hưởng bởi khí thải và nước thải, gây tác
động làm giảm năng suất. Các khí SO
2
, NO
x
ảnh hưởng rất lớn tới đời sống
đông thực vật đặc biệt bụi phát sinh trong quá trính sản xuất xi măng nó sẽ
phát tán ra môi trường trung quanh phủ lên là cây làm giảm khả năng quang
hợp cùa lá cây làm cây chậm phát triển.
I.4.3- Tác động tới sức khoẻ cộng đồng
Các nguồn ô nhiễm không khí sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ
người lao động tại nhà máy cũng như cộng đồng trung quanh. Các bệnh hô
hấp như ho, hen, bụi phổi có thể phát sinh hoặc tăng thêm đối với những
- Quá trình hoá lý xẩy ra trong lò nung về cơ bản là giống nhau.
24
- Sau quá trình nung Clinke thì các công đoạn tiếp theo trong dây
truyền sản xuất là hoàn như nhau: quá trình làm lạnh clinke, nghiền xi măng,
đóng bao
Sự khác nhau
Sự khác nhau về công nghệ được trình bay trong bảng I.5.12
Chỉ tiêu
kỹ thuật
Công nghệ
lò quay khô
Công nghệ
lò quay ướt
Công nghệ
lò đứng
Phối liệu
+ Gồm: Đá vôi, đất
sét, phụ gia xipirit.
+ Phối liệu vào lò ở
dạng bột mịn, có độ
Èm w= 1÷2% và
không trộn lẫn với
nhau.
+Gồm: Đá vôi, đất sét,
phụ gia xỉpirit.
+ Phối liệu dạng bùn
pat, độ Èm w= 40% và
không trộn lẫn với
than.
+ Gồm: Đá vôi, đất
nhiệt tháp Cyclon
+ Sử dụng lò quay để
nung Clinke.
+ Quá trình nung phải
qua giải đoạn sấy
giảm độ Èm từ 40%
xuống 2%.
+Sử dụng lò đưng
để nung clinke.
+ Quá trình nung
phải qua giải đoạn
sấy giảm độ Èm từ
14% xuống 2%.
Nguyên
lý
làm việc
+Làm việc liên tục,
phối liệu được nạp từ
đầu cao của lò và được
đảo trộn đều theo
vòng quay của lò.
+ Quá trình tạo
khoáng được diến ra
theo chiều dải lò.
+ Có công suất lơn, có
thể đạt từ 3000÷5800
tấn Clinke/ngày.
+Làm việc liên tục,
phối liệu ở dạng bùn
pat được nạp từ đầu
C.
+ Chất lượng tốt và ổn
định
+Nhiệt độ trong lò
khó đạt tới 14510
0
C.
+Chất lượng không
tốt bằng lò quay và
25