MỤC LỤC
Nội dung Trang
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………..2
Chương I : TỔNG QUAN NHÀ MÁY
I.1.Lịch sử phát triển và cơ cấu tổ chức nhà máy xi măng hoàng
thạch….3
I.2. Công nghệ sản xuất xi măng…………………………………………6
Chương II : HỆ THỐNG CUNG CẤP ĐIỆN NHÀ MÁY
II.1Giới thiệu chung về trạm điện
37…………………………………….11
II.2. Đặc điểm các động cơ
chính………………………………………..12
Chương III :KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN NHÀ MÁY
III.1. Cấu trúc hệ thống điều khiển Hoàng Thạch
1…………………….14
III.2 Hệ thống điều khiển Hoàng Thạch
2………………………………..18
Chương IV : TÌM HIỂU VỀ LỌC BỤI TAY ÁODA
IV.1. Bụi và tác hại của bụi………………………………………………23
IV.2. Khái quát về lọc bụi tay áo…………………………………………
23
IV.3. Phương thức điều
khiển…………………………………………….25
IV.4 . Bảo dưỡng và sửa
chữa…………………………………………….27
KẾT LUẬN……………………………………………………………….28
LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta đã và đang bước vào thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp
hoá. Nhiều công trình xây dựng cần được sửa chữa, xây mới. để đáp
ứng với nhu cầu đó, nhiều nhà máy xi măng ra đời với công suất từ một
đến vài triệu tấn/năm. Hiện nay, các công nghệ tiên tiến, các dây chuyền
Nhà máy được khởi công từ ngày 19/05/1976, hoàn thành lắp đặt dây
chuyền sản xuất HT1 năm 1982 và bắt đầu ra sản phẩm từ năm 1983.
Năm 1992 do nhu cầu xi măng trong nước cao nên Chính Phủ quyết
định mở rộng dây chuyền sản xuất HT2, năm 1996 thì sản phầm của cả
2 dây chuyền đều được tung ra thị trường với chất lượng tương đối ổn
3
định, với công suất thiết kế HT1 là 1,1 triệu tấn/năm, HT2 là 1,2 triệu
tấn/năm.Sắp tới, ngày 4/2/2007 sẽ khởi công dây truyền sản xuất HT3
với công suất thiết kế là 1.2 triệu tấn/ năm.
2 Cơ cấu tổ chức của nhà máy
Công ty xi măng Hoàng Thạch thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam,
với 2800 cán bộ, kỹ sư, công nhân.
Giám đốc nhà máy: Nguyễn Văn Nam và 6 Phó giám đốc.
Công ty được chia thành 2 khu vực tách biệt:
1. Khu hành chính bao gồm các phòng ban sau:
+ Phòng kinh doanh
- Bộ phận maketting
- Đại lý
+ Phòng Tổ chức
+ Phòng Kế hoạch
+ Phòng Vật tư
+ Tổng kho
+ Phòng Tài vụ
+ Phòng Hành chính
+ Phòng y tế
+ Phòng bảo vệ
+ Các cơ quan đòan thể, đảng bộ…
2. Khu sản xuất bao gồm:
+ Xưởng Điện- Điện Tử
+ Xưởng Cơ khí
6
H11S1/S2, H21S1/S2, R1U06S1/S2, R1T16S1, R1S02S1, R1P10S1; Tủ
điện R1T11, R2T01.
I.2. Công nghệ sản xuất xi măng
Công nghệ sản xuất của công ty xi măng Hoàng Thạch là sản xuất
Clinker và xi măng đen theo phương pháp lò quay, quá trình sản xuất
diễn ra các phản ứng hoá học. Các công đoạn sản xuất có mối quan hệ
khăng khít với nhau và vận hành sản xuất liên động với nhau qua điều
hành trung tâm.
1Khai thác và vận chuyển đá vôi:
Đá vôi được khai thác theo phương pháp cắt tầng bằng nổ mìn sau đó
dùng xe ủi hạng lớn ủi xuống chân núi, dưới chân núi máy xúc công
suất lớn xúc đá lên xe tải, băng tải xích chuyển về máy đập đá. Đá sau
đập có kích thước cực đại cỡ 15 mm, Qua hệ thống băng tải cao su vận
chuyển vào cầu rải (cầu rải có khả năng tịnh tiến đồng thời ngang và
dọc). Đồng thời với quá trình này thì đá vôi được vận chuyển về kho
đồng nhất sơ bộ.
2.Công đoạn dập và vận chuyển đá sét:
Cũng như đá vôi đá sét có kích thước nhỏ hơn 1000mm được máy xúc
đổ lên xe Koockum tự đổ vận chuyển vào phễu tiếp liệu, nhờ băng tải
xích đá sét đi vào máy đập kiểu va đập đàn hồi, đập sơ bộ xuống cỡ nhỏ
hơn 75mm. Sau đó đá sét được băng tải cao su vận chuyển tới máy cán
hai trục để đập lần 2 xuống kích thước còn nhỏ hơn 25mm. Sau khi cán
đá sét được hệ thống băng tải cao su vận chuyển về kho đồng nhất sơ
bộ.
* Kho đồng nhất sơ bộ:
Đá vôi và đá sét được xếp vào kho thành 2 đống mỗi loại, và đổ vào kho
bằng 4 cầu rải. Cầu sẽ rải liệu thành từng luống ở cả lượt đi và lượt về
7
(có từ 8 đến 29 luống). ở đây cũng có 2 hệ thống gầu xúc, khoảng 20 gầu,
để đồng nhất tầng 2 dùng để chứa bột liệu. Liệu có thể được tháo từ
tầng1 của Silo thứ nhất sang tầng 2 của Silo thứ 2 hoặc có thể tháo trực
tiếp xuống tầng 1 của silô đó. Liệu được sấy sơ bộ đến gần 1000C trước
khi đi vào lò nung.
Nhiên liệu để nung là bột than đựoc phun ở áp suất cao dưới dạng mù.
Dòng khí nóng đi ngược từ đáy lò đến đỉnh lò. Liệu từ két chứa được đi
xuống, liệu đi vào lò nhiệt độ tăng dần làm các phản ứng pha rắn xảy ra
và được kết khối ở 1300C đến 1450C tạo thành Clinker.
6.Công đoạn vận chuyển Clinker:
Clinker ra khỏi lò có nhiệt độ khá cao được làm nguội qua hệ thống làm
mát đến nhiệt độ khoảng 120C.
Đối với dây truyền 1: Hệ thống làm mát là các hệ thống lò quay con
Đối với dây truyền 2 : Hệ thống làm mát là bằng hệ thống giàn ghi.
Clinker được ủ từ 7 đến 15 ngày trước khi tháo cùng phụ gia + thạch
cao vào máy nghiền xi măng.
7.Công đoạn nghiền xi măng:
Clinker, thạch cao và phụ gia sau khi đồng nhất được cho vào máy
nghiền xi măng để tạo ra sản phẩm xi măng. Thành phần Clinker ,
thạch cao, phụ gia được điều chỉnh để đạt được chất lượng xi măng theo
9
Obj101
Obj102Obj103
Obj104
yêu cầu. Máy nghiền xi măng là máy nghiền kiểu bi đạn. Để đảm bảo
nhiệt độ của xi măng, trong khi nghiền nước được phun vào dưới dạng
sương mù ở áp suất cao.
Xi măng ra khỏi máy nghiền được đưa qua hệ thống phân ly. Tại đây có
sự sàng lọc. Nếu hạt xi măng quá to thì được thu hồi trở lại đầu máy
nghiền. Nếu xi măng đạt tiêu chuẩn thì được đưa về kho chứa. Nếu xi
măng quá nhỏ thì được thu hồi bởi hệ thống lọc bụi.