Lời cảm ơn
Để luận văn đạt kết quả tốt đẹp, trớc hết em xin gửi tới toàn thể các thầy
cô khoa Ngân Hàng - Tài Chính lời chúc sức khoẻ, lời chào trân trọng và lời
cảm ơn sâu sắc nhất.Với sự quan tâm, dạy dỗ chỉ bảo tận tình chu đáo của thầy
cô, sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn, đến nay em đã có thể hoàn thành - luận
văn tốt nghiệp, đề tài:
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay .
Để có đợc kết quả này em xin đặc biêt gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới
cô giáo - TS .Nguyễn Thị Bất- đã quan tâm giúp đỡ, vạch kế hoạch hớng dẫn em
hoàn thành một cách tốt nhất luận văn tốt nghiệp trong thời gian qua.
Không thể không nhắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ phòng
Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất trong suất
thời gian thực tập tại Tổng Cục Thuế.
Với điều kiện thời gian có hạn cũng nh kinh nghiệm còn hạn chế của một
sinh viên thực tập nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong nhận đợc sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng toàn thể các
bạn để em có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức của mình, phục vụ tốt hơn
công tác thực tế sau này.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
1
Lời nói đầu
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà
nớc và là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại của Nhà nớc đó. Do vậy,
thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cỡng chế, pháp lý cao, là
nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nớc mà trong đó thu thuế đối với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng cao trong Ngân sách Nhà nớc. Phải
quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD nh thế nào? Đó là một câu hỏi
cấp bách đặt ra cần có những giải pháp.
Thực hiện công cuộc đổi mới các thành phần kinh tế NQD hình thành và
Chơng I: Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và nội dung của quản lý thu
thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Chơng II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay.
Chơng III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu
vực kinh tế ngoài quốcdoanh ở nớc ta hiện nay.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
3
Chơng I
khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh và Nội dung của
quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế
Ngoài quốc doanh
I. Đặc điểm của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
1.Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
Thời kỳ quá độ lên CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin sẽ trải
qua một thời gian dài trong lịch sử. Trong suốt thời kỳ đó vẫn tồn tại các thành
phần kinh tế phi CNXH cạnh tranh gay gắt với thành phần kinh tế CNXH. Nhà
nớc XHCN có vai trò to lớn trong việc làm cho các thành phần kinh tế XHCN
ngày càng phát triển và chiếm u thế, đảm bảo thắng lợi của CNXH.
Vậy quá độ đi lên CNXH bỏ qua phát triển TBCN không thể không quan tâm
đến sự tồn tại và phát triển tất yếu khách quan của các thành phần kinh tế khác
trong đó có các thành phần kinh tế của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
(NQD). Nớc ta quá độ lên CNXH từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, tiềm lực kinh
tế còn cha mạnh, cơ sở vật chất còn nghèo nàn không đồng nhất giữa các ngành
các vùng, trình độ quản lý kinh tế còn thấp kém lại vừa qua khỏi chiến tranh.
Mâu thuẫn giữa nhu cầu cải tiến đời sống nhân dân với khả năng của sức sản
xuất đang hết sức gay gắt. sự lựa chọn có phát triển kinh tế nhiều thành phần
trong đó có kinh tế NQD hay không có tính chất quyết định. Tuy nhiên chấp
nhận sự tồn tại của kinh tế NQD không có nghĩa là để quan hệ sản xuất TBCN
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trờng, kinh tế NQD là
thành phần kinh tế không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ, tơng
xứng với tiềm năng và đóng góp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát triển nền
kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN đòi hỏi Nhà nớc phải có các chính sách,
điều kiện thuận lợi để khu vực này phát huy đợc vai trò của mình trong tình
hình kinh tế hiện nay.
2.1. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật
chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
5
Nớc ta là nớc có nền kinh tế đang trên đà phát triển, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần do vậy mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu. Khu
vực kinh tế NQD là khu vực có nhiều đặc điểm thuận lợi cho quá trình làm tăng
của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế nh là: khu vực thu hút
nhiều lao động, đối tợng hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế
ở mọi nơi trong nớc rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông
thôn, đồng thời góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh tế nh
tài nguyên, sức lao động, thị trờng...mà vẫn cha đợc khai thác một cách hiệu
quả. Bên cạnh đó do đặc thù rất linh hoạt, nhanh nhậy trong sản xuất để thu lợi
nhuận cao nhất nên khu vực này có khả năng phát huy nội lực, mở rộng sản
xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trờng. Vậy khu vực kinh tế NQD
là khu vực có vai trò hết sức quan trọng đồng thời là khu vực góp phần vào việc
thực hiện các chỉ tiêu về tăng trởng kinh tế do Nhà nớc đề ra.
2.2. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần giải quyết công ăn việc
làm cho ngời lao động
Nớc ta là nớc có dân số hơn 80 triệu dân, do đó đối tợng lao động là rất
lớn. Vấn đề thất nghiệp đợc đặt ra cần đợc giải quyết. Trong khi khu vực kinh tế
Nhà nớc và khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài luôn đòi hỏi lao động phải
có văn hóa, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm việc trong khu vực
trọng, song khai thác cha hiệu quả. Bên cạnh đó khu vực kinh tế NQD càng
phát triển thì nhu cầu về vốn ngày càng gia tăng và có mối quan hệ mật thiết với
các ngân hàng, đóng góp vào sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng trong công
tác huy động vốn.
2.5. Ngoài những vai trò trực tiếp nêu trên, khu vực kinh tế NQD tồn
tại và phát triển còn có tác dụng trên nhiều mặt sau
- Khu vực NQD phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã hội,
giúp cho Nhà nớc trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập trung đầu t vào
những ngành nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền kinh tế và đời sống
xã hội, tránh đầu t phân tán, dàn trải...Thực tiễn cho thấy có khu vực này nhiều
ngành nghề, mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh Nhà nớc không cần phải đầu t
hoặc chỉ đầu t có hạn còn về cơ bản khu vực kinh tế NQD đã đảm đơng các
chức năng bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng và tổ chức các dịch vụ tiêu dùng cho
xã hội, đặc biệt ở địa bàn nông thôn và miền núi.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
7
- Khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát triển góp phần thúc đẩy sự hình
thành và phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị tr-
ờng, thúc đẩy kinh tế Nhà nớc tăng cờng hạch toán kinh doanh, đổi mới công
nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Trớc đây trong điều
kiện chỉ có kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác, sản phẩm hàng hóa dù sản
xuất ra với bất kỳ chất lợng nào, giá cả ra sao đều đợc tiêu thụ. Nhng từ khi có
kinh tế NQD với đặc điểm t hữu cao, khu vực này rất linh hoạt năng động với
tinh thần trách nhiệm rất cao trong sản xuất, tìm kiếm thị trờng đồng thời luôn
tập trung cao độ tinh thần làm việc, phát huy mọi khả năng sẵn có của mình. Để
cạnh tranh với khu vực NQD thì buộc khu vực kinh tế quốc doanh phải cải tiến
hàng hoá sản xuất ra nếu không sẽ không đợc thị trờng chấp nhận. Bên cạnh sự
cạnh tranh đó thì nếu hai khu vực này không còn hợp tác, thúc đẩy nhau để sản
phẩm sản xuất ra đợc hoàn thiện với chất lợng cao hơn. Vậy hợp tác và cạnh
Khu vực kinh tế NQD phát triển tác động cả vào các cơ quan quản lý
trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính.
Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của khu vực
kinh tế NQD đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và phản ánh đúng quy luật khách
quan của thời kỳ qua độ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII của Đảng
(tháng 6/1991) đã đánh giá: Chính sách này đợc nhân dân hởng ứng rộng rãi
và đã đi nhanh vào cuộc sống chính sách ấy đã góp phần phát huy quyền làm
chủ của nhân dân về kinh tế, khơi dậy đợc nhiều tiềm năng va sức sáng tạo của
nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo việc làm và sản phẩm cho xã hội,
thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá, tạo ra sự cạnh tranh
sống động trên thị trờng. Ngoài ra góp phần vào phát triển và tăng trởng kinh
tế ngoài quốc doanh có sự tham giam tích cực của các cơ quan quản lý trong
việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính đồng thời Nhà nớc đã ban
hành 51 luật, pháp lệnh và các Nghị định, quyết định, chỉ thị của Chính phủ
điều chỉnh và quản lý mọi hoạt động kinh tế xã hội của đất nớc nhằm khuyến
khích các thành phần kinh tế phát triển và lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế xã
hội.
3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế NQD và các chính sách
kinh tế của Nhà nớc
3.1.Quan điểm của Đảng về phát triển khu vực kinh tế NQD
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
9
Nớc ta đi lên CNXH từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, các luận điểm của
Mác - Ang ghen - Lênin về thời kỳ quá độ có thể vận dụng vào nớc ta vì giai
đoạn này là giai đoạn Nhà nớc của giai cấp công nhân đang đảm nhận nhiệm vụ
lịch sử phát triển sức sản xuất, một nhiệm vụ đáng lẽ ra giai cấp t bản phải làm.
Mặt khác do lực lợng sản xuất phát triển không đồng đều giữa các ngành, các
vùng, vì vậy tất yếu tồn tại kinh tế NQD.
Tuy nhiên để có đợc nhận thức đúng đắn về sự tồn tại của các thành phần
nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp phát triển lớn hơn, khuyến khích phát
triển kinh tế t nhân rộng rãi, trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà
pháp luật không cấm. Tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp
lý để kinh tế NQD phát triển trên những hớng u tiên của Nhà nớc.
Ngoài ra còn nêu rõ ở nớc ta hiện nay có các thành phần kinh tế sau:
+ Kinh tế t bản Nhà nớc.
+ Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
+ Kinh tế t bản t nhân.
+ Kinh tế Nhà nớc.
+ Kinh tế Hợp tác.
Thành phần kinh tế Nhà n ớc : là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở
hữu nhà nớc về t liệu sản xuấtchủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn bộ số
vốn thuộc về Nhà nớc hoặc phần của Nhà nớc chiếm phần khống chế.
Kinh tế quốc doanh hiện nay vẫn giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế nớc ta, đợc hình thành do Nhà nớc đầu t xây dựng các cơ sở kinh tế trong tất
cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, ngoài ra còn đợc hình
thành bằng con đờng quốc hữu hoá các xí nghiệp t nhân.
Thành phần kinh tế tập thể: là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể,
gồm các dơn vị kinh tế do nhũng ngời lao động tự nguyện góp vốn, góp sức
kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.
Hợp tác xã là hình thức chủ yếu của nền kinh tế tập thể, bao gồm hợp tác
xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng. Những loại
hình hợp tác xã trên đợc hình thành với quy mô và mức độ khác nhau phù hợp
với sự phát triển của lực lợng sản xuất, yêu cầu của sản xuất và đời sống. Xu h-
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
11
ớng vận động và phát triển của kinh tế tập thể theo hớng kinh thành những cơ
sở, tổ hợp kinh tế công nông nghiệp để đi lên sản xuất lớn.
Thành phần kinh tế t bản t nhân : là thành phần kinh tế dựa trên chế độ t
Các thành phần kinh tế cơ bản trên tồn tại trên cơ sở ba loại sở hữu chủ
yếu: sở hữu Nhà nớc, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân. Ngoài ra, còn có những
hình thức tổ chức kinh tế hoạt động không thuộc thành phần kinh tế nào nh hình
thức kinh tế hỗn hợp nhiều loại sở hữu công ty, xí nghiệp cổ phần, liên doanh,
liên kết hai bên và nhiều bên giữa các chủ thể, giữa các thành phần kinh tế trong
và ngoài nớc.
Trên giác độ nghiên cứu, có thể phân chia khu vực kinh tế trong nớc
thành hai khu vực nhỏ hơn: khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh cho phù hợp với những thuật ngữ đang đợc sử dụng phổ biến
trong nhiều văn bản của Nhà nớc và trong các cuộc hội thảo.
Điểm khác biệt căn bản giữa thành phần kinh tế quốc doanh (KTQD) và
thành phần kinh tế NQD là tính chất sở hữu về t liệu sản xuất chủ yếu. Kinh tế
quốc doanh dựa trên sở hữu của Nhà nớc, kinh tế ngoài quốc doanh dựa trên sở
hữu t nhân, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp giữa t nhân với tập thể hay giữa các
t nhân với nhau. Đảng và Nhà nớc ta qua các kỳ Đại hội đã khẳng định kinh tế
quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, kinh tế ngoài quốc doanh giữ vai trò mở đuờng
cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nớc trong thời kỳ quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội.
3.2.Các chính sách kinh tế của Nhà nớc để phát triển kinh tế NQD
Quán triệt đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng nêu tại đại hội Đảng Cộng
sản Việt nam lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII và Nghị quyết các hội nghị
Trung ơng. Nhà nớc đã nhanh chóng cụ thể hóa thành những chính sách cụ thể
và luật hoá để thực hiện. Trớc hết cần phải đợc thể chế thành điều luật trong
hiến pháp, điều 15 Hiến pháp năm 1992 đã qui định Nhà nớc phát triển kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc,
theo định hớng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập
thể, sở hữu t nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.
Về kinh tế NQD, điều 21 Hiến pháp năm1992 qui định: kinh tế ngoài
quốc doanh đợc chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, đợc thành lập
nghiệp thành lập và hoạt động nên tuy mới chỉ sau một vài năm đã phát huy
những tác dụng to lớn.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
14
- Nghị định của Chính phủ về cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh
công thơng nghiệp dịch vụ: qui định về đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý và
hoạt động của cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp
định để thành lập doanh nghiệp. Theo Nghị định này mọi cá nhân, nhóm cá
nhân có nguyện vọng sản xuất kinh doanh chỉ thực hiện thủ tục khai báo đơn
giản, cơ quan quản lý Nhà nớc có trách nhiệm phải cấp đăng ký kinh doanh,
nếu cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh những ngành nghề không thuộc loại
cấm.
- Ban hành các luật thuế xuất nhập khẩu, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ
đặc biệt, thuế lợi tức - sau này thuế doanh thu thay thế bằng thuế gía trị gia
tăng, thuế lợi tức thay bằng thuế thu nhập doanh nghiệp, đợc áp dụng thống
nhất cho các thành phần kinh tế.
Việc ban hành các luật thuế áp dụng cho mọi thành phần kinh tế là sự thể
hiện rõ nét nhất tính chất bình đẳng của các thành phần kinh tế trong cạnh
tranh. Trớc năm 1990 nhằm phục vụ công cuộc cải tạo XHCN, Nhà nớc ta áp
dụng ba chính sách thu ngân sách cho ba khu vực khác nhau: Khu vực kinh tế
Nhà nớc áp dụng chính sách thu quốc doanh và phân phối lợi nhuận, khu vực
công thơng nghiệp và dịch vụ NQD áp dụng chính sách thu thuế công thơng
nghiệp và thuế hàng hoá, khu vực nông nghiệp áp dụng chính sách thu thuế
nông nghiệp. Ngay khu vực ngoài quốc doanh công thơng nghiệp và dịch vụ
cũng có sự phân biệt giữa kinh tế tập thể và kinh tế cá thể, theo khuynh hớng
khuyến khích kinh tế tập thể bằng u đãi khi tính thuế, miễn giảm thuế...
Để phù hợp với chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo cơ chế thị trờng, cần phải có một chính sách thuế thống nhất để tạo điều
kiện cạnh tranh công bằng và bình đẳng. Do đó việc ban hành các luật thuế áp
hiểu đầu t và đầu t có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nhào để kiếm đợc thật nhiều
lợi nhuận với những phơng án kinh doanh rất táo bạo và mạo hiểm. Đôi khi để
đạt đợc mục đích họ có thể xem thờng pháp luật kể cả trốn thuế... gây hậu quả
cho xã hội.
- Đối tợng kinh doanh lớn, kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực nhng về mặt
quy mô còn nhiều hạn chế, một số hoạt động ở lĩnh vực sản xuất do trình độ
công nghệ lạc hậu nên năng suất lao động thấp... Đối tợng kinh doanh vừa lớn
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
16
lại trải trên diện rộng ở khắp các địa phơng trong cả nớc làm cho việc quản lý
đối tợng thêm phức tạp.
- Khu vực kinh tế NQD có số đông ngời lao động là trình độ văn hoá thấp
dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp trong số những ngời lao động
ở khu vực này có cả những ngời già, cán bộ công nhân viên nghỉ hu, nghỉ mất
sức hoặc không có công việc làm phải kinh doanh để kiếm sống... Do đó việc
tuyên truyền giải thích chính sách gặp nhiều vấn đề khó khăn, công tác quản lý
có nhiều trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ, thiếu thông tin về thị tr-
ờng... vì vậy khó ứng phó đợc với tác động thị trờng bên ngoài.
- Khu vực kinh tế NQD có ý thức chấp hành pháp luật rất kém. Tình trạng
kinh doanh không có giấy phép hay vi phạm điều lệ đăng ký kinh doanh tơng
đối phổ biến. Theo số liệu điều tra liên ngành thì năm 1997 có 65% số hộ kinh
doanh là không đăng ký, 25% số doanh nghiệp kinh doanh vi phạm về đăng ký
kinh doanh... Đa số doanh nghiệp có sử dụng lao động vi phạm chế độ sử dụng
lao động nh không đóng bảo hiểm xã hội...Cũng tơng tự nh trên có 1 bộ phận
không nhỏ số hộ kinh doanh không xin cấp mã số thuế, không đăng ký nộp thuế
đối với các doanh nghiệp NQD cũng có tình trạng tơng tự, nhiều doanh nghiệp
xin thành lập nhng không hoạt động, còn tình trạng lập sổ sách kế toán, hoá
đơn, chứng từ không đúng thực tế nhằm mục đích trốn thuế diễn ra phổ biến.
- Khu vực kinh tế NQD có mô hình tổ chức quản lý và kinh doanh gọn
+ Các cơ sở kinh doanh, cửa hàng, cửa hiệu hạch toán phụ thuộc hoặc
báo sổ, Hợp tác xã, nộp thuế môn bài theo mức 550 nghìn đồng/ năm
+ ở các cơ sở kinh doanh trên có cửa hàng, điểm kinh doanh dịch vụ ở
nhiều nơi khác nhau, thì cửa hàng đó phải nộp thuế môn bài theo mức 325
nghìn đồng/năm.
- Các đối tợng khác nộp thuế môn bài theo biểu sau.
Các đối tợng khác gồm:
+ Hộ sản xuất kinh doanh cá thể.
+ Cán bộ công nhân viên, xã viên hợp tác xã, ngời lao động trong các
doanh nghiệp NQD nhận khoán tự trang trải mọi khoản chi phí, tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
18
+ Nhóm cán bộ công nhân viên, nhóm xã viên Hợp tác xã, nhóm ngời
lao động nhận khoán nhng từng cá nhân trong nhóm nhận khoán lại kinh doanh
riêng rẽ, từng cá nhân trong nhóm còn phải nộp thuế môn bài riêng.
+ Các cơ sở kinh doanh trên danh nghĩa là các công ty Cổ phần, công
ty TNHH...nhng từng thành viên của công ty vẫn kinh doanh độc lập chỉ nộp
một khoản tiền nhất định cho công ty để phục vụ yêu cầu quản lý chung thì thuế
môn bài thu theo từng thành viên.
Bảng 1: Biểu thuế môn bài áp dụng cho đối tợng khác nộp thuế
Đơn vị tính: nghìn đồng
Bậc thuế Thu nhập/ tháng Mức thuế cả năm
1 Trên 1250 850
2 Trên 900 đến 1250 550
3 Trên 600 đến 900 325
4 Trên 350 đến 600 165
5 Trên 150 đến 350 60
6 Dới 150 25
GTGT.
- Đối tợng nộp thuế là mọi tổ chức, cá nhân (không phân biệt thành
phần kinh tế) có hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch
vụ. Đối tợng phải kê khai thuế GTGT từng tháng và nộp thuế theo hạn thời hạn
ghi trong báo cáo nộp thuế của cơ quan thuế, chậm nhất không quá ngày 25 của
tháng tiếp theo. Hết năm phải kê khai để quyết toán thuế.
- Giá tính thuế GTGT là giá cha có thuế GTGT. Khi bán hàng hoá hay
cung cấp dịch vụ trên hoá đơn phải ghi rõ giá bán hàng cha có thuế GTGT, tiền
thuế GTGT phải nộp và giá bán gồm cả thuế GTGT.
- Về thuế suất: Có 4 mức thuế suất áp dụng đối với từng loại hàng hoá,
dịch vụ.
+ Mức 0% áp dụng cho hàng hoá xuất khẩu.
+ Mức 5% áp dụng đối với hàng hoá và dịch vụ cần khuyến khích sản
xuất tiêu dùng cần thiết cho nhu cầu đời sống.
+ Mức 10% áp dụng đối với các hàng hoá và dịch vụ phổ thông.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
20
+ Mức 20% áp dụng cho các loại hàng hoá, dịch vụ không khuyến
khích cần điều tiết cao
- Về phơng pháp có 2 phơng pháp: Khấu trừ thuế và tính trực tiếp trên
GTGT:
+ Phơng pháp khấu trừ thuế đợc áp dụng đối với mọi cơ sở kinh
doanh phải thực hiện chế độ hoá đơn GTGT và sổ sách kinh doanh, có căn cứ
xác định thuế đầu ra và thuế đầu vào để thực hiện chế độ khấu trừ thuế:
Thuế GTGT = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào
+ Phơng pháp trực tiếp đợc thực hiện đối với các cơ sở kinh doanh
không có điều kiện thực hiên chế độ sổ sách hoá đơn GTGT, chủ yếu áp dụng
đối với các hộ nhỏ, thuế tính theo tỷ lệ GTGT trên doanh thu khoán trong một
thời gian 6 tháng đến một năm.
Ngoài các đối tợng đợc miễn giảm thuế sau khi đã làm thủ tục hải quan
nh: hàng Viện trợ không hoàn lại, hàng là tài sản di chuyển, hàng trong tiêu
chuẩn hành lý miễn thuế của khách nhập cảnh... Luật thuế xuất, nhập khẩu hiện
hành còn quy định những đối tợng sau đợc xét miễn giảm thuế: hàng chuyên
dùng cho an ninh quốc phòng, nghiên cứu giáo dục và đào tạo...
Quy định nói trên cho thấy chính sách miễn giảm thuế hiện nay còn khá
rộng rãi so với các nớc trong khu vực làm cho chính sách thuế thiếu tính minh
bạch, giảm tính trung lập của thuế.
1.4. Thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)
Nh các luật thuế khác, luật thuế TTĐB quy định mọi tổ chức cá nhân
không phân biệt thành phần kinh tế có sản xuất kinh doanh hàng hoá và kinh
doanh dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế TTĐB là đối tợng nộp thuế TTĐB. Căn
cứ tính thuế TTĐB là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và thuế suất.
1.5. Các sắc thuế khác
Ngoài các sắc thuế nói trên, các cơ sở sản xuất kinh doanh còn phải nộp
các khoản thuế khác nh thuế nhà đất, thuế tài nguyên...Tuy nhiên vì các khoản
này không phát sinh thờng xuyên hay rất nhỏ nên không trình bày kỹ mục đích
ý nghĩa, nội dung chính sách thu.
2- Nội dung quản lí thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
2.1 Qui trình quản lí thu thuế đối với các doanh nghiệp
2.1.1 Đăng ký thuế và cấp mã số thuế
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
22
1- Doanh nghiệp lập đăng ký thuế:
Doanh nghiệp mới ra kinh doanh phải đăng ký với Cục thuế. Sau đó doanh
nghiệp gửi tờ khai đăng ký thuế tới cơ quan thuế.
2- Tiếp nhận đăng ký thuế:
Phòng Hành chính nhận tờ khai đăng ký thuế của các doanh nghiệp, từ các
chi cục gửi lên sau đó phân loại tờ khai đăng ký thuế của các doanh nghiệp theo
+ Thông báo thuế lần 1: Phòng máy tính tính nợ kỳ trớc chuyển
sang, tính nợ phải nộp kỳ này đa vào danh sách ấn định thuế và in thông báo
thuế thời gian đối với thuế GTTG là in trớc ngày 18 hàng thàng và đối với thuế
TNDN là ngày 15 của tháng thứ 3.
+Thông báo thuế lần 2: phòng quản lý thu theo dõi ĐTNT cha nộp
thuế lần1. Phòng máy tính ra thông báo thuế lần 2 số tiền là: số tiền thuế cha
nộp + số tiền phạt của thuế.
8- Xử lý nộp phạt:
+ Tính phạt nộp chậm: Phòng KH - KT - TK(MT) tính phạt 0,1%/
ngày trên số tiền thuế nộp chậm đối với các đối tợng nộp thuế nộp chậm tiền
thuế. Việc tính phạt nộp chậm căn cứ vào số ngày và số tiền thuế chậm.
+ Phạt hành chính: Phòng Quản lý thu hoặc phòng TT-XLTT xem
xét, lựa chọn đối tợng nộp thuế cần phạt thuế theo quy định tại thông t số
128/1998/TT-BTC về xử phạt hành chính để trình lãnh đạo Cục duyệt.
9- Lập lệnh thu: Phòng Quản lý thu theo dõi tình hình nợ đọng thuế, lựa
chọn và lập danh sách các đối tợng nộp thuế.
10- Nộp thuế: Đối tợng nộp thuế căn cứ vào tờ khai tính thuế của mình để
nộp thuế vào Kho bạc, phòng Quản lý thu có trách nhiệm theo dõi đối tợng nộp
thuế theo đúng hạn định.
11- Thu thuế tại Kho bạc:
12- Nhận giấy nộp tiền:
13- Lập kế hoạch kiểm tra đối tợng nộp thuế về kê khai thuế:
Phòng Thông tin - Xử lý thông tin và các phòng Quản lý thu khai thác
danh sách đối tợng nộp thuế có nghi vấn về kê khai thuế trên máy tính.
14- Xử lý danh sách đối tợng nộp thuế nghi vấn:
15- Kiểm tra trực tiếp đối tợng nộp thuế: Phòng TT XLTT phối hợp
với phòng quản lý thu thực hiện kiểm tra trực tiếp theo quy trình quy định.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
24
25