xây dỰNG mô HÌNH TÍNH TOÁN TRỮ LƯỢNG các BON RỪNG TRỒNG KEO LAI ở VIỆT NAM - Pdf 24


1

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÍNH TOÁN TRỮ LƯỢNG CÁC BON RỪNG TRỒNG
KEO LAI Ở VIỆT NAM

Vũ Tấn Phương
1
, Nguyễn Viết Xuân
1 Tóm tắt
Kết quả nghiên cứu là một phần kết quả thuộc đề tài cấp bộ “Nghiên cứu định giá rừng ở Việt Nam”.
Nghiên cứu tiến hành đo đếm sinh khối và trữ lượng các bon của rừng trồng keo lai tại miền Bắc,
miền Trung và miền Nam nhằm xây dựng mô hình tính toán trữ lượng các bon. Sử dụng phương pháp
điều tra sinh khối và xác định trữ lượng các bon của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu - IPCC
(IPCC, 2003) và xây dựng các mô hình toán dựa trên đường kính ngang ngực (DBH) để ước tính trữ
lượng các bon của rừng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tương quan chặt nhất giữa DBH và trữ lượng
các bon được thể hiện dưới dạng hàm mũ. Các mô hình toán đã xác lập cho từng vùng nghiên cứu
gồm tương quan giữa DBH với lượng các bon trong sinh khối thân, sinh khối trên mặt đất và tổng
sinh khối có tương quan chặt (với r > 0,9). Trên cơ sở phân tích tương quan, mô hình tính toán trữ
lượng các bon trong sinh khối theo các vùng nghiên cứu và cho toàn quốc được xác định. Các mô
hình toán này là cơ sở khoa học quan trọng cho việc kiểm kê khí nhà kính trong lĩnh vực lâm nghiệp
và đặc biệt là tính toán trữ lượng các bon của rừng trồng keo lai trong các dự án trồng rừng và tái
trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam.
Từ khoá: Các bon, CDM, Keo lai, sinh khối, Việt Nam.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Biến đổi khí hậu đang ngày càng trở nên rõ ràng và là mối đe dọa đối với nhiều quốc gia. Nguyên
nhân gây ra biến đổi khí hậu được khẳng định là do sự gia tăng nhanh chóng nồng độ khí nhà kính

(CDM) đã được triển khai ở nhiều bộ, ngành. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, các nghiên cứu cơ sở về vấn
đề này đã được quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu gồm nghiên cứu trữ lượng các bon trong các
thảm thực vật như cỏ tranh, lau lách và cây bụi (Vũ Tấn Phương và cs, 2005); trữ lượng các bon của
rừng trồng keo tai tượng, keo lá tràm, bạch đàn urophylla (Ngô Đình Quế và cs, 2006; Vũ Tấn
phương và cs, 2007); Thông ba lá (Nguyễn Ngọc Lung và cs, 2004).
Keo lai là loài cây được gây trồng khá phổ biến ở nhiều địa phương hiện nay do có khả năng sinh
trưởng nhanh, đặc biệt keo lai có khả năng sinh trưởng khá tốt trên các lập địa nghèo kiệt và thoái
hóa. Do vậy, Keo lai là loài cây phù hợp cho các vùng đất thoái hóa trong các dự án trồng rừng theo
cơ chế phát triển sạch và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, các nghiên cứu về sinh khối và trữ lượng các
bon về keo lai hầu như chưa được đề cập. Do vậy, nghiên cứu được tiến hành nhằm xây dựng mô
hình xác định trữ lượng các bon của rừng trồng keo lai. Việc xây dựng các cơ sở khoa học này có ý
nghĩa quan trọng trong việc kiểm kê khí nhà khí và thực hiện các dự án trồng rừng theo cơ chế phát
triển sạch ở Việt Nam.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Vật liệu
Nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng rừng trồng keo lai ở các tuổi từ 2-6, ở các điều kiện lập địa
khác nhau tại miền Bắc (Phú Thọ), miền Trung (Thừa Thiên Huế và Bình Định) và miền Nam (Gia
Lai và Đồng Nai). Trữ lượng các bon rừng trồng keo lai được giới hạn là phần trữ lượng trong
sinh khối cây sống. Trữ lượng các bon trong các bể chứa khác như trong thảm mục, trong đất
và trong sinh khối tầng cây bụi và thảm tươi dưới tán rừng không thuộc phạm vi nghiên cứu.
2. Phương pháp
Xác định sinh khối được thực hiện theo phương pháp giải tích cây tiêu chuẩn (IPCC, 2003). Cây tiêu
chuẩn được lựa chọn đại diện cho các điều kiện lập địa, khí hậu, tuổi rừng và kỹ thuật thâm canh.
Sinh khối cây tiêu chuẩn được xác định cho các bộ phận gồm thân, cành, lá và rễ. Đo đếm sinh khối
tươi được xác định trực tiếp bằng cân có độ chính xác 0,1 gam và sinh khối khô được xác định theo
phương pháp tủ sấy ở nhiệt độ 80 – 85
O
C.
Lượng các bon trong sinh khối được tính toán thông qua việc sử dụng hệ số mặc định của IPCC
(IPCC, 2003). Theo đó, trữ lượng các bon trong sinh khối được tính bằng 1/2 khối lượng sinh khối

(cây/ha)
DBH
(cm)
TMĐ DMĐ Tổng S%

R/S
4 1.060 11,27 56,50 10,68 67,18 41,36 0,19
5 970 12,99 76,31 16,73 93,04 32,56 0,21
Miền Bắc
6 930 14,88 93,21 17,18 110,38 20,43 0,19
2 2.000 6,52 16,70 3,74 20,44 19,47 0,23
3 1.500 9,48 34,31 7,56 41,87 18,33 0,22
4 1.500 10,99 56,65 11,49 68,15 19,98 0,20
Miền
Trung
5 1.050 13,93 62,71 16,03 78,74 27,74 0,27
3 1.600 7,69 26,08 6,03 32,11 15,79 0,23
4 1.300 12,99 83,88 12,84 96,72 13,18 0,15
5 1.500 12,88 85,56 16,28 101,83 19,57 0,19
Miền
Nam
6 1.200 13,54 99,81 16,07 118,76 13,00 0,16
Tỷ lệ R/S là tỷ lệ giữa sinh khối khô của rễ và tổng sinh khối khô trên mặt đất (gồm thân, cành và lá).
Khi biết được tỷ lệ này, có thể suy đoán sinh khối khô dưới mặt đất dựa trên trữ lượng trên mặt đất
của rừng. Tỷ lệ R/S ở tuổi 2 và 3 dao động từ 0,22 ÷ 0,23; ở tuổi 4 là khoảng 0,15 ÷ 0,2 và ở tuổi 5 và
6 là từ 0,16 ÷ 0,27. Điều này cho thấy tỷ lệ R/S không tuân theo một quy luật rõ ràng và không phụ
thuộc tuổi của lâm phần.
2. Trữ lượng các bon rừng trồng keo lai
Sử dụng hệ số mặc định về trữ lượng các bon trong sinh khối khô (hệ số này là 0,5) để tính toán trữ
lượng các bon trong sinh khối theo các bộ phận và của cả lâm phần (IPCC, 2003). Dựa trên kết quả

e). Tiếp đến là miền Bắc, khả năng hấp thụ bình quân của rừng keo lai là khoảng 9 tấn/ha/năm
(tương đương với 33 tấn CO
2
e/ha/năm). Khả năng hấp thụ các bon thấp nhất là rừng keo lai trồng ở
miền Trung, bình quân là 7 tấn các bon/ha/năm (tương đương với 26 tấn CO
2
e/ha/năm).
Xét về phân bố trữ lượng các bon theo các bộ phận cho thấy, trữ lượng các bon chủ yếu tập trung
ở trong sinh khối trên mặt đất (gồm lá, cành và thân), chiếm 80 – 86 % tổng trữ lượng các bon trong
sinh khối rừng.
3. Xây dựng mô hình tính toán trữ lượng các bon rừng trồng keo lai
Dựa trên kết quả đo đếm và tính toán trữ lượng các bon các cây tiêu chuẩn, tương quan giữa DBH và
trữ lượng các bon trong sinh khối của từng bộ phận được thiết lập dưới dạng liên hệ đường thẳng,
hàm logarit, hàm parabol bậc 2 và 3, hàm mũ. Kết quả cho thấy, tương quan giữa DBH và trữ lượng
các bon trong sinh khối có quan hệ chặt nhất ở dạng hàm mũ. Kết quả xây dựng tương quan giữa trữ
lượng các bon (Y) trong sinh khối theo các bộ phận (thân, cành, lá, tổng sinh khối trên mặt đất, sinh
khối dưới mặt đất và tổng sinh khối) và đường kính ngang ngực (DBH) được tổng hợp ở biểu sau.
Bảng 3. Tương quan giữa trữ lượng các bon (Y) trong sinh khối các bộ phận của rừng trồng keo
lai và đường kính ngang ngực (DBH)
Chỉ số thống kê Khu
vực
Tương quan giữa
trữ lượng các bon
trong sinh khối
các bộ phận với
DBH
Dạng phương
trình
b a r Pb Pa P
1. Thân Y = a*DBH

2,293 0,070 0,93 <0,01 <0,01 <0,01
5. DMĐ Y = a*DBH
b
2,294 0,015 0,94 <0,01 <0,01 <0,01
Miền Trung

6. Tổng sinh khối Y = a*DBH
b
2,296 0,085 0,94 <0,01 <0,01 <0,01
1. Thân Y = a*DBH
b
3,489 0,003 0,98 <0,01 <0,01 <0,01
2. Cành Y = a*DBH
b
1,606 0,073 0,63 0,054 0,18 0.054
3. Lá Y = a*DBH
b
-0,382 4,325 0,25 0,49 0,29 0,49
4. TMĐ Y = a*DBH
b
2,551 0,045 0,95 <0,01 <0,01 <0,01
5. DMĐ Y = a*DBH
b
2,066 0,027 0,94 <0,01 <0,01 <0,01
Miền Nam

6. Tổng sinh khối Y = a*DBH
b
2,472 0,065 0,96 <0,01 <0,01 <0,01
(Ghi chú: Trong các phương trình này, trữ lượng các bon tính bằng kg và DBH tính bằng cm).

= 0,021*DBH
2,72
với r = 0,951. Tuy nhiên kiểm tra các hệ số hồi quy đều
cho thấy không có sự thuần nhất (hệ số χ
2
= 11,67 của phương trình lớn hớn hệ số χ tra bảng: χ
2
tb
=
5,99). Do vậy không tồn tại phương trình tương quan chung cho cả 3 vùng từ các phương trình của
từng vùng.
Đối với các phương trình tương quan giữa trữ lượng các bon trong sinh khối rễ (Y
r
) và DBH ở 3
vùng nghiên cứu được gộp lại và có dạng: Y
r
= 0,0197*DBH
2,19
với hệ số tương quan r = 0,88. Kiểm
tra sự thuần nhất cho thấy hệ số χ
2
=0,44 nhỏ hơn χ
2
tb
= 5,99 với bậc tự do k = 2 do đó phương trình
tồn tại.
Với các phương trình tương quan giữa trữ lượng các bon trong tổng sinh khối (Y
ts
)với DBH ở cá
khác vực nghiên cứu tại miền Bắc, Trung và Nam, phương trình gộp chung có dạng:
6

ESTABLISHING CARBON ACCOUNTING MODELS FOR ACACIA HYBRID
PLANTATION IN VIETNAM

The research is implemented as a part of the ministerial level research project titled “Research on forest pricing
in Vietnam”. In this research, the measurement of biomass and carbon stock of Acacia hybrid plantations were
implemented in the northern, central and southern areas of Vietnam to establish allometric equations for carbon
accounting. The method used for biomass and carbon measuement is followed by Intergovernmental Panel on
Climate Change (IPCC, 2003) and modelling relationship between carbon stock in biomass and diameter breast
height (DBH) for estimating carbon stock of the stand. The research results shown that the allomeric equations
in the form of logarithmic function equations always have hight correlation coefficients (r), which explain a
strongly close relationship between DBH and carbon stock in biomass. In all 3 research regions, allomeric
equations between carbon stock of stem biomass, above ground tree biomass and total biomass and DBH
showed high correlation (r > 0,9). Based on the analysis of allomeric equations, general carbon accounting
models for all research areas are established. The models are of great important scientific basis for accounting
greenhouse gasses in forestry sector and expecially, for estimating carbon stock of Acacia hybrid platations in
Reforestation and Afforestation projects by Clean Mechanism Development (AR CDM) in Vietnam.
Tài liệu tham khảo
Brown, J and Pearce, D.W, 1994. The economic value of carbon storage in tropical forests, in J.Weiss
(ed), The Economics of Project Appraisal and the Environment, Cheltenham: Edward Elgar, 102-
23.
Brown, S, 1997. Estimating biomass and biomass change of tropical forests. A primer. FAO Forestry
Paper, 134. Rome, FAO
IPCC, 2003. Good practice guidance for land uses, land use change and forestry. IPCC National
Greenhouse Gas Inventories Programme.
Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân, 2004. Thử nghiệm tính toán giá trị bằng tiền của rừng
trồng trong cơ chế phát triển sạch. Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, Bộ Nông nghiệp và PTNT,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status