nghiên cứu sự ảnh hưởng của quá trình xông sinh đến chất lượng dược liệu ngưu tất - Pdf 24

Đặt Vấn Đề
Ngưu tất là một vị thuốc được dùng khá phổ biến trong Y học cổ truyền
với nhu cầu ngày càng tăng, được nhập trồng vào nước ta từ những năm 1960.
Hiện nay đã thích hợp với điều kiện nước ta và phát triển tốt, được trồng ở
nhiều nơi nhất là đồng bằng Bắc bộ như: xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh
Hưng Yên, thôn Thiết Trụ, huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, xã Ninh Hiệp
huyện Gia Lâm, trung tâm nghiên cứu cây trồng và chế biến thuốc Hà Nội và
một số nơi khác. Khi thu hoạch người ta thường sơ chế bằng phương pháp
xông sinh sau đó đem bán ra thị trường. Vậy vấn đề đặt ra là: tỉ lệ lưu huỳnh
dùng để xông là bao nhiêu, xông sinh xong cần sấy ở nhiệt độ bao nhiêu , bảo
quản bao lâu mới được sử dụng để đảm bảo không độc hại đến sức khoẻ con
người, đảm bảo được chất lượng của thuốc đạt được tiêu chuẩn dược điển
Viêt Nam và khu vực. Vì vậy chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu sự ảnh hưởng
của quá trình xông sinh đến chất lượng dược liệu ngưu tất. Mục đích : đánh
giá hàm lượng lưu huỳnh còn tồn dư, hàm lượng saponin toàn phần, hàm
lượng đường và độc tính cấp của dược liệu được sơ chế với các phương pháp
xông sinh khác nhau.Trên cơ sở đó có thể đề xuất phương pháp xông sinh
thích hợp cho dược liệu chất lượng tốt và an toàn cho người sử dụng. Để đạt
được mục đích trên, đề tài được tiến hành nghiên cứu với một số nội dung
sau:
-Xông sinh ngưu tất bằng các phương pháp khác nhau: Về liều lượng sinh,
thời gian xông, nhiệt độ sấy.
-Đánh giá hàm lượng lưu huỳnh tồn dư, hàm lượng saponin, đường tự do,và
độc tính cấp của các mẫu dược liệu.

1
Phần I: Tổng quan
1-Tổng quan về ngưu tất
1.1- Đặc điểm thực vật, phân bố và thu hái
Vị thuốc Ngưu tất là rễ phơi hay sấy khô của cây Ngưu tất:
Achyranthes bidentata Blume họ rau Dền Amaranthaceae.


O

O

H

O

H

C

H

3

O

H

O

O

H
- Inokosteron

Khi sử dụng làm thuốc người ta phải qua khâu chế biến bào chế, có
nhiều phương pháp chế biến khác nhau, tuỳ theo các mục đích điều trị chứng
bệnh khác nhau mà người thầy thuốc chọn phương pháp chế biến thích hợp.
- Ngưu tất thái dùng sống
Ngưu tất được rửa sạch, làm mềm, thái phiến vát dày 1-3mm (nếu rễ
to); cắt đoạn 3-5mm (nếu rễ nhỏ), phơi hoặc sấy khô để dùng. [10]
- Ngưu tất sao cám
Ngưu tất rửa sạch, thái phiến, để ráo nước. Sao cám nóng già, bốc khói
trắng, cho ngưu tất phiến vào sao đều đến khi có màu vàng. Lấy ra rây bỏ
cám.
- Ngưu tất trích rượu
Ngưu tất 10 kg
Ruợu 2 kg
Ngưu tất phiến sao nóng, phun rượu vào sao đến khô. Hoặc tẩm rượu
vào ngưu tất, ủ 30 phót- 1 giê cho ngấm rượu; sau sao tới khô.
- Ngưu tất thán
Đem ngưu tất sao đến khi phía ngoài bị đen hoàn toàn, bên trong vàng
đậm; có thể trích rượu sao đen nh trên.
- Ngưu tất sao đen
4
Lấy ngưu tất phiến, dùng nhỏ lửa sao cho đến khi xuất hiện các chấm
đen.
- Ngưu tất trích muối
Ngưu tất phiến 10 kg
Muối 0.2 kg
Muối hoà thành dung dịch đủ để tẩm vào ngưu tất đã thái phiến ; ủ 30
phót , sao khô.
1.5- Công năng chủ trị [4, 8, 9, 10]
- Hoạt huyết thông kinh hoạt lạc: dùng trong các trường hợp kinh
nguyệt bế, kinh nguyệt không đều.

tiện, phong thấp. Dùng trong còn có tác dụng sát trùng, chữa mẩn ngứa, mụn
nhọt.
Ngày dùng 2-3g dưới dạng thuốc bột hay thuốc viên.
6
Phần II:Thực nghiệm và kết quả
1- Nguyên liệu, phương tiện và phương pháp nghiên cứu
1.1- Nguyên liệu, phương tiện.
• Nguyên liệu
- Rễ ngưu tất tươi thu hoạch ở trung tâm nghiên cứu cây trồng và chế
biến cây thuốc Hà Nội.
- Diêm sinh lấy mẫu tại một số nơi dùng để chế biến thuốc.
. Xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm Hà Nội(Ký hiệu mẫu:S1)
.Thôn Nghĩa Trai, xã Tân Quang huyện Văn Lâm(Ký hiệu mẫu:S2)
.Thôn Thiết Trụ, huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên(Ký hiệu mẫu:S3)
.Trung tâm nghiên cứu cây trồng và chế biến thuốc Hà Nội (Ký hiệu
mẫu:S4)
• Hoá chất,thuốc thử
Cồn tuyệt đối, acid sulphuric 72%, dd KOH/cồn 0.5N, dd acid HCl
0.5N,ortho.Toluidin, Thioure, chỉ thị Methyl da cam, .đạt tiêu chuẩn do viện
Dược liệu cung cấp.
• Động vật thí nghiệm
Chuột nhắt trắng khoẻ mạnh,có khối lượng 20-22g do đủ tiêu chuẩnthí
nghiệm mua tại Hà Tây.
• Máy móc và trang thiết bị
- Máy đo độ Èm Precisa MA300 Thuỵ Sĩ.
- Máy quang phổ UV-VIS Cary 1E cua hãng Varian(Mỹ)
- Máy đo quang phổ tử ngoại (máy ASIMCO của Anh)
- Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử( máy AAS-Shimadza của Nhật)
1.2- Phương pháp thực nghiệm
1.2.1- Xông sinh ngưu tất

Pt: Lượng dược liệu (g) Pc: Lượng acid oleanoic(g)
B: Độ Èm của dược liệu
1.2.2.2- Định lượng đường tự do (TCCS VDL)
Thực hiện tại tại Khoa hoá phân tích-Viện dược liệu.
8
Theo phương pháp đo quang ở bước sóng λ=630nm , với chất chuẩn là
glucoza 0.1%, thuốc thử là O.Toluidin và Thioure.
Hàm lượng đường được tính theo công thức:
X (%) =
)100(
1000
BPDc
Dt
−××
×
Trong đó:
X%: Hàm lượng đường tự do tính theo Glucoza
Dt: Mật độ quang ống thử Dc: Mật độ quang ống
chuẩn
P: Lượng dược liệu(gam) B: Độ Èm của dược liệu(%)
1.2.2.3- Định lượng lưu huỳnh trong ngưu tất sau khi xông sinh và trong
dịch chiết nước và cồn
Thực hiện tại phòng phân tích môi trường- Viện công nghệ môi trường
- Định lượng theo phương pháp cân
Nguyên tắc: Mẫu được nghiền nhỏ, vô vơ hoá và kiềm chảy với
Na2CO3. Hỗn hợp nóng chảy được lấy bằng nước cất nóng. Acid hoá bằng
HCl và dùng để định lưu huỳnh dưới dạng BaSO4 bằng phương pháp trọng
lượng.
1.2.3- Thử độc tính cấp của lưu huỳnh và ngưu tất sau khi xông sinh
Thực hiện tại bộ môn phân tích - Trường đai học Dược Hà Nội

Ngưu tất sau khi thu hoạch về chặt bỏ phần thân, rũ sạch đất, chia thành
4 lô, mỗi lô khối lượng 20 kg, phơi nắng 2 ngày, rửa sạch bằng nước, để ráo
nước, buộc thành các bó nhỏ, xếp vào lò xông sinh và xông sinh với thời gian
1 ngày, một đêm với những lượng sinh khác nhau, theo các mẫu sau:
Mẫu 1: 0.5kg/tạ dược liệu (Ký hiệuM1). Mẫu 2: 1kg/tạ dược liệu (Ký hiệu
M2)
10
Mẫu 3: 1.5kg/tạ dược liệu (Ký hiệu M3). Mẫu 4: 3kg/tạ dược liệu (Ký hiệu
M4)
Xông sinh một ngàymột đêm, sau đó lấy ra sấy ở nhiệt độ 60°C cho
đến khô đạt độ Èm<15%. Bảo quản mẫu để nghiên cứu tiếp.
Kết quả thu được trình bày ở bảng 2.
- Nhận xét:
Ngưu tất khi đã chế củ nhuận dẻo, bẻ gập của không bị gẫy nh khi còn tươi.
Ngưu tất xông sinh trắng hơn và nhuận dẻo hơn ngưu tất không xông sinh.
Độ nhuận dẻo của ngưu tất phụ thuộc tỉ lệ thuận với độ thuỷ phần trong dược
liệu.
Màu sắc của cả 4 lô ngưu tất xông sinh với lượng lưu huỳnh khác nhau
nhưng đều giống nhau(Xem ảnh) sau khi sấy khô ta không ngửi thấy mùi lưu
huỳnh. Nh vậy bằng cảm quan ta khó phát hiện được dược liệu có xông sinh
hay không.
11
12
Bảng 2: Tỷ lệ dược liệu khô và một số chỉ tiêu ở các lô thực nghiệm
Các chỉ tiêu
Các mẫu
M1 M2 M3 M4
Khối lượng mẫu tươi
(kg)
20 20 20 20

nh nhau.Sau khi sấy khô ta cũng không ngửi thấy mùi lưu huỳnh trong dược
liệu (xem ảnh )
2.1.3. Sấy ở nhiệt độ khác nhau
Ngưu tất sau khi thu hoạch chặt bỏ phần thân, rũ sạch đất , phơi 2
ngày, đem rửa sạch, sấy ở nhiệt độ 60°C (kí hiệu mẫu T1), 70°C(kí hiệu
T2) , 80°C(kí hiệu T3), 100°C(kí hiệu T4) đến khi đạt độ thuỷ phần <15%.
Bảo quản các mẫu. Kết quả ghi ở bảng 4
Bảng 4:Tỉ lệ dược liệu khô và một số chỉ tiêu ở các lô thực nghiệm
Các chỉ tiêu Các mẫu
T1 T2 T3 T4
Khối lượng mẫu tươi(kg)
2 2 2 2
Độ Èm 10.26 12.15 13.45 14.03
Nhiệt độ sấy
60°C 60°C 60°C 60°C
Khối lượng khô(kg) 0.46 0.51 0.47 0.56
Tỉ lệ % khô/ tươi
23.00 25.50 23.50 28.00
Màu sắc Nâu tối Nâu tối Nâu tối Nâu tối
Độ nhuận dẻo Dẻo kém Dẻo kém Dẻo kém Dẻo kém
- Nhận xét:
Sau khi chế dược liệu có màu nâu tối hơn mẫu xông sinh và không
nhuận dẻo bằng các mẫu xông sinh.
2.2.Định lượng lưu huỳnh trong ngưu tất sau khi xông
14
2.2.1. Định lượng lưu huỳnh trong ngưu tất ngay sau khi xông
Ngay sau khi xông xong, các mẫư được đem định lượng lưu huỳnh. Ta có:
a.Kết quả các mẫu M1, M2, M3, M4 được ghi ở bảng 5, hình 1.
Bảng 5: Hàm lượng lưu huỳnh trong dược liệu sau khi xông ở các sấy với
lượng sinh khác nhau.

Mẫu M5 M6 M7
Độ Èm 61.55 62.78 58.67
Hàm lượng 4.81 5.21 6.13
Nhận xét:
- Hàm lượng lưu huỳnh trong dược liệu sau khi xông tỉ lệ thuận với thời gian
đem xông (Hình 2).

4.81
5.21
6.13
0
1
2
3
4
5
6
7
Hµm lîng
%
M5
M6
M7

Hình 2: Biểu đồ biểu diễn hàm lượng lưu huỳnh trong dược liệu sau khi
xôngở các mẫu sấy với thời gian khác nhau.
2.2.2.Định lượng lưu huỳnh trong ngưu tất sau khi sấy
16
Sau khi sấy khô các mẫu xông sinh, ta tiến hành định lượng lưu huỳnh trong
các mẫu xông sinh được kết quả nh ở bảng 7, và hình 3

Hàm lượng lưu huỳnh
%
0.14% 0.25% 0.14% 0.24%
Nhận xét: Hàm lượng lưu huỳnh trong dược liệu sau khi sấy và lượng
lưu huỳnh trong cao 1:1 của dược liệu giảm đi hàng chục lần. Và khi chiết
bằng cồn thì dư lượng lưu huỳnh giảm đi so với chiết bằng nước 1.7 lần.

0.25
0.14
0.24
0.14
0
0.05
0.1
0.15
0.2
0.25
M1 M4
ChiÕt níc
ChiÕt cån
Hình 4: Hàm lượng lưu huỳnh trong dịch chiết nước và dịch chiết cồn
(mẫu M1 và M4)
2.3. Định lượng một số thành phần hoá học trong ngưu tất
2.3.1- Định lượng đường tự do
18
Hµm lîng
Tiến hành
Cân chính xác khoảng 1g dược liệu cho vào cối sứ, nghiền kĩ. Dùng
nước kéo dần vào bình định mức 100 ml, tráng kĩ chày cối và thêm nước vừa
đủ 100ml, lắc đều, lọc qua giấy lọc, bỏ dịch đầu, thu lấy dịch trong.

0.5
1
1.5
2
2.5
3
Hµm lîng %
T0 M1 M2 M3 M4 M5 M6 M7
Hình 5: Hàm lượng đường tự do trong các mẫu thử
Nhận xét:
Hàm lượng đường tự do trong các mẫu xông sinh có sự biến đổi không
đáng kể từ 1,22 % đến 1,49 % nhưng đều thấp hơn 2 lần so với mẫu không
xông sinh (2,54 %). Chứng tỏ quá trình xông sinh Ýt nhiều ảnh hưởng tới
hàm lượng đường tự do trong ngưu tất.
2.3.2 Định lượng saponin
- Mẫu thử: cân chính xác khoảng 1 gam bột ngưu tất, cho vào cối sứ
nghiền kĩ với cồn 80° , từng Ýt một, chuyển vào bình định mức 100ml. Tráng
chày cối bằng cồn 80°, thêm cồn đến vạch, lắc đều, lọc lấy dịch trong.
20
- Mẫu chuẩn: cân chính xác khoảng 0.04g acid oleanolic, hoà tan trong
cồn 80° vừa đủ 100ml.
- Pha thuốc thử:
. Dung dịch Vanilin 8% . Acid sulfuric 72%
Vanilin 800mg Nước cất 28 ml
Cồn tuyệt đối 10ml Acid sulfuric 72 ml
. Thuốc thử ortho toluidin
O.Toluidin 8ml
Thioure 0.15g
Acid Acetic vừa đủ 100 ml
- Tiến hành: Lần lượt hút chính xác thể tích các dung dịch thử và thuốc

Lần 3 10.08 9.84 10.26
Trung bình 10.13 10.01 10.07
- Nhận xét:
Ta thấy hàm lượng saponin trong các mẫu khác nhau không đáng kể.
Nh vậy lượng lưu huỳnh dùng để sấy và thời gian sấy không ảnh hưởng đến
hàm lượng saponin trong dược liệu.
2.4-Thử độc tính cấp của lưu huỳnh và các mẫu xông sinh
2.4.1. Thử độc tính cấp của lưu huỳnh
Thực hiện theo phương pháp Karber
- Tiến hành: Pha hỗn dịch lưu huỳnh nồng độ 0.032gam/ml, dung môi là
glycerin, chất gây thấm là tween 80.
Những nhóm 12 chuột được cho uống hỗn dịch lưu huỳnh với liều tăng dần.
Theo dõi và ghi số chuột chết trong 3 ngày ta có kết quả nh ở bảng 12.
22
Bảng 12: Liều độc LD50 của lưu huỳnh
Số thứ
tự
Liều
uống
(g/kg)
Số
chuột
thí
nghiệm
Số
chuột
chết
Số
chuột
sống

sắc, gạn 3 lần và được cô thành cao với tỉ lệ 5 : 1
Thời gian theo dõi là 3 ngày.
23
Nếu liều tối đa gây chết 100%, thì ta xác định LD50 theo công thức
Benrens-Karber:
LD50 = LD100 -
n
dz
×∑
Trong đó:
d: khoảng cách giữa hai liều kế tiếp
z: Trị số trung bình chuột chết gây bởi hai liều kế tiếp
n: số chuột trung bình trong mỗi nhóm
s: số chuột sống trung bình giữa 2 nhóm.
Nếu liều tối đa có thể cho chuột uống mà không gây chết 100 %, mà chỉ gây
chết ≥ 50 % thì xác định LD50 theo công thức Benrens-Schrosser:
LD50 =D1+a
Trong đó
a =
AB
Ad

−×
)5.0(
d = D2-D1
D1:Liều gây chết Ýt hơn 50 %
D2 :Liều gây chết lớn hơn hoặc bằng 50 %

∑ ∑



×
zd
Từ trên xuống D1


×
zd
+

×
sd
Từ D2 xuống
d: Hiệu giữa 2 liều liên tiếp
z: Số chuột chết trung bình giữa 2 liều
s: Số sống trung bình giữa 2 liều
-Tiến hành thử LD50 ta có kết quả thí nghiệm sau:
24
a. Mẫu T0 : Kết quả ghi ở bảng 13
Bảng 13:Kết quả thử độc tính cấp của T0
TT Liều uống
g/kg
Số chuột
thí nghiệm
Số chuột
chết
Trạng thái của chuột chết
1 100 12 0 Tim, phổi, gan không có hiện
tượng xung huyết.Co thắt cơ
trơn, thành ruột căng, có biểu

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status