PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang trở thành thế mạnh trong sản xuất
nông nghiệp. Sản phẩm chăn nuôi không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước
mà còn phục vụ cho xuất khẩu. Chăn nuôi gia cầm phát triển cung cấp nguồn
thực phẩm, tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, giải quyết công ăn
việc làm cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nước ta. Xã hội ngày càng phát
triển, nhu cầu của con người càng tăng cả về số lượng và chất lượng gia cầm,
đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tìm hiểu ra các biện pháp lai tạo giống mới. Thú
chơi cây cảnh, cá cảnh, chó cảnh đã phát triển rất nhanh từ nhiều năm nay.
Trong thời gian gần đây đã có rất nhiều người còn chọn gà để chơi cảnh [50].
Để chọn được một cặp gà giống đẹp (gồm con trống và con mái) có nhiều
cách, người chơi có thể mua lại, trao đổi với những người cùng chơi hoặc tự tay
cho ấp trứng, sau đó chọn ra những con tốt để chơi và làm giống. Người đam mê
gà thực thụ thường chọn cách thứ hai, bởi ai cũng muốn tự tay nuôi nấng, chăm
sóc những chú gà “cưng” theo sở thích ngay từ khi chúng vừa chào đời. Sau khi
chọn được giống gà tốt, việc lai tạo thế nào để giữ giống và làm cho giống ngày
càng tốt hơn cũng không phải là việc đơn giản. Trong thực tế có những loài gia
cầm có tuổi lớn không đủ khả năng giao phối tự nhiên, hoặc có những con gà
trống thường xuyên hành hạ gà mái trong mỗi lần giao phối, những cặp gà
không tương thích thường gây nhiều khó khăn cho việc giao phối tự nhiên. Thụ
tinh nhân tạo trực tiếp sẽ giảm được một số lượng gà trống cần thiết và sẽ quen
thuộc và chủ động hơn với các nông dân chăn nuôi gia cầm cũng như những
người chơi gia cầm cảnh để có thể tạo ra được những giống mà mình mong
muốn. Chăn nuôi gia cầm có lợi nhuận phụ thuộc vào chất lượng gà con, thức ăn
và quản lý tốt. Để sản xuất gà đủ cho nhu cầu ngày càng tăng, gà con gà thịt
khỏe mạnh và các giống mới phải được sản xuất. Nhiều trang trại gia cầm
thương phẩm chú ý việc nuôi dưỡng gà bố mẹ để thực hiện việc thụ tinh nhân
tạo có thể làm giảm chi phí quản lý.
Để tránh thiệt hại trong khả năng sinh sản, đánh giá thích hợp của tinh
2.1.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm trên thế giới
Trước đây, chăn nuôi gia cầm chỉ là một ngành sản xuất phụ. Nuôi gia
cầm chỉ để có thêm ít thức ăn hàng ngày, có thêm chút ít tiền và trong nhiều
trường hợp nuôi gia cầm chỉ mang mục đích tiêu khiển (gà nuôi làm cảnh xem
chơi, gà nuôi để tham gia lễ hội ). Trong vài ba chục năm trở lại đây, chăn nuôi
gia cầm đã có bước phát triển nhảy vọt. Chăn nuôi gia cầm đã chuyển từ phương
thức chăn nuôi “nông nghiệp” sang phương thức chăn nuôi “công nghiệp”. Các
tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được nghiên cứu, ứng dụng nhanh chóng trong
chăn nuôi gia cầm. Kết quả của quá trình này là các đơn vị chăn nuôi gia cầm
quy mô lớn thay thế dần cho các cơ sở chăn nuôi nhỏ - một sự chuyển đổi cơ
bản trên tất cả các lĩnh vực của ngành sản xuất chăn nuôi gia cầm. Nhờ việc ứng
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về di truyền, giống, dinh dưỡng, công nghệ
sản xuất, máy ấp trứng mà chăn gia cầm thế giới đã phát triển nhanh cả về số
lượng đầu con, sản lượng trứng, thịt, chất lượng sản phẩm, giá thành trong sản
xuất sản phẩm gia cầm giảm đi, chất dinh dưỡng cung cấp cho con người với giá
rẻ ngày càng tăng lên nhờ vào nguồn trứng và thịt gia cầm.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới – FAO năm 2009
có tổng đàn gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con [54]. Tốc
độ tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua
thường chỉ đạt trên dưới 1% năm. Chăn nuôi gà đứng thứ nhất là Trung Quốc
4.702,2 triệu con gà, đứng thứ nhì là Indonesia 1.341,7 triệu, đứng thứ ba là
Brazin 1.205 triệu, đứng thứ bốn là Ấn Độ 613 triệu và đứng thứ năm là Iran
513 triệu con gà. Việt Nam về chăn nuôi gà có 200 triệu con đứng thứ 13 thế
giới. Chăn nuôi Vịt đứng thứ nhất là Trung Quốc có 771 triệu con, đứng thứ nhì
3
là Việt Nam 84 triệu, đứng thứ ba là Indonesia 42,3 triệu, đứng thứ bốn là
Bangladesh 24 triệu và đứng thứ năm là Pháp có 22,5 triệu con Vịt. Về số lượng
gia cầm của thế giới, các nước Trung quốc, Hoa kỳ, Ấn Độ, Brazin, Indonesia,
Đức là những cường quốc trong khi đó Việt Nam cũng là nước có tên tuổi về
chăn nuôi: đứng thứ 2 về số lượng vịt, thứ 4 về heo, thứ 6 về số lượng trâu và
lượng và chất lượng như ngành chăn nuôi gia cầm, trong đó các thành tựu khoa
học và công nghệ đã giữ vai trò quyết định. Công tác giống đối với gia cầm, đối
tượng vật nuôi đã và đang được áp dụng nhiều nhất và có hiệu quả nhất các tiến
bộ của di truyền trong công tác chọn lọc, lai tạo giống mới và sử dụng ưu thế lai
để tạo ra các tổ hợp lai tối ưu đối với các giống gia cầm chuyên thịt, chuyên
trứng cao sản cũng như để cải tạo các giống địa phương. Nếu như ở thập niên
60-70 chỉ là các tổ hợp lai giữa 2 giống hay 2 dòng hoặc ở thập niên 70-80 là
các tổ hợp lai giữa 3 dòng thì ở những năm 80 trở lại đây, các con lai giữa 4, 6, 8
dòng với ưu thế lai và năng suất cao nhất đã được sử dụng rộng rãi trong sản
xuất. Các hãng giống nổi tiếng hiện nay như Arbor Acres, Hubbardm Avian,
Cobb, Hyline, H&N, Peterson, Dekalb, Euribrid (Hà Lan); Gnmaud Freres
(Pháp); Ross, Chery Valley (Anh); Lohmann (Đức); Shaver (Canađa); Tetra
Babolna (Hungari) đã cung cấp cho ngành gia cầm thế giới những giống tuyệt
hảo. Những giống gà chuyên thịt lông trắng mà một gà bố mẹ có thể sản xuất
150-160 gà con/năm, gà thịt thương phẩm chỉ cần nuôi 38-42 ngày đã đạt khối
lượng sống 2,0-2,3kg, tiêu tốn 1,70-1,90kg thức ăn/kg tăng trọng. Các gà chuyên
trứng vỏ trắng hoặc vỏ nâu với năng suất 310-340 trứng/năm, tiêu tốn 2,0 -
2,2kg thức ăn/kg trứng. Các giống vịt siêu thịt mà một mái bố mẹ sản xuất được
170-180 vịt con/năm, vịt siêu thịt thương phẩm chỉ cần nuôi 45-47 ngày đã đạt
3,3-3,5 kg khối lượng và tiêu tốn 2,25 - 2,35 kg thức ăn/kg thịt. Các vịt siêu
trứng với sản lượng 300 - 320 trứng/năm [5].
Ở các nước chậm phát triển, chăn nuôi gia cầm còn phổ biến hình thức
chăn thả tự nhiên, nuôi tận dụng, nên năng suất thấp, hiệu quả chưa cao. Các nhà
chọn giống đã tập trung cải tạo các giống gà vịt địa phương. Qua lai tạo, chọn
lọc đã tạo ra các giống mới vừa phù hợp với truyền thống địa phương, có sức
chống chịu cao với stress môi trường, dễ thích nghi với các vùng tiểu khí hậu
khắc nghiệt, nóng và ẩm, dễ nuôi, ít bệnh tật, chúng lại phù hợp với các phương
thức chăn nuôi khác nhau (nuôi công nghiệp, bán công nghiệp hoặc chăn thả tự
nhiên). Sản phẩm (thịt, trứng) của các giống này rất phù hợp với thị hiếu tiêu
dùng do có chất lượng thơm ngon, giữ được hương vị của giống địa phương. Gà
cao, thịt thơm ngon, chịu khó kiếm mồi, ở từng vùng còn có khá nhiều giống gia
cầm khác như: gà Hồ, gà Đông Cảo, gà Mía, gà Tre, gà Tàu vàng, gà chọi (gà
nòi), gà ác, gà mèo, vịt cỏ, vịt Ô môn, vịt Bạch tuyết, ngan nội, ngỗng cỏ, ngỗng
sư tử, gà tây Vào những năm cuối thập kỷ 60, một số đàn gà công nghiệp lần
đầu tiên được nhập vào nước ta như: Hurbard thịt, Hubbard trứng (Hubbard
Golden Comet), ở miền Nam và gà chuyên thịt Comish, Plymout Rock, gà
chuyên trứng Sekxalin, Te ra, ở miền Bắc. Do chưa có kinh nghiệm, trình độ kỹ
6
thuật còn hạn chế nên các đàn gà công nghiệp vào nước ta thời kỳ đó năng suất
rất thấp, dịch bệnh nhiều nên hiệu quả kém.
Trước đây, rất nhiều giống gà bố mẹ cao sản mà thế giới đã được nhập
vào nuôi ở nước ta như gà thịt: Hubbard, Arbor Acres (AA), Avian, ở miền
Nam, gà AA, ISA, Lohmann, Ross ở miền Bắc, các gà chuyên trứng màu như:
ISA Brown, Hyline, Brown Nick, Dekalb,Tetra, Lohmann Brown. Các giống gà
chuyên trứng chuyên thịt cao sản này đã tạo bước nhảy vọt về chỉ tiêu năng suất
trong chăn nuôi gà công nghiệp. Khi tiếp nhận giống mới, chúng ta được tiếp
nhận sự chuyển giao công nghệ mới, các tiến bộ kỹ thuật mới về chọn giống,
nuôi dưỡng, phòng bệnh, về dinh dưỡng, ấp nhân tạo và cả về tổ chức sản xuất,
quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Đến nay chúng ta đã có các giống gà chuyên thịt
công nghiệp và chỉ với 45-49 ngày nuôi đã đạt khối lượng sống trên 2kg/con,
tiêu tốn 1,9-2,2kg thức ăn/kg tăng trọng, nhiều thịt và thịt ngon. Các giống gà đẻ
trứng trắng trứng màu một năm cho 280-320 quả trứng, tiêu tốn 1,5-1,7 kg thức
ăn/10 quả trứng [2]. Việc không ngừng nghiên cứu, lựa chọn các tổ hợp lai tối
ưu giữa các giống trong điều kiện nước ta, đặc biệt là việc nghiên cứu để xác
định tiêu chuẩn dinh dưỡng và phương pháp cho ăn đối với các giống gà nhập
nội đã đạt được những tiến bộ kỹ thuật có giá trị khoa học và thực tiễn cao.
Chăn nuôi gà chăn thả với các giống truyền thống địa phương cũng không
ngừng phát triển và hiệu quả ngày càng tăng bởi các giống địa phương đã được
đầu tư để bảo tồn quỹ gen nhằm chọn lọc để nâng cao năng suất. Việc kết hợp
sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tự chế biến đảm bảo các nhu cầu dinh dưỡng
chủ yếu ở phía Bắc (66%) trong đó chủ yếu ở vùng núi và Trung du phía Bắc
(27,5%) và vùng đồng bằng sông Hồng (24,7%). Đàn gà phía Nam không nhiều
(34%) và chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (15,6%). Năm
2009, tổng đàn gia cầm đạt 280,10 triệu con tăng 12,83% so với thời điểm 2008.
Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 47 trên thế giới và thứ 5 ở khu vực ASEAN về
sản xuất thịt và trứng gia cầm. Năm 2009, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất
chuồng năm 2009 ước đạt 502,8 nghìn tấn, tăng 12,16%, sản lượng trứng gia
cầm các loại ước đạt 592,1 triệu quả, tăng 8,98% so với năm 2008 [1].
Bảng 2: Số lượng gia cầm trong nước ta qua các năm [21]
Năm
Đối tượng
2008 2009 2010
Tổng (triệu con) 252,0 280,10 286,8
Gà (triệu con) 201,0 228,0 218,2
Vịt (triệu con) 51,0 52,9 68,6
Cùng với sự phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng và hiệu quả
của chăn nuôi gà, chăn nuôi vịt và thủy cầm khác cũng đã được quan tâm và có
8
bước phát triển đáng kể. Nhiều giống vịt năng suất cao đã được nhập vào nước
ta như vịt Bắc Kinh (1970), vịt Anh đào Hung (1975, 1983), vịt Anh đào Tiệp
(1980), vịt Szarwas (1990). Đặc biệt là nhập vịt siêu thịt CV. Super M (1989,
1990) nuôi 56 ngày, đạt khối lượng sống 2,6 - 2,8kg, tiêu tốn 2,8-3,0kg thức
ăn/kg tăng trọng [5].
Trên 44% đàn vịt tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long. Chăn nuôi
ngỗng không phát triển ở quy mô nhỏ ở một số địa phương, giống ngỗng
Rheiland được nhập vào nước ta năm 1972 từ Hungari. Chăn nuôi ngan đang có
xu hướng phát triển nhanh do thịt ngon, thị hiếu sử dụng tăng. Viện chăn nuôi đã
nhập 2 dòng ngan Pháp R31 và R51 vào năm 1992 và năm 1996 với các chỉ tiêu
sinh sản và khả năng cho thịt cao hơn rất nhiều so với ngan nội. Ngan Pháp khi
lai với ngan nội đã cải thiện rõ rệt khả năng sinh sản và khả năng cho thịt, giảm
đã thành công bước đầu trong việc nuôi thử nghiệm đà điểu châu Phi. Hiện nay,
trung tâm đã tiến hành đề tài "Nghiên cứu chọn tạo và phát triển 4 dòng gà lông
màu hướng thịt” với mục tiêu chọn tạo bộ giống gà thịt lông màu năng suất, chất
lượng cao phục vụ chăn nuôi tập trung gồm 4 dòng: Dòng trống TP4: Lông màu
nâu cánh gián, khối lượng cơ thể 56 ngày tuổi đạt 2,2-2,3kg. Dòng mái TP1:
Lông màu vàng nâu nhạt xám tro cườm cổ, năng suất trứng đạt 175-178
quả/mái/năm. Dòng mái TP2: Lông màu vàng xám tro, cườm cổ, năng suất
trứng đạt 170-172 quả/mái/năm. Dòng mái TP3: Lông màu nâu xám tro, cườm
cổ, năng suất trứng đạt 179-183 quả/mái/năm. Song song quá trình chọn tạo
nhóm tác giả đã tiến hành lai giữa các dòng (TP4 x TP3; TP4 x TP1 và TP4 x
TP2) để tạo con thương phẩm, kết quả theo dõi cho thấy: Gà có lông màu vàng,
nâu vàng có sọc đen đặc trưng của gà chăn thả. Chân, mỏ, da màu vàng, phù hợp
với thị hiếu của người tiêu dùng. Nhìn tổng quan: chăn nuôi gia cầm nước ta
đang phát triển khá nhanh và vững chắc cả về quy mô, sản lượng, chất lượng và
hiệu quả. Sắp tới khi chúng ta mở được thị trường tiêu thụ và ký các hiệp định
thú y, thì thịt vịt và các sản phẩm từ con vịt và thịt gà "ta" đông lạnh chắc chắn
sẽ được xuất khẩu tới các thị trường có hiệu quả cao như: Nhật Bản, Hồng
Kông, Singapo, Đài Loan, Hàn Quốc Hiện nay cũng như lâu dài, ngành gia
cầm nước ta cần phát triền nhanh hơn để đáp ứng yêu cầu tiêu thụ nội địa ngày
càng tăng và để xuất khẩu. Nhằm khai thác tối đa tiềm năng của đất nước, chăn
nuôi gia cầm cần đẩy mạnh phong trào chăn nuôi, tận dụng ở nông thôn, kết hợp
phương thức nuôi bán công nghiệp và thả vườn ở mọi vùng đồng bằng, trung du,
miền núi dần dần hình thành các trang trại quy mô lớn nhằm tạo sản phẩm hàng
hoá về gia cầm, năng suất khá, chất lượng thịt trứng thơm ngon, an toàn vệ sinh,
phù hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
2.1.3. Tình hình phát triển thụ tinh nhân tạo gia cầm
10
Năm 1677, Leeuwenhoek đã phát hiện tinh trùng qua kính hiển vi. Thụ
tinh nhân tạo được sử dụng trong nhiều loài động vật không phải con người, bao
gồm cừu, ngựa, gia súc, lợn, chó, gà tây, thậm chí cả loài ong mật. Thụ tinh
sinh tinh gấp khúc nối với nhau, tạo thành mạng lưới dày. Những phần riêng biệt
11
của ống sinh tinh hơi phình to. Ở đây diễn ra sự hình thành tế bào sinh dục. Trên
bề mặt
cắt ngang của ống gấp khúc, ta thấy lớp ngoài cùng là mô liên kết hình
sợi, mô này tạo ra
màng đáy. Bên trong nó có 5 - 6 lớp tế bào tạo thành độ dày
thành ống. Giữa các lớp đó có những tế bào hình chóp - tế bào Sertoiy, chân
những tế bào này nằm ở màng đáy, còn đỉnh của chúng hướng vào giữa ống.
Những tế bào này đảm nhiệm chức năng dinh dưỡng, giữa chúng
có tế bào tinh
trùng ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Gần màng đáy, ống sinh tinh là
nguyên bào tinh, trên nó là tinh bào sơ cấp (cấp I) và tinh bào thứ cấp (cấp II),
sau đó là tiền tinh trùng và tinh trùng. Tinh trùng trưởng thành xâm nhập vào ống
dẫn tinh, từ đó vào mào tinh hoàn và vào ống dẫn tinh. Mào tinh hoàn của gia cầm
phát triển yếu, một số lượng lớn ống dẫn từ mạng lưới tinh hoàn ăn sâu vào đó.
Những ống dẫn nhỏ này tạo thành ống dẫn, là nơi bắt đầu của ống dẫn tinh.
Trong mào tinh hoàn, tinh trùng tiếp tục hoàn thiện và tăng thêm khả năng thụ
tinh của
chúng. Tinh dịch được hình thành ở những ống gấp khúc trong tinh
hoàn. Nó tạo ra môi
trường cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của tế bào sinh
dục. Ống dẫn tinh có dạng hình ống nhỏ, gấp khúc, thành ống cấu tạo bởi lớp niêm
mạc, cơ và thanh mạc. Ống dẫn tinh nối với ống dẫn của mào tinh hoàn và vào
tận phần giữa của ổ nhớp. Phần cuối cùng ống dẫn tinh là chỗ phình to hình bong
bóng. Đây là nơi tích tụ tinh dịch. Trong huyệt, ống dẫn tinh được kết thúc bằng
những gờ nhỏ nằm ở phía ngoài ống dẫn nước tiểu. Cấu tạo của ống dẫn tinh thay
đổi phụ thuộc vào trạng thái chức năng của bộ máy sinh dục. Trong thời gian hoạt
động sinh dục, ống dẫn tinh to ra, thành ống dày lên, tăng số lượng gấp khúc [2;4].
Hình 1: Sơ đồ cấu tạo cơ quan sinh dục gà trống
tăng về kích thước. Những tế bào như vậy gọi là tinh bào thứ nhất. Trong nhân
những nhân tế bào này, thể nhiễm sắc của nhân hình thành từng cặp, sau đó xảy ra
quá trình tiếp hợp nhiễm sắc. Trong thời điểm này, chất dinh dưỡng vào nguyên
bào chậm dần và giai đoạn sinh trưởng cũng không được tiến hành nữa [4].
Trong nhân tế bào xuất hiện những nhiễm sắc tứ liên, trong lúc đó số
lượng nhiễm sắc tứ
liên trùng với số đôi nhiễm sắc trong nguyên bào tinh. Tiếp
theo là giai đoạn trưởng thành.
Giai đoạn này gồm hai lần phân chia liên tiếp.
Sau lần chia thứ nhất, mỗi tinh bào thứ nhất tạo thành 2 tinh bào thứ hai. Sau đó
13
bắt đầu phân chia lần thứ hai và mỗi tinh bào thứ hai tạo thành hai tế bào mới -
tiền tinh trùng, trong nhân của nó có bộ nhiễm sắc thể đơn bội (1n). Tiền tinh
trùng có hình cầu và nhân tròn. Trong giai đoạn thứ 4 - tiền tinh trùng dần dần
biến thành tinh trùng. Nhân lệch về một phía. Tương bào dài ra. Tâm tế bào nằm
vuông góc với bề mặt của
nhân. Nhân được bao phủ chỉ bởi một lớp mỏng
tương bào. Phần này của tế bào tạo thành
phần đầu tinh trùng. Trong phần kéo
dài của tế bào hình thành đuôi, quanh nó có tương bào co bóp được. Tinh trùng
hình thành hoàn chỉnh được bao bọc đầu (chỏm) trong tương bào tế bào Sertoli,
nơi mà sau một thời gian ngắn, tinh trùng hoàn thiện, sau đó từ ống sinh tinh gấp
khúc, tinh trùng đi vào mào tinh hoàn và vào ống dẫn tinh [4]. Số lượng tinh trùng
được sản xuất là phụ thuộc vào số lượng có mặt các tế bào Sertoli và tế bào
Leydig. Phần ba mặt ngoài phía trước của đầu tinh trùng được bao bọc bởi một
"mũ" dày gọi là acrosome hình thành từ bộ máy Golgi [45]. Acrosome là các cấu
trúc bao phủ đầu tinh trùng và chứa các enzyme tương tự như các enzyme có
mặt trong các lysosome của các tế bào sinh dưỡng trong đó có hyaluronidase và
proteolytic enzyme có khả năng phân giải protein. Những enzyme này đóng vai
trọng trong quá trình xâm nhập của tinh trùng vào trứng. Trong giai đoạn trưởng
tuổi thứ 10, tiền tinh trùng vào tuần tuổi thứ 12, còn tinh trùng vào tuần tuổi thứ
16 - 20. Trống Leghorn tinh trùng xuất hiện vào tuần tuổi thứ 12 còn vào tuần tuổi
24 - 26 tinh trùng hoàn toàn có khả năng thụ tinh được [4].
2.2.3. Phản xạ sinh dục và động tác giao cấu
Gà trưởng thành sinh dục khi cơ quan sinh sản phát triển, đã hoàn chỉnh
và bắt đầu có
phản xạ sinh dục. Phản xạ sinh dục không điều kiện phức tạp của
gia cầm cũng như của động vật có vú bao gồm: a) Phản xạ lại gần; b) Chuẩn bị
cơ quan giao hợp; c) Phản xạ giao hợp; d) Phóng tinh.
Theo Phan Vũ Hải (2012) [4], những phản xạ sinh dục có liên quan với
nhau thì phản xạ giao hợp không xuất hiện khi
không có phản xạ lại gần. Để có
được hiện tượng phóng tinh, cần có sự chuẩn bị của cơ quan giao hợp. Nếu như
một phản xạ nào đó mất đi thì các tổng hợp phản xạ không thể có được.
Phản xạ tiến lại gần của con trống ở dạng săn sóc sinh dục. Gà trống có
điệu nhảy sinh
dục rất điệu nghệ, khi nó xoè một cánh xuống và vỗ vỗ, đi
những bước rất ngắn và uyển
chuyển quanh gà mái, đồng thời cất tiếng kêu đặc
biệt nhằm mê hoặc con mái. Dạng khác của phản xạ lại gần là săn sóc ăn uống.
Gà trống kiếm hạt thức ăn hoặc một vật gì đó, cũng nâng lên hạ xuống liên hồi và
kêu những tiếng đặc trưng nhằm quyến rũ gà mái. Những dạng khác
của phản xạ
tiến lại gần cũng có thể có. Gà trống có thể giao cấu 25 - 41 lần/ngày. Nếu gà
trống bị nhốt riêng, khi gặp gà mái có thể giao phối tới 13 - 29 lần/giờ.
Nếu hiện tượng giao cấu xảy ra nhiều thì sẽ giảm lượng tinh phóng ra và
nồng độ tinh
trùng, nghĩa là giảm tỷ lệ thụ tinh. Trong một đàn nhiều trống mái,
thường có hiện tượng chọn lọc trong giao phối giữa một số cá thể với nhau. Hiện
tượng này phổ biến ở đàn ngỗng vì tỷ lệ thụ tinh của ngỗng thấp.
cấp và tập tính giao phối bình thường ở những con trống và cũng rất cần thiết
cho các chức năng của các tuyến phụ, sản xuất tinh trùng và bảo trì của hệ thống
ống dẫn của con trống. Hormone này cũng hỗ trợ trong sự sinh tinh, vận chuyển
tinh trùng và lắng đọng các tinh trùng trong đường sinh sản của con mái [12].
Khi gà trống đạt đến sự trưởng thành, việc sản xuất testosterone được kích thích
bởi sự tăng nồng độ tuần hoàn của các chất kích thích tố [20]. Các chất kích
thích tố chính tham gia là FSH và LH, còn được gọi là hormone kích thích tế
bào kẽ (ICSH) ở con trống. Cả hai hormone kích thích tố được tiết ra từ thùy
trước tuyến yên. Như vậy FSH tác động lên các tế bào mầm trong ống sinh tinh
của các tinh hoàn và thúc đẩy sinh tinh đến giai đoạn tinh bào. LH kích thích các
tế bào Leydig sản xuất testosterone và các androgen khác [24].
16
Hình 2: Mối tương quan giữa các chất kích thích nội tiết tố điều hòa sinh sản ở
gia cầm trống (Beardon và cs, 2004) [11].
2.2.5. Thành phần tinh dịch của gà trống
Trong con đực, tinh dịch bao gồm tinh trùng và các chất tiết. Tinh dịch
được tiết ra từ tinh hoàn và ống dẫn tinh. Tuyến yên FSH và LH điều hòa các
tinh hoàn, do đó sản xuất testosterone kiểm soát sự phát triển tinh hoàn và các
chất tiết [24].
2.3. Đặc điểm hình thái và sinh lý của tinh trùng gia cầm
Tinh trùng gia cầm cũng như của động vật có vú đều có cấu tạo như nhau:
đầu, cổ, thân và đuôi. Các loại gia cầm khác nhau thì tinh trùng của chúng khác
nhau về chiều dài và hình dạng của đầu.
Tinh trùng gà có dạng hình sợi, đầu hơi cong (chỏm đầu có khác nhau giữa
các loài), không có đoạn xích đạo hoặc một phiến đặc sau acroxom như tinh trùng
động vật có vú [4]. Tinh trùng bò, lợn thì đầu tinh trùng có hình trứng, phía thân
hơi to. Riêng tinh trùng lợn phần cổ thân hơi ngắn. Tinh trùng người có hình mái
chèo, phía trên hơi thoi, phía dưới hơi phình ra [41].
Vùng dưới đồi
Thùy trước tuyến
mỏng bào tương. Phần tạo ra cử động chính của tinh trùng là sợi trục.
Càng gần tới phần cuối của đuôi, độ cong và tốc độ chuyển động sóng của sợi
trục càng ít. Tinh trùng gia cầm cũng như của những động vật thụ tinh trong,
đều chuyển động thẳng do những chuyển động quay quanh trục dọc của đuôi [4].
Theo Phan Vũ Hải (2012) [4], tốc độ chuyển động của tinh trùng gia
cầm trung bình là 1-1,5 mm/phút.
Để chuyển động được, tinh trùng cần phải có
lượng năng lượng lớn, được tạo ra ở phần giữa của đuôi khi xảy ra quá trình oxi
hoá phospholipid và carbonhydrate. Tính chuyển động của tinh trùng chỉ tồn tại
trong những điều kiện thích hợp, quan trọng nhất là nhiệt độ và pH môi trường.
Ở nhiệt độ trên 48
o
C và dưới 0
o
C gây ảnh hưởng không tốt. Môi trường thích hợp
nhất là trung tính, kiềm yếu hoặc axit yếu. Khối lượng tinh phóng ra của con trống
khi giao cấu không giống nhau ở các loại gia cầm khác nhau. Ngỗng trống trong
một lần giao cấu phóng ra 0,6 – 2 ml tinh dịch, trong 1 ml tinh có 3,2 tỷ tinh
18
trùng; gà trống khối lượng tinh phóng ra là 0,1 – 2 ml với nồng độ 340 - 350
triệu tinh trùng/ml; vịt đực 0,1 - 1ml và 0,7 - 3,5 triệu/ml.
Khối lượng tinh phóng ra và nồng độ tinh trùng là những chỉ số đánh giá
chức năng của dịch hoàn, phụ thuộc vào đặc điểm cá thể của con trống, số lần
giao cấu, mùa trong năm và những yếu tố khác. Kết quả cho thấy rằng trong suốt
một ngày đêm lượng tinh trùng sản xuất ra không bằng nhau, tăng lên vào ban
đêm và sáng sớm, ban ngày sự tạo tinh trùng giảm. Số
lượng và chất lượng tinh
trùng trong tinh dịch phóng ra của con trống phụ thuộc vào tỷ lệ
trống mái
trong đàn.
ẩm cao cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động nội tiết và sinh lý của gà trống.
Tác động bất lợi như vậy sẽ hạn chế các yếu tố nội tiết trong sinh sản của con
trống sinh tinh do đó ức chế và giảm tiết hormone do tuyến yên tổng hợp và tiết
ra có tác động trên tinh hoàn và noãn sào [7; 37; 38]. Froman Feltmann (2005)
[28] cho thấy tinh trùng có thể cử động dể dàng ở nhiệt độ cơ thể của 41˚C, và
suy giảm với thời gian sau khi xuất tinh. Nhiệt độ trong cơ thể có thể được xác
định bằng cách đo nhiệt độ trực tràng là có thể xác định được nhiệt độ của cơ thể
[7]. Vì vậy chăm sóc phải được thực hiện tốt để duy trì nhiệt độ yêu cầu [45].
Nhiệt độ môi trường xung quanh là không bao giờ ổn định liên tục và nhiệt độ
quá cao có thể làm tăng quá trình trao đổi chất của tế bào tinh trùng, trong khi
nhiệt độ quá thấp sẽ làm giảm tỷ lệ trao đổi chất và làm chậm sự di chuyển của
tinh trùng [24].
- Ánh sáng: Đặc điểm của tinh trùng là ưa ánh sáng. Nhưng ánh sáng lại có
tác hại rất lớn đối với tinh trùng, đặc biệt là tia tử ngoại (bất kể là ánh sáng tự nhiên
hay ánh sáng nhân tạo) vì trong ánh sáng có nhiều tia khác nhau (tia hồng ngoại, tia
tử ngoại, tia α, tia γ…). Các tia này đều có hại với tinh trùng, đặc biệt là tia tử
ngoại. Mặt khác, khi có ánh sáng thì nhiệt độ sẽ tăng thì tinh trùng hoạt động mạnh
dẫn đến tiêu hao nhiều năng lượng tinh trùng sẽ nhanh chóng chết. Độ dài thời
gian của mỗi ngày cho quá trình thu thập tinh dịch cũng ảnh hưởng đến chất
lượng và số lượng của tinh dịch gia cầm. Nói chung tinh dịch sản xuất cao vào
buổi sáng và buổi chiều, vì vào thời gian này trời mát hơn [38]. Việc sản xuất
tinh dịch cũng khác nhau trong các mùa, được quy định chủ yếu bởi khoảng
cách ánh sáng ban ngày. Mùa sinh sản của gà thường bắt đầu vào mùa xuân khi
khoảng cách ánh sáng ban ngày dài [23]. Theo Hafez và Hafez (2000) [24] khi
có ánh sáng thông qua tế bào nhận kích thích ánh sáng, trong não sẽ cung cấp
các tín hiệu thần kinh lên thống nội tiết sinh sản nhận thức như một sự thay đổi
chiều dài ánh sáng ban ngày đủ để bắt đầu sinh sản. Theo Bearden và cs (2004)
[12], ánh sáng trong phòng thí nghiệm có thể ngăn chặn tỷ lệ trao đổi chất, vận
động và khả năng thụ tinh của tinh trùng. Vì vậy, tinh dịch phải được bảo vệ từ
ánh sáng và có thể được bảo quản trong các lọ tối màu.
chất và bảo dưỡng tinh trùng [20; 12].
- Năng lực đệm và pH: Tinh trùng cần môi trường pha loãng phải có năng
lực đệm và pH tương đương với năng lực đệm và pH của tinh dịch nếu không đáp
ứng được tinh trùng sẽ nhanh chết. Đảm bảo độ pH thích hợp và áp suất thẩm
thấu có ý nghĩa lớn trong việc duy trì khả năng tồn tại của tinh trùng. Một số thí
nghiệm đã chỉ ra rằng tinh trùng gà có thể phát triển tốt trong các giá trị pH từ
6,0 đến 8,0 [14]. Lake và Ravie (1979) [30] thu được những kết quả thụ tinh
hiệu quả nhất khi sử dụng tinh trùng có pH 6,8 và 7,1. Sự thay đổi pH tinh dịch
21
thường ảnh hưởng đến vận động của tinh trùng một cách tiêu cực và tăng độ pH
kết hợp với năng lực đệm kém. Chỉ tiêu pH cần được kiểm tra trong mẫu tinh
dịch tươi ngay sau khi thu thập nếu không pH sẽ bị biến đổi trong một khoảng
thời gian ngắn.
- Các vật lạ có trong tinh dịch: Bản chất của tinh trung là ưa vật lạ. Do đó khi
có vật lạ trong tinh dịch tinh trùng sẽ bám vào và tiết men Hyaluronidaza, từ đó
lượng men này bị giảm và làm cho tinh trùng có khả năng thụ thai kém.
- Vi sinh vật: Khi trong tinh dịch có vi khuẩn thì vi khuẩn sẽ tấn công vào
màng bọc và phá hủy màng này do đó tinh trùng nhanh chết.
2.4.2. Loài và giống
Thời gian hoạt động sinh sản ảnh hưởng đến khối lượng tinh dịch sản
xuất. Yếu tố này đã được cho rằng khối lượng lần xuất tinh và nồng độ tinh
trùng phụ thuộc vào chủng và giống gia cầm. Những gia cầm có mào lớn cho
thấy lượng tinh dịch ở giống đó cao, lượng nội tiết tố androgen cao hơn mức
bình thường và tăng hoạt động giao phối [28; 22].
2.4.3. Trọng lượng cơ thể của gà trống
Trọng lượng cơ thể của gà trống là rất quan trọng khi lựa chọn lấy tinh để
tiến hành thụ tinh nhân tạo nhằm tăng số lượng trong chăn nuôi. Có một mối
tương quan giữa tốc độ tăng trưởng hoặc trọng lượng cơ thể và khả năng sinh
sản ở con trống [24; 34]. Yếu tố này rất quan trọng cho con trống để đạt được
một trọng lượng cơ thể tối thiểu điển hình cho giống, loài trước khi sử dụng thụ
0
C, còn pha loãng và
bảo tồn ở dạng lỏng thì thời gian sống của tinh trùng gia cầm và thủy cầm nói
chung không được lâu (khoảng 3-6h). Vì vậy, cần tính toán thời điểm đẻ trứng
của mỗi loài mà bố trí thời điểm lấy tinh cho phù hợp. Ví dụ, gà thường đẻ trứng
vào buổi sáng thì nên lấy tinh vào buổi chiều, pha loãng xong và dẫn tinh luôn.
Với thủy cầm thường đẻ vào ban đêm thì lấy tinh vào buổi sáng, pha loãng xong
và dẫn tinh cho con mái luôn.
Sau khi lấy tinh, cần đánh giá chất lượng tinh dịch từng con trống và loại
bỏ những mẻ tinh không đạt yêu cầu. Sau khi pha loãng, cần kiểm tra lại hoạt
lực tinh trùng trước khi dẫn tinh. Không nên để tinh nguyên (chưa pha loãng)
quá lâu 30 phút.
Theo Đào Đức Thà (2006) [3] tinh trùng sau khi ra ngoài cơ thể gia cầm
thường nhanh chóng bị chết. Hoạt lực ban đầu là 0,7 nhưng nếu để ở nhiệt độ
20-25
0
C thì sau 15 phút hoạt lực chỉ còn 0,5; sau 30 phút còn 0,4; sau 60 phút
còn 0,2; sau 90 phút thì tinh trùng chết hết. Nếu bảo quản ở 5-10
0
C ở các thời
điểm trên thì hoạt lực tương ứng là 0,7; 0,6; 0,5 và 0,2.
Theo Đào Đức Thà (2006) [3] pha loãng và bảo tồn tinh dịch gà dùng môi
trường Lorenz với công thức và thành phần như sau:
- Glicocol 0,65g
23
- NaCl 0,58g
- Nước cất 100ml
Ở nhiệt độ 20-25
0
C tinh dịch gà pha loãng trong môi trường Lorenz trong
bất thường và tỉ lệ chết do suy thoái độ nhớt của lòng trắng trứng. Ngoài ra các
quả trứng này nở giảm và một thời gian ấp trứng gia tăng cũng gây ra suy giảm
tốc độ tăng trưởng của gà con sau khi nở [41]. Nhiệt độ, độ ẩm, môi trường
không khí và quá trình đảo trứng ảnh hưởng đến chất lượng nở và gà con trong
thời gian ấp trứng. Khoảng thời gian giữa gà đẻ và thời gian ấp trứng ngắn đã
được chứng minh là có tiềm năng nở cao nhất [46].
24
2.7. Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá chất lượng tinh dịch
2.7.1. Thể tích tinh dịch (V)
Thể tích tinh dịch (lượng xuất tinh) là lượng tinh dịch trong một lần
xuất tinh [26].
Khối lượng tinh phóng ra của con trống khi giao cấu không giống nhau ở
các loại gia cầm khác nhau.
2.7.2. Màu sắc tinh dịch
Màu sắc tinh dịch được quyết định bởi nồng độ của tinh trùng và các hạt lipit
có trong tinh dịch.
Màu sắc của tinh dịch là một dấu hiệu của mật độ của lần xuất tinh. Màu sắc
của tinh dịch có thể phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính của gia cầm và số lần
lấy tinh của gia cầm đó, nhưng nói chung tinh dịch dạng kem thể hiện nồng độ
tinh trùng cao [17]. Màu sắc của tinh dịch cũng thể hiện sự ô nhiễm bởi phân hoặc
nước tiểu thường là màu xanh hoặc màu nâu [30]. Tinh dịch có thể lẫn máu do quá
trình thu thập tinh dịch không đúng hoặc đường sinh dục của gia cầm bị tổn
thương. Màu của các loài gia cầm khác nhau thì khác nhau.
2.7.3. Độ pH của tinh trùng
Độ pH của một chất lỏng được xác định bằng nồng độ ion H
+
có trong đó.
Số lượng ion H
+
càng tăng thì chất lỏng đó càng toan và ngược lại thì kiềm tính.