LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là bài nghiên cứu của riêng em và được sự hướng dẫn
khoa học của ThS. Phạm Minh Tiến. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài
là trung thực và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây. Những số
liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính
tác giả thu thập từ các nguồn số liệu khác nhau. Ngoài ra đồ án còn sử dụng một số
nhận xét đánh giá của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và
chú thích nguồn gốc. Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào em xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm về nội dung đồ án tốt nghiệp của mình.
Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2017
Sinh viên
Ngô Duy Anh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện tốt bài đồ án này, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Khí tượng Thủy văn đã dạy dỗ,
tận tình chỉ bảo em trong suốt những năm tháng học tập tại trường.
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy giáo Phạm Minh Tiến,
người đã trực tiếp định hướng và hướng dẫn em trong suốt thời gian làm đồ án tốt
nghiệp.
Bên cạnh đó em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành những lời nhận xét, góp ý
từ Thầy cô và bạn bè giúp em hoàn thành bài đồ án tốt nghiệp này được hoàn chỉnh
hơn.
Cũng nhân đây em muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã
luôn bên cạnh ủng hộ, động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập cũng
như làm đồ án tốt nghiệp.
Trong suốt quá trình làm đồ án, mặc dùem đã rất cố gắng để hoàn thiện nhưng
cũng không thể tránh khỏi được sai sót, rất mong nhận được những góp ý quý báu
của các thầy cô để em có thể rút kinh nghiệm, sửa chữa bổ sung cũng như để hoàn
thành được hoàn chỉnh hơn nữa .
Do quá trình nghiên cứu và việc tìm tài liệu, kiến thức cũng như kinh nghiệm
của bản thân còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất
mong các thầy, cô cho em những nhận xét, ý kiến để em có thể tiếp thu. Đó sẽ là
những kiến thức quý báu, là hành trang giúp em trong công việc sau này.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ATNĐ: Áp thấp nhiệt đới.
CNĐ: Cận nhiệt đới.
ĐTD: Đại Tây Dương.
ITCZ: Dải hội tụ nhiệt đới.
KKL: Không khí lạnh.
KTTV: Khí tượng Thủy văn.
TBD: Thái Bình Dương.
TBNN: Trung bình nhiều năm.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Dải hội tụ nhiệt đới
1.1.1.Khái niệm
Theo Khromov (1957)[7]: ITCZ là dải thời tiết xấu, hình thành bởi sự hội tụ
của tín phong 2 bán cầu, của tín phong 1 bán cầu với tín phong bán cầu kia vượt
xích đạo và chuyển hướng và tín phong mỗi bán cầu với đới tín phong gió tây xích
đạo mở rộng. Có 3 mô hình của dải hội tụ nhiệt đới:
Loại 1: Gần sát xích đạo, xảy ra ở Đại Tây Dương khi tín phong 2 bán cầu gặp
nhau ở gần xích đạo. Loại dải hội tụ gió này có tần suất cao, tồn tại ngay trên bản đồ gió
trung bình toàn cầu ở miền xích đạo ĐTD. Trong dải hội tụ nhiệt đới này, dải mây tích và
mây vũ tích tạo thành dải có mật độ không đều. Chiều rộng của dải mây chừng 200300m, chiều dài rất lớn, có trường hợp gần như bao quanh Trái Đất.
(trong tháng 7 và 8) thường là những ngày có bão hoạt động trong ITCZ và bão đi lên
vùng vĩ độ cao; khi bão đổ bộ rồi tan đi thì ITCZ cũng tan theo nên nó không kéo dài
mấy ngày như khi ở vĩ độ thấp nhất. Ví dụ, đợt ngày 15/7/1987, ITCZ hoạt động ở vĩ
độ khá cao, cao trên 360N và đến ngày sau đó bão đổ bộ vào Trung Quốc thì ITCZ
cũng tan theo.
1.1.2. Đặc trưng
ITCZ có những đặc trưng sau:
1) ITCZ là giới hạn phía xích đạo của vòng hoàn lưu Hadley và cũng là nơi
hình thành nhánh đi lên vòng hoàn lưu này.
2) ITCZ là một đới hẹp bao quanh Trái đất, về cơ bản, nó nằm trong bán cầu
mùa hè. Tuy nhiên, vị trí của ITCZ có sự biến động rất lớn tuỳ theo từng khu vực.
Trên bề mặt, vị trí cực bắc của nó trong tháng 7 và vị trị cực nam của nó trong tháng
1. Trong tháng 7, vị trí của ITCZ dịch chuyển lên phía bắc nhất (tới 28 0N) trên lục
địa châu Á, còn trong tháng 1 vị trí của nó dịch chuyển xuống phía nam thấp nhất
trên lục địa Australia và Đông Phi. Như vậy, tại bề mặt, vị trí của ITCZ thường
trùng với vùng có nhiệt độ cao nhất, thậm chí ngay cả trên các vùng đại dương.Vì
vậy, ITCZ thường được gọi là xích đạo nhiệt của Trái đất.
3) Khi ITCZ nằm ở vị trí cao nhất lên phía bắc hay thấp nhất xuống phía nam
thì khối không khí phía xích đạo của ITCZ không phải bao giờ cũng là khối không
khí từ bán cầu mùa đông thổi sang.
4) ITCZ không nằm ngay trên xích đạo mà thường là ở phía bắc hoặc phía
nam. Nguyên nhân của hiện tượng này vẫn chưa được giải thích một cách rõ ràng.
Khi tín phong của một trong hai bán cầu vượt qua xích đạo rồi đổi hướng thành gió
có thành phần tây trước khi hội tụ vào ITCZ (không hẳn chỉ do tác động của lực
Coriolis).Như vậy luôn có một độ đứt gió xoáy thuận qua ITCZ với gió có thành
phần hướng tây phía xích đạo và thành phần hướng đông phía cực của ITCZ.
5) Trên quy mô hành tinh, ta có thể xem ITCZ là một đới có khí áp thấp nhất
và có sự hội tụ khối lượng theo phương nằm ngang trong tầng thấp, do vậy nó cũng
cường độ của ITCZ.
8) ITCZ có vai trò vận chuyển nhiệt: Như đã biết, cán cân bức xạ của hệ thống
mặt đất-khí quyển vùng nhiệt đới luôn luôn dương, còn ở vùng vĩ độ cao luôn luôn
âm. Trong đó, các đại dương nhiệt đới chiếm phần lớn năng lượng này. Khoảng 1/3
năng lượng mà các đại dương nhận được được vận chuyển lên vùng vĩ độ cao nhờ
các dòng hải lưu, còn 2/3 năng lượng còn lại được vận chuyển từ các đại dương vào
khí quyển do bốc hơi. Khi trong ITCZ chưa có đối lưu phát triển mạnh thì hơi nước
được vận chuyển tới những vùng cận nhiệt đới trong tầng đối lưu dưới. Nhưng khi
trong ITCZ có đối lưu phát triển mạnh thì tiềm nhiệt ngưng kết được giải phóng ra,
trở thành hiển nhiệt trong các lớp khí quyển của tầng đối lưu trên rồi được vận
chuyển lên các vĩ độ cận nhiệt đới.
1.1.3. Cấu trúc
Đôi khi, ITCZ thể hiện rõ một cấu trúc với hội tụ ở mực thấp và phân kỳ ở
mực cao với dòng thăng rất mạnh và có tốc độ cực đại ở phần giữa tầng đối lưu. Hội
tụ ở mực thấp chủ yếu là do sự hội tụ của thành phần kinh hướng của gió mỗi bán
cầu và xoáy là do độ đứt trong dòng khí giữa các nhánh hội tụ của tín phong mỗi
bán cầu hay là hội tụ giữa tín phong một bán cầu với đới gió tây xích đạo vốn là tín
phong của bán cầu kia khi vượt xích đạo chuyển hướng.
Theo chương trình nghiên cứu GATE [2] (Global Atmospheric Tropical
Experiment) trên khu vực Đại Tây Dương đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của
ITCZ trong phạm vi 15 vĩ độ. Về cơ bản, cấu trúc của ITCZ trên phạm vi toàn cầu
đưuọc mô tả như trên, nhưng đối với từng khu vực cụ thể thì nó lại mang những nét
đặc trưng riêng. Ngay cả khi đã xét cho tưng khu vực cụ thể, vị trí và cấu trúc của
ITCZ cũng có những biến động hàng ngày và nhiều ngày khá phức tạp. Theo các
công trình nghiên cứu thì sự biến động của ITCZ theo thời gian là do:
-
Sự dịch chuyển theo hướng bắc- nam quy mô toàn cầu.
Sự dịch chuyển của sóng đông.
Biến thiên nhiệt độ ngày đêm.
khu vực Trung Trung Bộ, ITCZ thường hoạt động trong tháng 9, 10.
Vào tháng 9, 10, ITCZ lùi vê phía nam ở ven biển Trung Bộ, tháng 11 lùi về
phía nam hơn nữa, sang tháng 12 thì nó sẽ trở về vị trí TBNN của mùa đông. Bình
thường khi ITCZ hoạt động trong thời tiết đối lưu: mưa rào, dông ở 2 rìa của đường
hội tụ; song mưa lớn diện rộng chỉ xảy ra khi cường độ của ITCZ mạnh lên, tức là
tốc độ gió đông - đông nam ở phía bắc đường hội tụ, hoặc gió mùa tây nam ở phía
nam đường hội tụ mạnh lên, hoặc khi trên đường ITCZ xuất hiện các nhiễu động
xoáy thuận ở gần bờ biển rồi đi vào phía tây vào đất liền, gây quá trình mưa vừamưa to diện rộng.
Hoặc từ tháng 9 đến tháng 11, khi ITCZ hoạt động trên khu vực Trung Bộ,
trên cao là đới gió đông- đông nam dày và mạnh, ở mặt đất có KKL xâm nhập, tác
động vào rìa phía bắc của ITCZ, gây quá trình mưa lớn diện rộng, đặc biệt là phần
phía bắc của ITCZ, có thể nói đây là các quá trình cơ bản , đặc trưng cho ITCZ ảnh
hưởng đến thời tiết nước ta, nhất là khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ.
Dựa vào kết quả nghiên cứu, tổng kết các dạng hình thế Synop gây mưa lớn
cho các tỉnh ven biển Trung Bộ, trong đó ITCZ là loại hình thế rất đặc trưng có thể
gây ra các dạng sau:
- ITCZ hoạt động đơn thuần: trên cao là đới gió đông- đông nam dày và mạnh
của rìa phía nam Áp cao tây TBD. Ở dạng này, mưa lớn xảy ra tập trung ở phía
bắc đường ITCZ với lượng mưa phổ biến từ 200- 300m trong toàn đợt, thời
gian mưa từ 2- 3 ngày; khi tốc độ gió đông- đông nam ở trên cao suy yếu, mưa
giảm đi; vùng mưa từ phía nam đường ITCZ rất hẹp.
- ITCZ có kèm theo xoáy thuận ở gần bờ biển Trung Bộ: mưa lớn xảy ra với
cường độ mạnh khi xoáy thuận tiếp giáp bờ biển và đi sâu về phía tây. Vùng
mưa lớn từ vị trí xoáy thuận vào đất liền và mở rộng về phía bắc tới 3- 4 vĩ độ,
lượng mưa cả đợt phổ biến từ 300- 400mm; trung tâm mưa lớn xảy ra ở vùng
xoáy thuận vào đất liền và lệch về phía bắc, vùng phía nam xoáy thuận cũng
như phía nam ITCZ mưa lớn xảy ra trên phạm vi hẹp dưới 1 vĩ độ.
ở Brasil và quần đảo Marshall năm 2004 - một số giọt có kích thước tới 10mm. Kích
thước lớn được giải thích là sự ngưng tụ trong các hạt khói lớn hay bởi sự va chạm
giữa các giọt mưa trong một khu vực nhỏ với lượng rất lớn nước lỏng.
1.3.3. Phân loại mưa
Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia phân loại mưa theo mức độ mưa:
-
Mưa vừa: lượng mưa đo được từ 16 - 50 mm/24h,
-
Mưa to: Lượng mưa đo được từ 51 – 100mm/24h,
-
Mưa rất to: Lượng mưa đo được > 100mm/24.
1.4. Đặc điểm địa lý và khí hậu khu vực Trung Trung Bộ
1.4.1. Vị trí địa lý
Khu vực Trung Trung Bộ nằm ở Trung phần Việt Nam theo hướng tây bắc –
đông nam trải dài từ vĩ tuyến 14°32’ - 18°06’N. Gồm 5 tỉnh và 1 thành phố: Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Thành phố Đà Nẵng.
Trung Trung Bộ là một khu vực lớn thuộc duyên hải miền Trung có địa hình
khá phức tạp: Phía Đông là dải đồng bằng nhỏ hẹp ven biển tiếp cận biển Đông và
vùng đồi núi thấp, Phía tây là một phần Đông Nam dãy Trường Sơn, với nhiều
nhánh núi ngang vuông góc bờ biển tạo thành những đèo cắt ngang các đồng bằng
như Đèo Ngang, đèo Hải Vân.
Nhìn chung khu vực Trung Trung Bộ có 4 loại địa hình chủ yếu: núi, đồi
giới lần thứ 2, khi người ta nhận thức được tầm quan trọng của bản tin dự báo khí
tượng đối với an ninh và quốc phòng, hàng loạt các công trình nghiên cứu về hệ thống
thời tiết và hình thế thời tiết đã được thực hiện.
Tác giả Chen đã nghiên cứu mưa lớn ở miền Trung Việt Nam để tìm ra sự khác
biệt về chế độ mưa của vùng này so với các vùng khác. Ông đã tiến hành xem xét ảnh
hưởng của hiện tượng ENSO đến mưa ở miền Trung. Thông qua lượng mưa 29 năm
(1979-2007) theo dạng lưới, từ bộ số liệu tích hợp quan trắc phân giải cao Châu Á để
đánh giá nguồn nước (APHRODITE), sử dụng để mô tả khí hậu mưa ở Việt Nam.
Lượng mưa quan trắc được tại 163 trạm mặt đất ở Việt Nam năm 2007 được sử dụng
để xác nhận kết quả phân tích lượng mưa từ APHRODITE. Từ số liệu APHRODITE,
tác giả dùng để xác nhận 2 chế độ mưa: chế độ mưa tháng 10 - tháng 11 ở miền Trung
Việt Nam và chế độ mưa tháng 5 - tháng 10 ở phía Bắc và phía Nam Việt Nam. Ông đã
nhận thấy rằng, sự hiện diện của dãy Trường Sơn dọc theo biên giới phía tây của Việt
Nam với Lào và Campuchia đã tạo ra chế độ mưa tháng 10- 11 ở miền Trung Việt Nam
khác biệt so với chế độ mưa tại những vùng khác.[1]
Jun Matsumoto(2007) đã tiến hành nghiên cứu về sóng lạnh và dị thường gió
Nam tại khu vực giữa biển Đông (Nam Trung Hoa) kết hợp với một số áp thấp nhiệt
đới gây mưa lớn ở khu vực Trung bộ; khi nghiên cứu về mưa lớn trên khu vực miền
Trung, tác giả đã sử dụng bộ số liệu tái phân tích và bộ số liệu về lượng giáng thủy
bề mặt trong 24 năm (1972-2002). Cùng với đó là bộ số liệu trường hoàn lưu khí
quyển sử dụng trong nghiên cứu này là bộ số liệu tái phân tích trong 25 năm của
Nhật Bản, được cung cấp bởi cơ quan khí tượng Nhật Bản (JMA) và trung tâm
nghiên cứu về công nghiệp điện năng (CRIEPI). Độ phân giải theo phương ngang
với kinh độ và vĩ độ là 1,250, khoảng thời gian là 6h, với 12 mực tầng đối lưu (1000,
925, 850, 700, 600, 500, 400, 300, 250, 200, 150 và 100 hPa). Nghiên cứu này cũng
sử dụng số liệu được thu thập liên tục bởi phòng Khí tượng Thủy văn Lào (8 trạm),
phòng khí tượng Campuchia (4 trạm) và Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia
của Việt Nam (52 trạm). Theo tác giả, các nhiễu động qui mô synop và qui mô lớn
mùa đông sang mùa hè ở bán cầu Bắc.
b) Sang tháng 5: ITCZ kép đã được thay thế bằng hệ thống đệm ở trên khu
vực xích đạo từ Ấn Độ Dương qua nam Biển Đông tới Tây Bắc TBD. Tín phong
bán cầu Nam đã vượt qua xích đạo đi lên bán cầu Bắc, thay thế tín phong ở phía
nam áp cao Ả Rập và áp cao vịnh Bengal. Đới gió tây này, ngoài phần thổi qua
Ấn Độ và Myanma để hội tụ vào rãnh thấp Nam Á, còn thổi sang phía đông để
cùng đới gió vượt qua xích đạo ở nam Biển Đông hội tụ với tín phong bán cầu
Bắc từ rìa tây nam áp cao Bắc TBD tạo thành ITCZ chạy từ Tây Bắc TBD đến
nam Biển Đông.
c) Sang tháng 6: Hoàn lưu khu vực không thay đổi nhiều so với tháng 5,
ngoại trừ một số điểm đáng chú ý như: áp cao Bắc TBD thì đang có xu hướng dịch
chuyển dần lên phía đông bắc cùng với sự mạnh lên của đới gió mùa tây nam đã
làm cho ITCZ ở phía nam Biển Đông dịch dần lên phía đông bắc, đi qua phía nam
quần đảo Philippines và liên thông với nhánh tây bắc-đông nam của MST ở ven
biển Trung Bộ.
d) Đến tháng 7: Áp thấp Nam Á và áp thấp phía đông Trung Quốc đã mạnh đến
cực điểm, còn áp cao Bắc TBD tiếp tục dịch chuyển lên phía đông bắc tới vùng biển
phía đông Trung Quốc; cho nên, gió mùa tây nam mạnh thêm, thổi qua bán đảo Đông
Dương, Biển Đông và gặp tín phong bán cầu Bắc ở vùng biển phía đông Philippines.
Vì thế, ITCZ không liên thông được với nhánh tây bắc-đông nam của MST nữa mà bị
đẩy lên phía đông bắc, rời khỏi Biển Đông đi ra vùng biển Philippines.
đ) Vào tháng 8: Gió mùa tây nam trở nên ổn định, áp cao Bắc TBD tiếp tục
dịch chuyển về phía đông bắc, trục của áp cao đã lên tới vĩ tuyến 30 0N. Sự dịch
lên của áp cao này cũng tạo điều kiện cho gió mùa tây nam mạnh thổi xa hơn về
phía đông và ITCZ cũng tiếp tục lùi xa hơn một ít về phía đông, song vẫn ở trên
vùng biển ngoài khơi quần đảo Philippines.
e) Sang tháng 9: Gió mùa tây nam bắt đầu suy thoái, bức tranh hoàn lưu đã
thay đổi rõ rệt, điều thể hiện rõ nét nhất là có sự liên thông giữa ITCZ ở phía đông
Hàng năm, trên khu vực Nam Á, khi gió mùa tây nam được thiết lập, tín
phong bán cầu Nam vượt xích đạo đi lên bán cầu Bắc, ITCZ kép bị phá vỡ, hệ
thống đệm ở xích đạo được thiết lập thì gió mùa tây nam nhanh chóng tiếp cận và
hội tụ vào rãnh thấp Nam Á. Như vậy, MST hình thành ngay trong rãnh thấp Nam
Á và mang vào rãnh một động năng, quan trọng hơn là đã tích lũy được một lượng
ẩm dồi dào khiến cho hệ thống này đã thay đổi về chất. Vì thế, vào mùa hè, khi gió
mùa tây nam đã hội tụ vào rãnh thấp Nam Á thì hệ thống này cần được gọi là MST
để nhấn mạnh đến lượng tiềm năng bất ổn định đang tàng trữ của nó.
Gió mùa tây nam không phải bao giờ cũng có thể hội tụ đồng thời trên toàn
bộ rãnh thấp Nam Á dài hàng chục ngàn km, mà nó thường chỉ xảy ra ở một số
đoạn nhất định. Thông thường vào những tháng đầu mùa hè (từ tháng 5 đến tháng
7), ở phía tây kinh tuyến 800E, MST dường như bị neo giữ vào vị trí của rãnh áp
thấp, còn ở phía đông kinh tuyến 80 0E, MST dao động trong phạm vi từ 15-350N.
Đến những tháng cuối hè (từ tháng 8-9), khi tín phong đã dần dần xuất hiện trên
biển Đông thì MST cũng dần tách khỏi rãnh thấp Nam Á để trở thành ITCZ, lùi dần
xuống các vĩ độ thấp cận xích đạo.
Như Nguyễn Văn Hưởng [5] đã đề cập đến trong bài nghiên cứu của mình
(2012), tác giả đã tiến hành thống kê mưa lớn ở các tỉnh miền Trung trong vòng 17
năm trở lại đây (từ năm 1994- 2010), ở 4 khu vực của miền Trung, trong giai đoạn
1994- 2007, khảo sát tập số liệu trên 49 trạm đo và đến giai đoạn 2008- 2010 khảo sát
tập số liệu của 57 trạm đo khí tượng. Với tiêu chí lượng mưa, diện mưa, thời gian,
không gian và dựa trên số liệu mưa có được, tác giả tiến hành phân tích và nhận thấy
rằng trung bình hàng năm ở miền Trung và Tây Nguyên có khoảng từ 13- 15 đợt mưa
lớn. Như vậy trong khoảng 17 năm, tác giả đã thống kê được trên 200 đợt mưa lớn diện
rộng, trong đó chỉ riêng trong giai đoạn từ 2001 đến 2010 đã có 142 đợt mưa lớn diện
rộng. Để xác nhận các cơ chế ngẫu nhiên của các trường hợp mưa lớn tại miền TrungTây Nguyên Việt Nam, tác giả đã tiến hành các phân tích tổng hợp sử dụng số liệu tái
phân tích trong khoảng thời gian 25 năm (1979-2010) và số liệu về lượng mưa.
Từ kết quả phân tích, tác giả nhận thấy phân bố mưa ở các tỉnh miền Trung
có thể chia làm 3 vùng chính, khu vực bắc miền Trung chịu ảnh hưởng nhiều của
đó tác giả tiến hành thống kê các hình thế mưa lớn ở khu vực này và đã chỉ ra có tất
cả 7 loại hình thế có khả năng gây mưa lớn ở miền Trung bao gồm: là Xoáy thuận
nhiệt đới đơn thuần (XTNĐ); XTNĐ kết hợp với gió đông nam (SE) tác động;
XTNĐ kết hợp với không khí lạnh tác động trước; XTNĐ kết hợp với KKL tác
động đồng thời hoặc 12- 24h; Dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ) có XTNĐ từ thấp lên cao
4- 5km; ITCZ có KKL tác động; KKL hội tụ với tín phong. Đối với từng hình thế
tác giả đã có những nghiên cứu khá chi tiết, chỉ ra sự ảnh hưởng của nó với miền
Trung như thế nào, khi nó tác động đơn lẻ thì tạo ra hệ quả thời tiết ra sao, khi nó
tương tác với các hình thế khác hoặc một tổ hợp các hình thế khác thì sự ảnh hưởng
của nó đối với từng khu vực sẽ diễn ra như thế nào, như với hình thế mưa lớn do
XTNĐ tác giả đã phân tích chi tiết, mưa lớn do XTNĐ đơn thuần, mưa lớn do
XTNĐ đổ bộ kết hợp với KKL tác động trước, mưa lớn do XTNĐ đổ bộ có KKL
kết hợp tác động đồng thời hoặc 12- 24h sau; Mưa lớn do XTNĐ đổ bộ có kết hợp
với KKL tác động 12- 24h sau;Mưa lớn do ITCZ có XTNĐ từ thấp lên cao 4-5km;
Mưa lớn do XTNĐ sau khi đổ bộ kết hợp với SE tác động [9].
Với từng hình thế tác giả cũng đã đánh giá xác xuất % của từng hình thế, ảnh
hưởng của nó đến từng vùng miền, khu vực ra sao, lượng mưa mà của từng hình thế
đối với các vùng sẽ như thế nào, tác giả cũng đã đưa ra những nhận xét về sự giống
nhau, khác nhau giữa thời gian kéo dài, phân bố không gian, lượng mưa ngày, tổng
lượng mưa, do từng loại hình thế cơ bản và tổ hợp gây ra; Nhưng ngay từ đầu với
tên đề tài là “Phân loại hình thế Synop gây mưa lớn khu vực Quảng Nam- Đà Nẵng
đến Khánh Hòa, trong các tháng 9, 10, 11 giai đoạn 1976- 1990”, thì người đọc đã
hình dung ra đây là một đề tài mang tính thống kê thuần túy, dựa trên kinh nghiệm
làm dự báo nhiều năm
Qua đó cho thấy việc xem xét ảnh hưởng của ITCZ đến mưa trên khu vực
Trung Trung Bộ là rất cần thiết nhất là khi đã có những bộ số liệu đầy đủ, rõ rang cả
về không gian và thời gian, từ đó dần sẽ giải quyết triệt để việc phân tích nguyên
nhân gây mưa trên khu vực để giải quyết bài toán dự báo mưa tốt hơn.
liệu ban đầu trước khi đưa vào xử lý, tính toán.
Thực tế khẳng định rằng, trong các chuỗi số liệu quan trắc luôn luôn chứa
đựng những sai số tiềm ẩn nào đó và người ta chia những sai số này ra làm 3 loại:
Sai số thô, sai số hệ thống và sai số ngẫu nhiên.
Sai số thô sinh ra chủ yếu bởi những thao tác nhầm lẫn, sơ suất trong quá
trình đo đạc hoặc lấy mẫu. Chẳng hạn, trong qui ước ban đầu, số liệu nhiệt độ được
lấy chính xác đến phần mười độvà không ghi dấu phẩy thập phân, nhưng khi tiến
hành thu thập số liệu từ các báo biểu quan trắc, do thói quen người ta ghi lẫn lộn
một vài số nào đó có dấu phẩy thập phân (tách phần nguyên và phần mười độ- ví
dụ, trị số 240 bị ghi sai thành 24). Như vậy, vô tình những giá trị này đã bị giảm đi
mười lần so với trị số thực. Trong nhiều trường hợp những giá trị có chứa sai số
kiẻu này rất khó phát hiện do chúng bị ẩn dấu trên nền chuỗi số liệu. Ví dụ, cũng
với kiểu xảy ra sai sót nói trên nhưng không phải đối với nhiệt độ mà là lượng mưa,
thì hầu như không thể chỉ ra được số liệu nghi ngờ.
Sai số hệ thống gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, mỗi nguyên
nhân mang một dáng vẻ. Đây là loại sai số rất khó phát hiện nếu không có sự khảo
sát tỷ mỷ. Ví dụ, khi xem xét các báo biểu quan trắc người ta nhận thấy rằng do hiệu
chính dụng cụ không đúng nên số liệu nhiệt độ đã bị lệch đi một lượng nào đó, hoặc
do thói quen, khi đọc nhiệt biểu quan trắc viên thường đọc giá trị nhiệt độ trên nhiệt
kế thấp hơn so với qui định chung. v.v.
Sai số ngẫu nhiên là sai số còn lại sau khi đã khử bỏ sai số thô và sai số hệ
thống. Sai số ngẫu nhiên gây nên bởi một lượng vô cùng lớn các nguyên nhân mà
ảnh hưởng của mỗi một trong chúng bé đến mức ta không thể phân định nổi mức
đóng góp của từng nguyên nhân, chúng luôn luôn tồn tại trong mọi chuỗi số liệu
quan trắc.
2.1.1.1 Xử lý số liệu ban đầu
Việc phát hiện các giá trị khác thường được thực hiện theo hai phương pháp
sau:
này có thể là những trị số ứng với n năm liên tiếp hoặc không liên tiếp. Trong khí
đó, B là trạm khí tượng có N năm trị số. Ở đây N lớn hơn n và bao hàm n. Bổ
khuyết số liệu tức là ước lượng các trị số của A trong N-n năm còn lại của A.
Điều kiện cơ bản để ước lượng các trị số khuyết của A theo B là A và B đều
thuộc phạm vi tác động chung của các quá trình thời tiết. Khi đó, ứng với n thời
điểm mà cả hai trạm A và B đều có n trị số quan trắc lần lượt dưới đây:
y1, y2,..., yn và x1, x2,... xn
Ta dễ dàng tính được trị số trung bình số học của cả hai chuỗi ứng với thời
gian quan trắc n nói trên:
(2.3)
(2.4)
Ứng với N thời điểm ta chỉ quan trắc được
x1, x2,..., xN
Khi đó, ước lượng các giá trị lượng mưa và bốc hơi khuyết của trạm A được
tính theo các phương trình sau đây:
- Đối với lượng mưa, ước lượng giá trị theo phép quy chính tắc tỷ số tức là
bằng phương trình tỷ số:
(2.6)
Với
(2.7)
2.1.2. Số liệu tái phân tích
Để nghiên cứu xác định được hình thế gây mưa lớn trên khu vực Đồng Bằng
Bắc Bộ một cách đầy đủ và có hệ thống, em lựa chọn bộ số liệu tái phân tích
Reanalyse từ năm 1986-2015. Độ dài chuỗi số liệu mà em lựa chọn, khai thác cho
các quá trình tính toán dựa trên nguyên tắc không quá ngắn, các kết quả thu được
Mưa rất to: Lượng mưa đo được > 100mm/24.
Một đợt mưa lớn diện rộng là một đợt mưa xảy ra khi phải quá 2/3 số trạm
quan trắc ghi nhận được và tương đối liên tục trong một khoảng thời gian nhất định,
trong đó có ít nhất một ngày đạt tiêu chuẩn mưa lớn. Khi quá trình mưa lớn diện
rộng xảy ra nhiều đợt trong một thời gian dài, các đợt mưa lớn diện rộng khác nhau
phải cách nhau một khoảng thời gian liên tục ít nhất là 24 giờ với trên 1/2 tổng số
trạm quan trắc hoàn toàn không có mưa. Tổng lượng mưa cả đợt được tính theo
lượng mưa đo được thực tế của từng trạm trong khoảng thời gian của cả đợt mưa kể
từ thời gian bắt đầu đến thời gian kết thúc mưa. Tổng lượng mưa lớn nhất được
chọn trong tổng lượng mưa thực đo của các trạm.
Số liệu được dùng là số liệu về các ngày mưa của khu vực Trung Trung Bộ.
Đầu tiên, đồ án tính trung bình lượng mưa tháng trong 21 năm (1990- 2010) của các
trạm, tiếp theo đó là xây dựng biểu đồ để thể hiện lượng mưa của các trạm.
Từ số liệu mưa, thống kê các trạm có ngày mưa vừa tới mưa lớn, sau đó
thống kê thêm các trạm có cùng ngày mưa vừa với lượng từ 16- 50mm, những ngày
mưa lớn trên 50mm. Cuối cùng, đồ án tiến hành xây dựng bản đồ synop dựa trên số
liệu tái phân tích từ năm 1990- 2010 với các thành phần hgt, u, v; kinh độ trên bản
đồ từ -200S đến 500N, vĩ độ từ 800E đến 1600E để vẽ bộ bản đồ của những ngày đó
để tìm ra nhữnghình thế gây mưa lớn.
Sau khi xây dựng bộ bản đồ, đồ án sử dụng phương pháp synop để phân tích
các hình thế gây mưa vừa, mưa lớn, đặc biệt là do ảnh hưởng của ITCZ.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KẾT QỦA NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chế độ mưa trên khu vực
Mùa mưa trên khu vực Trung Trung Bộ diễn ra khá phức tạp, thường thì dải
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Tuyên Hóa
39.7
48.5
58.6
69.5
161.5
115.8
137.0
336.3
235.9
123.9
Cồn Cỏ
148.2
61.3
56.4
64.4
67.5
57.0
62.0
162.5
359.7
464.1
249.2
247.6
60.1
52.9
70.5
123.8
89.7
71.2
172.4
398.6
799.8
698.3
378.9
A Lưới
64.6
55.5
63.3
161.4
160.1
258.0
501.6
1042.7
843.0
381.9
Đà Nẵng
80.2
25.8
31.2
49.9
88.8
75.5
93.0
697.0
589.5
309.3
Lý Sơn
113.4
42.4
82.8
70.4
87.2
46.1
37.5
171.2
422.5
562.5
458.3
105.6
48.2
69.5
77.4
88.4
78.6
118.2
267.1
667.6
688.5
497.7
126.3
Mùa mưa trong khu vực được thể hiện rõ hơn trong các hình 3.1a, 3.1b và 3.1c
dưới đây (sắp xếp theo thứ tự từ Bắc vào Nam):
Hình 3.1. Lượng mưa trung bình 20 năm của các trạm (1990- 2010).
Nhìn vào hình 3.1 ta thấy lượng mưa của các trạm trên khu vực Quảng Bình
và Quảng trị tập trung chủ yếu trong các tháng 8-12, trong đó cực đại là tháng 9