LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc
nhất, em xin gửi đến các thầy cô trường Đại học Nha Trang đã cùng với tri thức và tâm
huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian
học tập tại trường. Đó là những hành trang quý giá giúp cho em bước đầu hoàn thành tốt
kỳ thực tập tốt nghiệp của mình tại công ty cổ phần cà phê Mê Trang.
Để hoàn thành đợt thực tập này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các
anh chị, cô chú trong công ty cổ phần cà phê Mê Trang và xin gửi lời cám ơn đến giáo
viên hướng dẫn: cô Phạm Khánh Trang, đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành
đề tài tốt nghiệp của mình.
Trong quá trình thực tập, cũng như trong quá trình làm bài báo cáo, khó tránh khỏi
sai sót, rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô và các anh chị, cô chú trong công
ty để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 6 năm 2014
Sinh viên thực tập
Nguyễn Thị Thương
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, doanh nghiệp đứng trước nhiều
thách thức, khủng hoảng nợ khiến ngành công nghiệp cà phê Việt Nam hiện nay lao
đao.Để đứng vững trong môi trường này đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực hết mình, bên
cạnh đó phải nhận thức đúng đắn về vai trò và sứ mệnh của mình trong hoạt động mà
doanh nghiệp đã và đang hoạt động, cũng như có kế hoạch phù hợp cho những dự án
trong tương lai. Trong những vấn đề mà doanh nghiệp cần phải quan tâm, không thể
không nhắc đến khía cạnh “ tài chính”, một trong những yếu tố đi đầu góp phần vào quá
trình thực hiện những dự định và kế hoạch cho doanh nghiệp. Để kinh doanh đạt hiệu quả,
hạn chế rủi ro có thể xảy ra, doanh nghiệp cần thiết phải tìm hiểu phân tích hoạt động của
mình, bên cạnh đó nên dự đoán trước những điều kiện có thể xảy đến trong tương lai. Để
không bị thụ động và quản lý tốt hơn hoạt động của mình.
Phương pháp phân tích Dupont
4. Đóng góp của đề tài:
Phân tích tình hình tài chính và hoạch định chiến lược tài chính phù hợp là một
trong những việc làm quan trọng của doanh nghiệp. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp ở
Việt Nam thì việc phân tích kết quả hoạt động tài chính lại vô cùng quan trọng, khi trình
độ và khả năng thu hút vốn còn hạn chế, việc làm này sẽ giúp cho nhà quản lý có cái nhìn
toàn diện và khách quan hơn về tình hình vốn, tài sản, nợ vay, doanh thu,…trong mối
quan hệ với nhau.
Các chỉ số tài chính sẽ giúp cho những nhà đầu tư quan tâm đến doanh nghiệp. là
cầu nối giúp các nhà đầu tư dễ dàng và mạnh dạn hơn trong công việc cân nhắc đầu tư vào
doanh nghiệp thông qua các chỉ số phân tích được.
Trước thực trạng nền kinh tế hiện tại, khi mà việc hội nhập của các công ty nước
ngoài vào thị trường nội địa trở nên dễ dàng hơn, các doanh nghiệp trong nước không chỉ
cạnh tranh với nhau và còn phải chịu đựng áp lực lớn từ các đối thủ cạnh tranh từ nước
ngoài vào, vấn đề phân tích để đưa ra các chiến lược phù hợp là một trong những bước
đệm vững chắc giúp doanh nghiệp có thể tự tin hơn trong việc đưa ra các quyết định đầu
tư trong tương lai, góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, tiết kiệm được
chi phí,…
Vì thế, việc phân tích tình hình tài chính và xây dựng chiến lược tài chính có thể
giúp cho công ty cổ phần cà phê Mê Trang có kế hoạch sản xuất kinh doanh tiết kiệm hơn,
phát huy việc sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất.
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀ
CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm, mục tiêu, ý nghĩa của phân tích tài chính
1.1.1. Khái niệm
Phân tích tình hình tài chính là quy trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý và điều
hành tài chính ở doanh nghiệp, được phản ánh trên các báo cáo tài chính đồng thời đánh
giá những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra trên cơ sở đó kiến nghị những biện
pháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu. hay nói cách
khác, phân tích tài chính doanh nghiệp là làm cho các con số trên báo cáo tài chính biết
quyết định đầu tư vào doanh nghiệp hay không, theo hình thức, lĩnh vực nào?
Đối với cơ quan chức năng (cơ quan thuế, thống kê): thông qua thông tin trên các
báo cáo tài chính để xác định các khoản nghĩa vụ đơn vị phải thực hiện đối với nhà nước,
cơ quan thống kê tổng hợp phân tích hình thành số liệu thống kê, chỉ số thống kê…
Báo cáo của đơn vị được nhiều nhóm người khác nhau quan tâm, phân tích nhiều
khía cạnh nhưng thường liên quan đến nhau. Do đó các nhóm này thường sử dụng các
phương pháp và kỹ thuật cơ bản để phân tích báo cáo tài chính một cách có hiệu quả.
1.1.3. Ý nghĩa
Qua phân tích tình hình tài chính mới đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình phân
phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh
nghiệp. trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. với ý nghĩa đó,
nhiệm vụ của phân tích bao gồm:
Đánh giá tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn như: xem xét việc phân bổ vốn, nguồn
vốn hợp lý không? Xem xét mức độ đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh, phát hiện
nguyên nhân thừa thiếu vốn.
Đánh giá tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tình hình chấp hành các
chế độ, chính sách tài chính, tín dụng của nhà nước.
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Phát hiện khả năng tiềm tàng, đề ra các biện pháp động viên, khai thác khả năng
tiềm tàng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
1.2. Hệ thống báo cáo tài chính và mối quan hệ giữa các báo cáo tài chính
1.2.1. Hệ thống báo cáo tài chính
Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm những văn bản riêng của hệ thống kế toán được
tiêu chuẩn hóa trên phạm vi quốc tế. tùy thuộc vào đặc điểm, mô hình kinh tế , cơ chế
quản lý và văn hóa mà về hình thức, cấu trúc, tên gọi của các báo cáo tài chính có thể khác
nhau ở từng quốc gia. Tuy nhiên, nội dung hoàn toàn thống nhất. hệ thống báo cáo tài
chính là kết quả của trí tuệ và đúc kết qua thực tiễn của các nhà khoa học và của tất cả nền
kinh tế thế giới.
Nội dung mà báo cáo tài chính phản ánh là tình hình tổng quát về tài sản, sự hình
thành tài sản, vận động và thay đổi của chúng ta qua mỗi kỳ kinh doanh. Cơ sở thành lập
ánh thu nhập của hoạt động tài chính và các hoạt động khác qua một kỳ kinh doanh. Nội
dung của báo cáo kết quả kinh doanh là chi tiết hóa các chỉ tiêu của đẳng thức tổng quát
quá trình kinh doanh như sau:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn gọi là báo cáo ngân lưu
thể hiện lưu lượng tiền vào, tiền ra của doanh nghiệp. nói cách khác, chỉ ra các lĩnh vực
nào tạo ra nguồn tiền, lĩnh vực nào sử dụng tiền, khả năng thanh toán, lượng tiền thừa
thiếu vào thời điểm cần sử dụng để đạt hiệu quả cao nhất. báo cáo ngân lưu được tổng hợp
từ ba dòng ngân lưu ròng từ ba hoạt động:
Hoạt động kinh doanh: hoạt động chính tạo ra doanh thu của doanh nghiệp: sản
xuất, thương mại, dịch vụ…
Hoạt động đầu tư: trang bị, thay đổi tài sản cố định, liên doanh, góp vốn, đầu tư
chứng khoán, đầu tư kinh doanh bất động sản,…
Hoạt động tài chính: hoạt động làm thay đổi quy mô, kết cấu của nguồn vốn chủ sở
hữu và vốn vay của doanh nghiệp.
Để lập báo cáo ngân lưu có hai phương pháp: trực tiếp và gián tiếp. giữa hai
phương pháp chỉ khác nhau cách tính dòng ngân lưu từ hoạt động kinh doanh.
Thuyết minh báo cáo tài chính: là bảng báo cáo trình bày bằng lời văn nhằm giải
thích thêm chi tiết của những nội dung thay đổi về tài sản, nguồn vốn mà các dữ liệu bằng
số trong các báo cáo tài chính không thể hiện được. những điều mà thuyết minh báo cáo
tài chính phải diễn giải là:
Giới thiệu tóm tắt doanh nghiệp
Tình hình khách quan trong kỳ đã tác động đến hoạt động của doanh nghiệp.
Hình thức kế toán đang áp dụng
Phương thức phân bổ chi phí, khấu hao, tỷ giá hối đoái được dùng để hạch toán.
Sự thay đổi trong đầu tư, tài sản cố định, vốn chủ sở hữu
Tình hình thu nhập của nhân viên…
1.2.2. Mối quan hệ giữa các báo cáo tài chính
Mỗi báo cáo tài chính riêng biệt cung cấp cho người sử dụng một khía cạnh hữu ích
khác nhau, nhưng sẽ không thể có được những kết quả khả quan về tình hình tài chính nếu
một tỷ lệ kết cấu so với một khoản mục được chọn làm gốc có tỷ lệ là 100%.
Sử dụng phương pháp so sánh số tương đối kết cấu, phân tích theo chiều dọc giúp
chúng ta đưa về một điều kiện so sánh, dễ dàng thấy được kết cấu của từng chỉ tiêu bộ
phận so với tổng thể tăng giảm như thế nào. Từ đó đánh giá khái quát tình hình tài chính
doanh nghiệp.
1.3.4. Phân tích các chỉ số chủ yếu:
Phân tích các chỉ số cho ta biết mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính,
giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất và khuynh hướng tài chính của doanh nghiệp.
- Chỉ số phản ánh khả năng thanh toán
- Chỉ số phản ánh khả năng hoạt động
- Chỉ số phản ánh khả năng sinh lời
- Chỉ số phản ánh khả năng quản lý công nợ
- Các chỉ số liên quan đến cơ cấu tài chính
1.4. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1. Phân tích bảng cân đối kế toán
1.4.1.1. Phân tích sự biến động tài sản
Tài sản của doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp đang
tồn tại trong tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. tài sản của doanh nghiệp bao gồm:
- Tài sản ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn
- Tài sản dài hạn và đầu tư dài hạn
Đánh giá kháo quát sự biến động về tài sản là so sánh tổng số tài sản, cũng như giá
trị và tỷ trọng của các bộ phận cấu thành tài sản đó giữa các năm, để đánh giá sự biến
động về quy mô doanh nghiệp và những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình trên.
1.4.1.2. Phân tích sự biến động nguồn vốn
Nguồn vốn của doanh nghiệp phản ánh nguồn hình thành nên tài sản hiện có của
doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm:
- Nợ phải trả
- Nguồn vốn chủ sở hữu
Đánh giá khái quát sự biến động về nguồn vốn là so sánh tổng nguồn vốn, các bộ
nguồn vốn của doanh nghiệp
Việc nghiên cứu kết cấu tài sản và nguồn vốn giúp doanh nghiệp biết được sự bố trí
tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh cũng như việc bố trí nguồn vốn để hình thành nên tài
sản trong doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có hợp lý hay không, có phù hợp với
ngành nghề kinh doanh hay không.
Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình đầu tư chiều sâu, tình hình trang bị cơ sở vật chất
kỹ thuật, xây dựng của doanh nghiệp. Nó cho biết năng lực và xu hướng phát triển lâu dài
của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được đánh giá hợp lý hay không phụ thuộc vào từng ngành
nghề kinh doanh cụ thể.
Tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn:
Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng số tài sản hiện có trong doanh nghiệp thì tài sản
ngắn hạn bao gồm tiền và tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn
kho chiếm bao nhiêu phần trăm. Tỷ lệ đầu tư tài sản ngắn hạn cao hay thấp sẽ tốt hay xấu
tùy thuộc vào đặc điểm kinh doan của từng ngành ngề và nó cũng thể hiện một lượng tài
sản để trả nợ các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Tỷ số nợ:
Chỉ tiêu này phản ánh: trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp có bao nhiêu phần
trăm giá trị tài sản được hình thành bằng nguồn vay nợ. Tỷ số này càng lớn thì tính rủi ro
thanh khoản càng cao.
Các nhà đầu tư một mặt quan tâm đến khả năng trả lãi, mặt khác họ chú trọng sự
cân bằng hợp lý giữa nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, bởi vì điều này ảnh hưởng đến
sự đảm bảo các khoản tín dụng của nhà cho vay.
Đối với chủ sở hữu, họ thích tỷ lệ này cao bởi vì điều này có thể tạo ra lợi nhuận
nhiều hơn nhưng lại không sử dụng vốn chủ sở hữu.
Đối với bên cho vay, họ lại thích tỷ lệ này thấp hơn vì đảm bảo mức độ an toàn
càng cao cho nhà cung cấp tín dụng và đảm bảo trả nợ trong trường hợp doanh nghiệp bị
phá sản.
Tỷ số tự tài trợ
Chỉ tiêu này thể hiện sự góp vốn của chủ sở hữu vào quá trình kinh doanh. Tỷ số
Hệ số này càng lớn thì khả năng hoàn trả nợ ngắn hạn càng tốt. Ngược lại, hệ số
này càng nhỏ hơn giới hạn cho phép cho thấy trong trường hợp rủi ro bất ngờ, khả năng
trả nợ ngay cho các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là thấp.
Hệ số thanh toán ngắn hạn
Hệ số này cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn bằng tài sản hiện có (
phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp là cao
hay thấp. Hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng tốt. Tuy nhiên nếu
cao quá sẽ không tốt vì nó phản ánh doanh nghiệp đầu tư quá mức vào tài sản ngắn hạn so
với nhu cầu vốn của doanh nghiệp, hoặc có thể do hàng hóa tồn kho, ứ đọng quá lớn…, tài
sản ngắn hạn dư thừa không tạo thêm doanh thu, do đó vốn sử dụng không có hiệu quả.
Thông thường hệ số này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, dự
trữ theo mùa vụ… Nếu nó lớn hơn 1 thì doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn và tình hình tài chính bình thường hoặc khả quan. Ngược lại, doanh nghiệp
đang lâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán, thậm chí lâm vào tình trạng phá sản.
Hệ số thanh toán dài hạn
Hệ số thanh toán nợ dài hạn là chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thanh toán các
khoản nợ dài hạn bằng nguồn vốn như khấu hao tài sản cố định được mua sắm bằng
nguồn vốn vay dài hạn của doanh nghiệp, các khoản phải thu dài hạn được tài trợ bằng
nguồn vốn vay dài hạn…Nếu hệ số này lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp đảm bảo khả
năng thanh toán nợ dài hạn. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 chứng tỏ khả năng thanh toán nợ dài
hạn của doanh nghiệp thấp, buộc doanh nghiệp phải dùng các nguồn vốn khác để trả nợ.
Khả năng thanh toán lãi vay
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi vay và mức độ an toàn có thể đối với
nhà cung cấp tín dụng (bên cho vay) và đây cũng chỉ là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn vay của doanh nghiệp. hệ số này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn vay càng tốt. Nếu
hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả và không có khả năng
thanh toán lãi vay trong năm đó.
Nói một cách khác, hệ số này thể hiện khả năng doanh nghiệp tạo ra đủ thu nhập để
trang trải lãi vay. Lãi vay là khoản chi phí doanh nghiệp buộc phải vượt qua nếu không
nguy cơ phá sản sẽ là điều tất yếu xảy ra. Hệ số thanh toán lãi vay càng cao cho thấy khả
một khoảng thời gian bình quân là bao nhiêu.
Nếu số ngày càng lớn thì việc thu hồi các khoản phải thu chậm và ngược lại. Tuy
nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luân chắc
chắn mà phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở
rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Mặt khác vì kỹ thuật tính toán đã
che giấu đi các khuyết tật trong việc quản trị các khoản phải thu nên cần phải phân tích kỹ
hơn chỉ tiêu này.
Vòng quay hàng tồn kho và kỳ luân chuyển hàng tồn kho
• Vòng quay hàng tồn kho (IT)
IT =
Vòng quay hàng tồn kho cao càng chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả,
giảm được vốn đầu tư dự trữ, rút ngắn được chu kỳ chuyển đổi hàng dự trữ thành tiền mặt
và giảm bớt nguy cơ hàng tồn kho của doanh nghiệp trở thành hàng ứ đọng.
Nếu vòng quay hàng tồn kho quá cao, dẫn đến khả năng doanh nghiệp không đủ
hàng hóa thỏa mãn nhu cầu bán hàng, làm cho doanh nghiệp mất khách hàng. Ngược lại,
hàng tồn kho của doanh nghiệp dự trữ quá mức cần thiết, gây ứ đọng vốn, hoặc hàng hóa
không phù hợp với nhu cầu thị trường, tiêu thụ chậm…gây lãng phí vốn, chi phí sử dụng
vốn cao do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
• Kỳ luân chuyển hàng tồn kho(ITD)
ITD =
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho là số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một
vòng hay nói cách khác, để hàng tồn kho quay được một vòng thì phải cần một khoảng
thời gian bình quân là bao nhiêu ngày. Nếu số ngày luân chuyển càng lớn thì việc quay
hàng tồn kho chậm, điều này cũng đồng nghĩa với việc dự trữ nguyên vật liệu quá mức
hoặc hàng hóa trong doanh nghiệp tồn kho quá nhiều và ngược lại.
Hiệu suất sử dụng tài sản
• Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Số vòng luân chuyển tổng TS =
Ý nghĩa: Trong kỳ kinh doanh, bình quân 1 đồng tài sản đưa vào kinh doanh tạo ra
được bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng luân chuyển càng cao, càng nói lên được khả
Ý nghĩa: trong kỳ kinh doanh, bình quân cứ 100 đồng vốn đưa vào hoạt động sản
xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hay sau thuế. Tỷ suất
này còn được gọi là doanh lợi tài sản phản ánh hiệu quả của việc sử dụng các tài sản trong
doanh nghiệp để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ suất lợi
nhuận trên tổng tài sản càng cao thì trình độ quản lý sử dụng tài sản của doanh nghiệp
càng cao. Ngược lại, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản thấp, thể hiện trình độ năng lực
quản lý sử dụng tài sản của doanh nghiệp chưa hiệu quả. ROA được xem là hợp lý khi lớn
hơn hoặc bằng lãi suất cho vay vốn bình quân trên thị trường trong kỳ.
ROA đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. tỷ số này
cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư
( hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc
nhiều vào các ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công
ty, tốt hơn là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và giữa các công ty tương
đồng nhau.
Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. cả hai
nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc
chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì
công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Do vậy phân tích ROA
giúp các nhà quản lý có cơ hội đánh giá đúng đắn chất lượng công tác quản lý sử dụng tài
sản trong hoạt động kinh doanh, trên cơ sở đó đề ra biện pháp quản lý và nâng cao hiệu
quả sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận trên nguồn vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE = x 100%
Ý nghĩa: trong kỳ kinh doanh, bình quân cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đưa vào hoạt
động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế(sau thuế)
Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra
bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ
phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công
ty nào. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ
đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Đối với tỷ suất này, khi sử dụng phương pháp Dupont cho phép xác định nguồn gốc
làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp: hoặc là do doanh thu bán hàng không đủ lớn để tạo
ra lợi nhuận hoặc do lợi nhuận trên một đồng doanh thu quá nhỏ. Từ đó, nhà quản trị có
biện pháp điều chỉnh cho phù hợp: hoặc đẩy mạnh tiêu thụ hoặc tiết kiệm chi phí.
Doanh lợi tổng vốn(ROA)= =
= Doanh lợi doanh thu (ROS) Vòng quay tổng vốn
Phương trình trên cho thấy doanh lợi vốn kinh doanh phụ thuộc vào hai nhân tố
• Doanh lợi doanh thu(ROS): phản ánh mức sinh lời trên một đồng
doanh thu cao hay thấp. Đối với nhân tố này , mức sinh lời trên một
đồng doanh thu cao hay thấp là do ảnh hưởng của chi phí sản xuất phát
sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ cao hay thấp. Trong
tổng số chi phí phát sinh thì bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí bán
hàng và chi phí quản doanh nghiệp. Vì vậy, một khi phân tích tỷ số này
thấp thì ta phải đề ra biện pháp để giảm chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
• Vòng quay tổng vốn: phản ánh mức độ hoạt động của doanh nghiệp
trong kỳ tốt hay xấu. Đối với nhân tố này, việc làm giảm tốc độ quay
vòng của vốn là do tốc độ tiêu thụ hàng hóa trong kỳ là quá thấp hoặc
doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản trong doanh nghiệp. Từ
việc phân tích trên, ta đề ra các biện pháp hợp lý và kịp thời theo
hướng đẩy mạnh và mở rộng thị trường tiêu thụ để gia tăng doanh thu
và tận dụng công suất máy móc thiết bị đã đầu tư.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE = = x
= x x
= ROS x Vòng quay tổng tài sản x
Phương trình trên cho thấy doanh lợi vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào ba nhân tố, đó
là: doanh lợi doanh thu, số vòng quay tổng vốn và tỷ số nợ.
Đối với các nhân tố doanh lợi doanh thu và số vòng quay tổng vốn thì việc phân
dự án chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Thiết lập những công cụ cần thiết để thực thi chiến lược như: phải có mục tiêu cụ
thể, xác định công cụ đo lường hiệu quả, cũng như quy trình thực hiện chiến lược…
Chiến lược tài chính phải hướng tới hỗ trợ cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu
chung.
1.5.1.3. Ý nghĩa của việc xây dựng chiến lược tài chính
Việc xây dựng một chiến lược tài chính phù hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp có
hướng đi đúng trong việc quản lý sử dụng nguồn lực tài chính một cách hợp lý, mang lại
hiệu quả cao, tránh lãng phí nguồn nhân lực.
Có chiến lược đầu tư đúng đắn kịp thời sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong
việc ứng phó với những thay đổi của môi trường kinh doanh, nhằm hạn chế đến mức thấp
nhất thiệt hại có thể.
Lập chiến lược tài chính sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động tìm kiếm nguồn vốn
cũng như đối tác kinh doanh phù hợp nhất, nhờ vào việc chủ động từ trước, thời gian
không hạn hẹp.
Tóm lại, một doanh nghiệp muốn kinh doanh mang lại hiệu quả cao,chất lượng
được đảm bảo và ít bị phụ thuộc hay tác động lớn từ các yếu tố khách quan, thì điều đầu
tiên cần xác định đối với mỗi doanh nghiệp là đưa ra cho được chiến lược kinh doanh của
mình là gì? Từ đó hoạch định những chiến lược nhỏ hơn liên quan đến chiến lược tổng
thể. Và một trong những chiến lược vô cùng quan trọng mà doanh nghiệp nào cũng nên
chú ý xem xét trước khi tiến hành hoạt động, đó chính là chiến lược tài chính, một trong
những chiến lược quan trọng góp phần làm nên sự thành bại của doanh nghiệp.
1.5.2. Điều kiện để thực hiện một chiến lược tài chính
Doanh nghiệp chỉ có thể đưa ra một chiến lược hữu ích khi xác định rõ được vấn đề
cần giải quyết. Muốn vậy doanh nghiệp cần hiểu một cách cơ bản nhất về tình hình tài
chính của mình.
Doanh nghiệp nên:
Xác định được các mục tiêu của mình. Chiến lược chỉ có thể phát huy tác
dụng khi nó giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Xác định được tình trạng tài chính của doanh nghiệp. Cần phải tiết kiệm
lai
Rất cao
Tỷ số giá thu nhập P/E Rất thấp
EPS Danh nghĩa hoặc âm
Giá cổ phần
Tăng trưởng hoặc biến động
cao
Mức độ rủi ro trong kinh doanh khá cao, vì thế chiến lược tài chính trong giai đoạn
này là phải sử dụng một cấu trúc vốn để có mức độ rủi ro tài chính càng thấp càng tốt.
Vậy nên, việc sử dụng nguồn tài trợ từ vốn chủ sở hữu là tốt nhất và nếu hoàn toàn không
có nợ tài trợ thì càng tốt. Và phần lớn, nhà đầu tư cho giai đoạn này chủ yếu là các nhà
đầu tư mạo hiểm; họ đầu tư với hy vọng lãi vốn, khi giá cổ phiếu được họ kỳ vọng là sẽ
tăng, họ đầu tư không vì mục đích cổ tức được chia.
Giai đoạn khởi nghiệp phải đầu tư lớn vào máy móc, thiết bị, các tài sản có giá trị
lớn, để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, doanh thu còn đang thấp, dòng tiền vào
có thể âm, vì thế chính sách cổ tức cho giai đoạn này với tỷ lệ chi trả bằng 0. Các nhà đầu
tư sở dĩ đầu tư vào những doanh nghiệp đang ở giai đoạn này vì họ kỳ vọng sự tăng
trưởng của doanh nghiệp trong tương lai là rất cao, khi bước sang giai đoạn tăng trưởng,
giá cổ phiếu họ nắm giữ sẽ tăng mạnh, trong khi lợi nhuận có được ở giai đoạn này không
chia nên tỷ giá thu nhập sẽ lớn và họ có thể bán cổ phiếu lúc này để được lãi vốn mà họ đã
chi ra.
Chiến lược tài chính trong giai đoạn tăng trưởng
Các thông số của chiến lược tài chính trong giai đoạn tăng trưởng
Rủi ro kinh doanh Cao
Rủi ro tài chính Thấp
Nguồn tài trợ
Các nhà đầu tư vốn cổ phần
tăng trưởng
Chính sách cổ tức Tỷ lệ chi trả danh nghĩa
Triển vọng tăng trưởng trong
Giá cổ phần
Ổn định trên thực tế với biến
động thấp
Rủi ro kinh doanh giảm xuống đáng kể so với các giai đoạn trước đó, cho phép một
mức rủi ro tài chính đi kèm cao hơn bằng việc tài trợ vốn từ nợ. Dòng tiền dương cùng với
việc sử dụng nợ vay sẽ khuếch đại tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, vì thế tỷ lệ chi
trả cổ tức sẽ cao hơn. Trong giai đoạn bão hòa, doanh số bán sẽ trở nên ổn định và khó
tăng mạnh như giai đoạn tăng trưởng, vì vậy những kỳ vọng về sự tăng trưởng trong
tương lai sẽ giảm đi; giá chứng khoán cũng trở nên ổn định cùng với tỷ lệ chi trả cổ tức
cao hơn trước sẽ làm cho tỷ số giá thu nhập P/E ổn định và thấp hơn giai đoạn trước.
Chiến lược tài chính trong giai đoạn suy thoái
Rủi ro kinh doanh Thấp
Rủi ro tài chính Cao
Nguồn tài trợ Nợ
Chính sách cổ tức Tỷ lệ chi trả toàn bộ
Triển vọng tăng trưởng trong
tương lai
Âm
Tỷ số giá thu nhập P/E Thấp (cả P và E đều thấp)
EPS Thấp và giảm dần
Giá cổ phần Giảm và tăng trong biến động
Giai đoạn này doanh số bán đã giảm nhiều so với trước. Các hoạt động kinh doanh
trong giai đoạn này không còn được mở rộng, vì vậy rủi ro kinh doanh thấp đi; thay vào
đó để duy trì cấu trúc vốn hợp lý doanh nghiệp sẽ phải đi vay nợ làm rủi ro tài chính trở
nên cao hơn; lợi tức mang về lúc này (nếu có) sẽ chi trả với tỷ lệ cao vì tiền mặt có được
không có mục đầu tư để sử dụng.
Triển vọng tăng trưởng âm cùng với mức chi trả cổ tức cao làm cho tỷ giá thu nhập
P/E giảm xuống. Triển vọng thấp và tỷ lệ chi trả cổ tức cao, cho thấy dự án đầu tư tương
lai của công ty không có, cổ đông có thể bán cổ phiếu với số lượng lớn hơn thay vì giữ nó
dẫn đến giá thị trường của cổ phiếu có thể giảm.
1.5.4.3. Quyết định phân chia lợi nhuận đạt được
Bên cạnh những quyết định liên quan đến hoạt động trực tiếp của doanh nghiệp thì
quyết định trong việc phân chia cổ tức cho cổ đông cũng là một trong những quyết định
quan trọng. Nó biểu hiện phần nào cho tình hình kinh doanh của doanh nghiệp trong thời
gian sắp tới. Đối với chính sách chi trả cổ tức với tỷ lệ thấp, thay vào đó giữ lại lợi nhuận
cao, cho thấy trong tương lai doanh nghiệp đang có những dự án cần thêm vốn, tức doanh
nghiệp đang mở rộng hoạt động, tình hình kinh doanh trong tương lai có thể khả quan,
ngược lại một số chính sách chi trả cổ tức cao, cho thấy trong thời gian sắp đến quy mô
kinh doanh có thể không có nhiều tiến triển, doanh nghiệp chi trả cổ tức để giảm bớt
lượng tiền mặt đang nắm giữ, và đó cũng là những câu hỏi mà các nhà đầu tư quan tâm
và đặt ra; và hiển nhiên chính sách chi trả cổ tức sẽ ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu trên thị
trường, từ đó tác động đến giá trị của doanh nghiệp.
Ngoài những quyết định chủ yếu vừa nêu trên thì trong tài chính doanh nghiệp còn
có một số quyết định khác như: quyết định chia nhỏ hay gộp cổ phần, quyết định mua,
bán, sáp nhập doanh nghiệp; quyết định trong quản lý chi phí lương, cho phí cho quản cáo
bán hàng,…
CHƯƠNG 2
2.1 Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần cà phê Mê Trang.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty cổ phần cà phê Mê Trang ban đầu có tên là Công ty TNHH cà phê Mê
Trang.
Người lãnh đạo và sáng lập là ông Lương Thế Hùng.
Công ty được thành lập ngày 20/10/2000 dưới hình thức là công ty TNHH, đến
ngày 22/05/2007 công ty chuyển đổi sang công ty cổ phần.
Tên công ty: công ty cổ phần cà phê Mê Trang.
Tên tiếng anh: Me Trang coffee Join Stock Company
Tên viết tắt: METRANG.Co
Giấy phép kinh doanh số 370.3000265 do Sở Kế Hoạch Đầu Tư Khánh Hòa cấp
ngày 22/05/2007
Vốn điều lệ : 37.995.150.000 đồng.