đánh giá vai trò của thực vật thủy sinh và quần thể vi sinh vật trong việc xử lý nước hồ văn quán - Pdf 24

Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 0 - TRƢỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
KHOA ĐÔ THỊ TIỂU LUẬN:
SINH THÁI VÀ MÔI TRƢỜNG ĐÔ THỊ
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA THỰC VẬT THỦY SINH VÀ
QUẦN THỂ VI SINH VẬT TRONG VIỆC XỬ LÝ NƢỚC HỒ
VĂN QUÁN

GVHD: Ths. Nguyễn Hồng Vân
Sinh viên thực hành: Nguyễn Xuân Nhất
Lớp 11M

Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 1 -

DANH MỤC VIẾT TẮT


Bảng 7. Kết quả phân tích giá trị P-PO
4
3-
trong mẫu

nƣớc theo thời gian
Bảng 8. Hiệu quả khả năng xử lí nƣớc thải của TVTS và quần thể VSV đối với nƣớc Hồ
Văn Quán

Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 3 - DANH MỤC HÌNH

Hình 1. Các quá trình biến đổi hóa sinh trong nƣớc
Hình 2. Khát quát khu vực hồ Văn Quán
Hình 3. Cây bèo tây
Hình 4. Cây bèo cái
Hình 5. Cây thủy trúc
Hình 6. Bố trí thí nghiệm
Hình 7. Quy trình pha loãng mẫu
Hình 8. Biểu đồ thể hiện sự biến đổi giá trị TSS của các đối tƣợng nghiên cứu theo thời
gian
Hình 10. Biểu đồ thể hiện sự biến đổi giá trị N-NH
4
+
của các đối tƣợng nghiên cứu theo

2.3.1.2. Vai trò của VSV trong việc xủ lý và làm sach nƣớc thải
3. Tình hình nghiên cứu về xử lý nƣớc thải bằng vi sinh vật và TVTS
3.1. Tình hình và các kết quả nghiên cứu trên thế giới
3.2. Tình hình và các thành tựu có đƣợc ở Việt Nam
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tƣợng nghiên cứu
1.1. Đối tƣợng nƣớc nghiên cứu
1.2. Đối tƣợng thực vật nghiên cứu
1.2.1.1. Cây bèo tây
1.2.1.2. Cây bèo cái
1.2.1.3. Cây thủy trúc
2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm
2.2. Phƣơng pháp phân lập VSV
2.3. Phƣơng pháp xác định số lƣợng VSV
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Kết quả đánh giá hiện trạng nƣớc hồ Văn Quán và một số thông số dặc trƣng
2. Xác định số lƣợng quần thể VSV trong nƣớc và hệ rễ TVTS trong mẫu nƣớc Hồ Văn
Quán
2.1. Xác định số lƣợng quần thể VSV trong nƣớc Hồ Văn Quán
2.2. Xác định số lƣợng quần thể VSV trong hệ rễ TVTS đối với mấu nƣớc hồ Văn
Quán
3. Đánh giá sự thay đổi các thông số đặc trƣng của nƣớc hồ Văn Quán sau khi xử lí bằng
TVTS
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 5 -
Xử lý nƣớc thải bằng phƣơng pháp sử dụng các loại thực vật thủy sinh (TVTS) và
vi sinh vật (VSV) đã và đang đƣợc áp dụng tại nhiều nơi trên thế giới với nhiều ƣu điểm.
Xử lý nƣớc bằng thực vật và vi sinh vật là công nghệ xử lý trong môi trƣờng tự nhiên,
thân thiện vơi môi trƣờng, cho phép đạt hiệu suất cao, chi phí thấp và ổn định, đồng thời
bên cạnh đó còn tăng giá trị về đa dạng sinh học, cải tạo cảnh quan môi trƣờng, hệ sinh
thái của địa phƣơng. Sinh khối thực vật, bùn phân hủy, nƣớc thải sau khi xử lí còn gián
tiếp mang lại nhiều giá trị kinh tế. Mặt khác, Việt Nam là nƣớc nhiệt đới, khi hậu nóng
ẩm, rất thích hợp cho sự phát triển của các loài thực vật thủy sinh và vi sinh vật.
Do vậy, em chọn đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá vai trò của thực vật thủy sinh và
quần thể vi sinh vật trong việc xử lý nước ở hồ Văn Quán” làm đề tài nghiên cứu của
mình.
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 7 -  Khách thể nghiên cứu:
Hồ Văn Quán – Khu đô thị Văn Quán – Hà Đông – Hà Nội.
 Đối tƣợng nghiên cứu:
Thực vật thủy sinh (cây bèo tây, cây bèo cái, cây thủy trúc ) và quần thể vi sinh vật ở hồ
Văn Quán.
 Phạm vi nghiên cứu:
Hồ Văn và Hồ Võ thuộc hệ thông hồ Văn Quán.
 Thời gian khảo sát:
Bắt đầu từ tháng đầu 8-2013 đến cuối tháng 9- 2013
 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

Nội xuất phát từ các vùng trũng hoặc nhánh sông trên nền đất trẻ. Sự hình thành các hồ
gắn liền với sự phát triển đô thị. Các dòng chảy qua kênh, hồ tạo nên khung sinh thái là
nguông phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động khác của đo thị. Các hồ tạo
thành một hệ thống kết nối với các sông tiêu thoát nƣớc cho thủ đô.
Do các đô thị có địa hình tƣơng đối bằng phẳng nên mật độ các hồ ao và kênh
thoát nƣớc trong thành phố tƣơng đối cao, chiếm khoảng 10-15% diện tích đô thị. Các hồ
nội thành có diện tích từ một vài ha đến hàng trăm ha ( hồ lớn nhất là hệ thống hồ Tây –
hồ Trúc Bạch có diện tích gần 500 ha) . Đây là khung sinh thái đo thị đảm nhận các vai
trò: tiếp nhận, điều hòa nƣớc mƣa, xử lý nƣớc thải thông qua quá trình tự làm sạch, nuôi
cá và là nơi vui chơi giải trí của ngƣời dân. Chức năng chính của các hồ là phục vụ thoát
nƣớc, xử lý nƣớc thải sơ bộ.
Theo khảo sát của Trung tâm nghiên cứu môi truongf và cộng đồng ( CECR) năm
2010, Hà Nội hiện có 120 hồ, ao, đầm, thủy vực lớn nhỏ trong 6 quận nội thành. Trong số
80/120 hồ thì có 76% số hồ có diện tích lớn hơn 1.000m
2
, 17,5% hồ có diện tích dƣới
500m
2
và 6% hồ có diện tích từ 500- 1.000 m
2
. Hầu hết các hồ trong nội thành là nơi tiếp
nhận trục tiếp nƣớc thải, nƣớc mƣa của hệ thống thoát nƣớc quanh đó sau đó tiêu thoát
qua các mƣơng thoát nƣớc chung của thành phố. Trừ Hồ Tây và Hồ Hoàn Kiếm đƣợc sử
dụng cho mục đích tham quan du lịch, điều hòa nƣớc mƣa, tiếp nhận nƣớc thải có hạn
chế thì các hồ còn lại đóng vai trò chứa và thoát nƣớc thải, nƣớc mƣa của khu vực. Các
hồ ngoại thành nhƣ Hồ Yên Sở, Hồ khu đô thị mới Định Công, Linh Đàm đóng vai trò
nhƣ các hồ đầu mối tiếp nhận nƣớc điều hòa nƣớc mƣa.
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
Vùng hiếu khí sảy ra quá trình quang hợp của tảo và các TVTS kahcs để cung cấp
ooxxi cho vi khuẩn, chúng cũng sử dụng các chất khoáng tróng đó có CO
2
và NH
4
+
do vi
khuẩn tạo thành để phát triển tăng sinh khối và thải oxi.
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 10 - Vùng tùy nghi với hệ VSV khá phong phú với các loại vi khuẩn. Các vi khuẩn này
phân giải các chất hửu cơ thành nhiều chất trung gian khác, cuối cùng là CO
2
va H
2
O
đồng thời tạo ra các tế bào mới, chúng sử dụng O
2
do tảo và các loài thức vật trong nƣớc
sinh ra.
Các VSV phân hủy các chất hữu cơ thành các chất vô cơ, cung cấp cho các TVTS,
trƣớc hết là tảo. Tảo và các TVTS khác lại cung cấp ooxxi cho vi khuẩn. Các loài TVTS
nhƣ tảo, rong, bèo, có rễ, thân tạo điều kiện cho VSV bám vào mà không bị chìm
xuống đáy. Chúng cung cấp oxi cho vi khuẩn hiếu khí, ngoài ra còn cung cấp cho VSV
những hoạt chất sinh học cần thiết, ngƣợc lại vi khuẩn cung cấp ngay tại chỗ cho thực
vật những sản phẩm trao đổi chất của mình, đồng thời thực vật cũng che chở cho vi
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 11 - Phần lớn các hồ bị ô nhiễm chất hữu cơ, có tới 71% hồ có giá trị BOD
5
vƣợt quá
mức tiêu chuẩn cho phép (>15mg/L); trong đó 14% hồ bị nhiễm nặng (>100mg/L);25%
hồ bị nhiễm nặng (BOD
5
từ 50-100mg/L) và 32% có dấu hiệu ô nhiễm. 70% số lƣợng có
nồng độ oxy hòa tan (DO) dƣới mức tiêu chuẩn cho phép (<4mg/L); 6 hồ có nồng độ DO
dƣới 1mg/L, nghĩa là hầu nhƣ không có sự sống của VSV.
Nguyên nhân gây ô nhiễm chình là do nƣớc thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, khu
dân cƣ, nhà hàng, quán ăn, cơ quan, Ngoài ra còn có nƣớc thải của các khu công
nghiệp, bệnh viên, Phần lớn các nguồn nƣớc thải này đều chƣa qua xử lí đổ ra sông và
hồ, gây ô nhiễm cho hồ ngày càng nặng.
Theo Sở Tài Nguyên – Môi Trƣờng Hà Nội, tổng lƣợng nƣớc thải sinh hoạt và
nƣớc thải sản xuất công nghiệp ở khu vực nội thành khoảng 500,00m
3
/ngày, đều tiêu
thoát qua hệ thống cống và 4 sông tiêu chính là Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngƣu. Nƣớc thải
từ hoạt động sản xuất, bệnh viện và cơ sở dịch vụ chứa nhiều chất gây ô nhiễm chƣa
đƣợc sử lí chiếm tới 90% tổng lƣợng nƣớc thải công nghiệp, dịch vụ xả thẳng vào vào
nguồn nƣớc mặt. Hiện Hà Nội chỉ mới có 40 cơ sở sản xuất công nghiệp, 29 cơ sở sản
xuất dịch vụ và 5 bệnh viện có trạm sử lí nƣớc thải.
Hiện tƣợng đổ phế thải dựng, đổ đất, lấn chiếm ao hồ, làm giảm đáng kể diện
tích ao hồ, nhiều hồ đang dần dần biến mất. Các hồ chƣa kè đều đứng trƣớc nguy cơ bị
lấn chiếm, việc kè hồ giúp chấm dứt việc lấn chiếm. Tuy nhiên, nhiều hồ đã kè những

ảnh hƣởng đến khả nẳng tự làm sạch của hồ và gây ảnh hƣởng tới môi trƣờng và sức
khỏe cộng đồng. Đặc biệt, một số hồ còn tổ chức nuôi cá, đƣa nƣớc thải và bã bia và hồ
đến nuôi cá đã làm gia tăng mức độ ô nhiễm của nƣớc hồ.
Nhƣ vậy trong tƣơng lai nguy cơ ô nhiễm nguồn nƣớc sông, hồ ở thành phố Hà
Nội không những không giảm mà còn gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là ô nhiễm chất thải
công nghiệp, sinh hoạt. Đây là cảnh báo khẩn cấp cho công tác bảo vệ và phục hồi chất
lƣợng nƣớc ở thành phố Hà Nội phụ vụ cấp nƣớc an toàn cho sinh hoạt, thủy sản, du lịch
và nông nghiệp.
2. Xử lý nƣớc thải bẳng thực vật thủy sinh và quá trình làm sạch nƣớc thải
bằng vi sinh vật

2.1. Xử lý nƣớc thải bằng phƣơng pháp thủy sinh
Thực vật thủy sinh (TVTS) là loại thực vật sinh trƣởng trong môi trƣờng nƣớc, nó
có vai trò quan trọng trong việc xử lý ô nhiễm nƣớc thải. Hiện nay, TVTS đang là
đối tƣợng đƣợc quan tâm đến trong cử lý nƣớc thải vì những ƣu điểm của chúng:
- Tăng trƣởng nhanh nên hấp thu mạnh chất ô nhiễm.
- Sử dụng thực vật thủy sinh là phƣơng pháp thân thiện với môi trƣờng.
- Chi phí xử lý thấp
- Sinh khối sau khi xử lý có thể tận dụng cho các mục đích khác nhƣ chăn
nuôi, làm phân bón, sản xuất protein, khi metan
Một số vai trò chủ yếu của TVTS:
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 13 - a. Làm giá thể cho VSV sống
Quần thể VSv thực hiện các giai đoạn khác nhau trong quá trình xử lý. TVTS cung cấp
cho VSV bề mặt hay giá thể để sinh trƣởng, phát triển và tạo ra màng sinh học, lớp màng

hóa. Tốc độ thải oxi từ rễ cây phụ thuộc vào nồng độ oxi bên trong, nhu cầu
oxi của môi trƣờng xung quanh và tính thấm của lớp tế bào vách. Tốc độ
thoát oxi cao nhất ở vùng dƣới đỉnh rễ và giảm tỉ lệ với khoảng cách từ đỉnh
rễ.
b. Chuyên chở nƣớc và chất ô nhiễm
Khi thực vật hút nƣớc theo nhu cầu của cây đồng thời cũng đƣa nƣớc
vào đất và mang theo các chất ô nhiễm khác nhau đã đƣợc ion hóa vào
trong đất. Trong quá trình xử lý, các chất có tiềm năng gây ô nhiễm có thè
ơ trạng thái khỏng hoạt động qua sự trao dổi, kết tủa, bám dính, tích tụ, oxi
hoa và sự biến đổi các ion. Nếu không có thực vật hoạt động nhƣ là các
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 14 - máy bơm hút nƣớc thải vào trong đất, các phản ứng trên đây không thế xảy
ra đƣợc.
c. Sử dung chất dinh dƣỡng
TVTS sử dụng nitơ, photpho và các nguyên tố vi lƣợng khác trong quá
trình sinh trƣởng. Sự hấp thu chất dinh dƣỡng xảy ra ở rễ và cả phần thân,
lá chìm trong nƣớc. TVTS trong vùng đất ngập nƣớc có năng suất rất cao.
Nơi sinh khối đƣợc thu hoạch thì lƣợng chất dinh dƣỡng đƣợc lấy di rất
cao. Tuy nhiên phần lớn các chất dinh dƣỡng đƣợc hấp thu bởi thực vật sẽ
quay trả lại hệ thống khi các phần thân và lá bị chết và thối rữa trong quá
trình già hóa của cây. Do vậy việc thu hái thƣờng xuyên sinh khối thực vật
là hết sức quan trọng để loại bỏ các chất dinh dƣỡng ra khói hệ thống.
d. Lọc
Thân và lá của thực vật ngập nƣớc và rễ của thực vật nổi giống nhƣ là một lớp ngăn
chất lơ lƣng đi vảo hệ thống. Nó cũng làm chậm dòng nƣớc chảy qua hẹ thống nên các

là 3-5 x 5-10mm. Khác với vi khuẩn và xạ khuẩn, nấm men có cấu tạo tế bào khá phức
tạp, gần giống nhƣ tế bào thực vật. Có đầy đủ các cấu tạo thành tế bào, màng tế bào chất,
tế bào chất, ty thể, ryboxom, nhân, không bào và các hạt dự trữ.Ở 3 nấm men có 3 hình
thức sinh sản:
-Sinh sản sinh dƣỡng: là hình thức sinh sản đơn giản nhất của nấm men. Có 2 hình
thức sinh sản sinh dƣỡng: nảy chồi và hình thức ngang phân đôi tế bào nhƣ vi khuẩn.
-Sinh sản hữu tính: do hai tế bào nấm men kết hợp với nhau hình thành hợp tử. Hợp
tử phân chia thành các bào tử nằm trong nang, nang chin tế bào tử đƣợc phân tán ra
ngoài. Trong chu trình sống của nhiều loại nấm men, có sự kết hợp với các hình thức sinh
sản khác nhau.
Vai trò của nấm men là rât quan trọng trong tự nhiên vì chúng là nhân tố tham gia
các quá trình lên men (lên men lactic, men rƣợu, men methanol…)
Nấm mốc: Nấm mốc có cấu tạo hình sợi dạng phân nhánh, tạo thành một hệ sợi
chằng chịt phát triển rất nhanh gọi là khuẩn ty thể hay sợi nấm. Chiều ngang của khuẩn tit
hay đổi từ 3-10mm. Khuẩn lạc của nấm mốc cũng có nhiều màu sắc nhƣ khuẩn lạc xạ
khuẩn. Khuẩn lạc nấm mốc khác với xạ khuẩn ở chỗ nó phát triển nhanh hơn, thƣờng to
hơn khuẩn lạc xạ khuẩn nhiều lần. Dạng xốp hơn do kích thƣớc khuẩn ti to hơn. Nấm
mốc có cấu tạo tế bào điển hình nhƣ ở sinh vật bậc cao. Đa số nấm mốc có câu tạo đa
bào, tạo thành những tổ chức khác nhau nhƣ sợi khí sinh, sợi cơ chất.
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 16 - Nấm mốc giữ vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất trong tự nhiên, bởi vì
nấm mốc có hệ enzyme rất phong phú. Nhiều loại enzym công nghiệp vẫn đƣợc sản xuất
từ nấm mốc.
Vi khuẩn đóng vai trò quan trọng (có thể nói là chủ yếu) trong quá trình phân hủy
chất hữu cơ, làm sạch nƣớc thải, trong vòng tuần hoàn vật chất. Các nhóm VSV khác nhƣ

chuỗi thức ăn của các hệ sinh thái. Nó đóng vai trò quyết định trong quá trình tự làm sạch
các môi trƣờng tự nhiên.
Từ xa xƣa, con ngƣời đã biết sử dụng VSV trong đời sống hằng ngày. Các quá trình
làm rƣợu, làm dấm, làm tƣơng, muối chua thực phẩm… đều ứng dụng đặc tính sinh học
của các nhóm VSV. Khi khoa học phát triển, biết rõ vai trò của VSV, thì việc ứng dụng
nó trong đời sống sản xuất ngày càng rộng rãi và có hiệu quả. Ví dụ nhƣ việc chế vắc xin
phòng bệnh, sản xuất chất kháng sinh và các dƣợc phẩm khác quan trọng khác… Đặc biệt
trong bảo vệ môi trƣờng, ngƣời ta đã sử dụng VSV làm sạch môi trƣờng, xử lý các chất
thải độc hại. Sử dụng VSV trong việc chế tạo phân bón sinh học, thuốc bảo vệ thực vật
không gây độc hại cho môi trƣờng, bảo vệ mối cân bằng sinh thái.
Trong thiên nhiên ngoài những nhóm VSV có ích nhƣ trên, còn có những nhóm
VSV gây hại. Ví dụ nhƣ các nhóm VSV gây bệnh cho ngƣời, động vật và thực vật, các
nhóm VSV gây ô nhiễm thực phẩm, gây ô nhiễm các nguồn nƣớc, đất và không khí…
Trong nƣớc thải các chất nhiễm bẩn chủ yếu là các chất hữu cơ hòa tan, ngoài ra
còn có các chất hữu cơ ở dạng keo và phân tán nhỏ ở dạng lơ lửng. Các dạng này tiếp xúc
với tế bào vi khuẩn bằng cách hấp thụ hay keo tụ sinh học, sau đó sẽ xảy ra quá trình dị
hóa và đồng hóa.
Nhƣ vậy, quá trình làm sạch nƣớc thải gồm 3 giai đoạn sau:
- Các hợp chất hữu cơ tiếp xúc với bề mặt tế bào VSV.
- Khuếch tán và hấp thụ các chất ô nhiễm với nƣớc qua màng bán thấm vào trong tế
bào VSV.
- Chuyển hóa các chất này trong nội bào để sinh ra năng lƣợng và tổng hợp các vật
liệu mới cho tê bào VSV.
Các giai đoạn này có mối lien hệ rất chặt chẽ. Kết quả là nồng độ các chất nhiễm
bẩn nƣớc giảm dần, đặc biệt là vùng gần tế bào VSV nồng độ chất hữu cơ ô nhiễm thấp
hơn vùng ở xa. Đối với sản phẩm do tế bào VSV tiết ra thì ngƣợc lại. Phân hủy các chất
hữu cơ chủ yếu xảy ra trong tế bào VSV.
Cơ chế quá trình phân hủy các chất trong tế bào VSV:
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân


3. Tình hình nghiên cứu về xử lý nƣớc thải bằng thực vật thủy sinh và VSV

3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới việc sử dụng TVTS đƣợc biết đến từ lâu và đã ứng dụng rộng rãi trên
các nƣớc nhƣ Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, New Zeland, Châu Âu và Bắc Mỹ.
Các loại thực vật nổi đã đƣợc nghiê cứu để xử lý nƣớc thải sinh hoạt(Ran và cộng
sự-2004), xử lý nƣớc thải đô thị(Greenway và Woolley-1999; Daulu và Ndamba-2003)
cũng nhƣ nƣớc thải công nghiệp(Miretzky et al 2004).
TVTS đang phát triển tự nhiên có thể đƣợc sử dụng để loại bỏ nitrat, photphat và
các kim loại nặng, bằng cách tiêu thụ chúng ở dạng dinh dƣỡng thực vật.
Các thực vật nhƣ bèo tây và bèo cái đã đƣợc sử dụng rộng rãi để nân cao chất lƣợng
nƣớc thải. Hệ thống xử lý nƣớc thải sử dụng bèo tây đã đƣợc tiến hành ở các bang
California, Florida, Massachusetts và Texas. Hiệu suất xử lý nói chung là tốt. BOD hiệu
quả loại bỏ dao động khoảng 37-91% trong khi đó TSS dao động từ 21-92% .
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 19 - Kutty, Ngatenah, Isa, Malakahmad của trƣờng đại học Teknologi PETRONAS,
Malaysia năm 2009 đã nghiên cứu hiệu quả xử lý của bèo tây trong việc xử lý nƣớc và
nhận ra rằng bèo tây là loại TVTS có khả năng loại bỏ chất hữu cơ, chất dinh dƣỡng và
kim loại nặng cao trong xử lý nƣớc. Bèo tây cho hiệu quả xử lý COD khoảng 94%, N-
NH
4
+
là 81%, photpho là 67% và nitrat là 92% đồng thời có tốc độ sinh trƣởng, khả năng
tồn tại cao ở nồng độ cao các chất dinh dƣỡng .
Năm 2008, Y.Zimmels, F.Kihner, A.Malkovskaja của viện công nghệ Israel đã tiến

Lê Thị Hiền Thảo(2005) nghiên cứu khả năng làm sạch nƣớc thải hồ Bảy Mẫu của
một số loài thực vật nƣớc. Kết quả cho thấy một số loài thực vật bậc cao nhƣ bèo tấm và
rong đuôi chó có khả năng làm sạch nƣớc, giảm hàm lƣợng các chất bẩn và một số kim
loại nặng trong nƣớc hồ. Hiệu quả xử lý đối với các kim loại nặng của rong đuôi chó cao
hơn bèo tấm .
Nguyễn Việt Anh(2005) nghiên cứu xử lý nƣớc thải sinh hoạt bằng bãi lọc ngầm
một bậc trồng cây, nƣớc đầu ra đạt tiêu chuẩn cột B về các chỉ tiêu COD, SS, TP. Với hệ
thống xử lý 2 bậc nối tiếp nhau, nƣớc đầu ra đạt tiêu chuẩn cột A của TCVN 5945- 1995.
Và còn nhiều nghiên cứu lớn nhỏ khác.
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 21 - CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
1.1. Đối tƣợng nƣớc nghiên cứu
Nguồn nƣớc đƣợc lựa chọn để xử lý là nƣớc hồ Văn Quán (Hình 2). Hồ rộng
khoảng 2000m
2
nằm giữa khu đô thị Văn Quán thuộc địa phận quận Hà Đông - Thành
phố Hà Nội. Nguồn nƣớc này chủ yếu là từ các nhà hàng, cơ sở kinh doanh dịch vụ khác
ở gần hồ và từ các khu dân xung quanh chảy vào hồ theo 2 đƣờng cống:
- Một cống ở phía trƣớc của nhà hàng O
2

vào năm 1905.
Cây bèo tây mọc cao khoảng 30 cm với dạng lá hình tròn, màu xanh lục, láng và
nhẵn mặt. Lá cuốn vào nhau nhƣ những cánh hoa. Cuống lá nở phình ra nhƣ bong bóng
xốp ruột giúp cây bèo nổi trên mặt nƣớc. Ba lá đài giống nhƣ ba cánh. Rễ bèo trông nhƣ
lông vũ sắc đen buông rủ xuống nƣớc, dài đến 1m.Sang hè cây bèo nở hoa sắc tím nhạt,
điểm chấm màu lam, cánh hoa trên có 1 đốt vàng. Có 6 nhuỵ gồm 3 dài 3 ngắn. Bầu
thƣợng 3 ô đựng nhiều noãn, quả nang. Dò hoa đứng thẳng đƣa hoa vƣơn cao lên khỏi
túm lá. Cây bèo tây sinh sản rất nhanh nên dễ làm nghẽn ao hồ, kênh rạch. Một cây mẹ có
thể đẻ cây con, tăng số gấp đôi mỗi 2 tuần. Tuy nhiên chính tốc độ sinh trƣởng này lại là
lợi thế của bèo tây trong việc xử lý nƣớc thải. Ở Việt Nam, bèo tây thƣờng phát triển
mạnh ở hồ ao, ven sông, sống thành quần thể sát bên sông hoặc kênh rạch.
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page - 24 -
1.2.2. Cây bèo cái

Hình 4. Cây bèo cái
Tên khoa học: pistia stratiotes
Bèo cái là một loài TVTS trong họ Ráy, sống nổi trên mặt nƣớc trong khi rễ chìm
dƣới nƣớc gần các đám lá trôi nổi. Bèo cái là loại cây một ỉá mầm với các lá dầy, mềm
tạo ra hình dáng giống một cái nơ. Các lá xếp hình hoa thị và khồng cỏ cuống, có màu
xanh lục nhạt với các gân lá song song, các mép lá gợn sóng và bề mặt lá có lớp lông
mịn(Hình 4). Loài bèo này là một loài thực vật đơn tính, có các hoa nhỏ ẩn ở đoạn giữa
của cây trong các đám lá, có thể sinh sản vô tính. Các cây mẹ và cây con liên kết với
nhau bằng một thân bò ngắn, tạo ra các cụm bèo cái dầy đặc. Điều này làm cản trở sự
trao đổi khí trong mặt phân giới nƣớc - không khí dẫn đến làm giảm lƣợng oxi trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status