đánh giá vai trò của người dân trong các hình thức tự quản trong nuôi trồng thủy sản của vùng ven phá tam giang-thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có diện tích khoảng 22.000ha với chiều dài hơn
60km. Bờ phá phía Tây tiếp xúc với đồng ruộng và nhận nước của nhiều sông, suối.
Phía đông là dãi đụn cát ven biển kéo dài gần như khép kín, phá thông với biển Đông
qua hai cửa Tư Hiền và Thuận An. Chính tính chất này đã tạo cho đầm phá Tam Giang
- Cầu Hai nguồn tài nguyên phong phú và đóng vai trò rất quan trọng đối với nuôi
trồng thuỷ sản, giao thông - cảng, du lịch, nông nghiệp, điều hoà khí hậu, môi trường
Đầm phá Tam Giang có nguồn tài nguyên thuỷ sinh vật phong phú và đa dạng.
Đây là nơi cung cấp nguồn cung cấp chủ yếu và trực tiếp cho cộng đồng dân cư ở trên
và ven đầm phá. Đầm phá Tam Giang Cầu Hai có chức năng điều hoà môi trường và
trong một khía cạnh cạnh nào đó thì nó không chỉ quyết định đến sự phát triển kinh tế
xã hội ở các địa phương mà còn là nguồn lợi kinh tế thuỷ sản chủ yếu cho cả tỉnh.
Với nhận thức về tầm quan trọng của hệ đầm phá Tam Giang- Cầu Hai, từ
trước đến nay cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về đầm phá được tiến hành trên nhiều
phương diện. Đây như là một địa điểm thuận lợi cho các nghiên cứu về địa hình, địa
chất, sinh vật, thủy hải văn, kinh tế, tiến hành những nghiên cứu có tính chất thực
nghiệm cũng như ứng dụng.
Đầm phá Tam Giang đang là nơi phát triển rất mạnh về nuôi trồng thủy sản và
hiệu quả mang lại rất lớn. Song bên cạnh đó, hậu quả mang lại cho cuộc sống người
dân cũng như môi trường khá trầm trọng, bởi người dân khai thác nguồn tài nguyên
này một cách bừa bãi như đánh bắt hủy diệt, dịch bệnh phát tán đã làm cho nguồn
tài nguyên này ngày càng cạn kiệt, môi trường ô nhiễm nặng do quá trình sử dụng
người dân đã thải nước một cách bừa bãi. Hậu quả là trong những năm gần đây hiệu
quả của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản đã giảm sút.
Do vậy việc nghiên cứu xây dựng mô hình sử dụng hợp lý và quản lý lâu bền môi
trường đầm phá này có ý nghĩa khoa học và kinh tế - xã hội to lớn đối với người dân
thuộc khu vực đầm phá Thừa Thiên Huế. Bộ Thuỷ sản cũng đã quan tâm và tiến hành
1
nghiên cứu điển hình ở Thừa Thiên Huế trong việc xây dựng đường lối quản lý nguồn

, đầm Sam Chuồn và
đầm Thủy Tú rộng 69km
2
, đầm Cầu Hai rộng 104km
2
.
Phá có chiều dài hơn 68 km, rộng nhất 8 km, hẹp nhất là 0.6km, độ sâu trung
bình 1.5-2m, tổng diện tích là 216 km
2
, chiếm 4.3% diện tích lãnh thổ, hay 17,2% diện
tích đồng bằng Thừa Thiên Huế, là hệ thống đầm phá ven biển lớn nhất nước ta và
thuộc vào loại lớn trên thế giới.
Bên cạnh đó, hệ đầm phá ngoài sự đa dạng về loài (số lượng loài của hệ khoảng
900 loài, có nhiều loài đặc hữu, và nhiều loài quý hiếm,…) hệ đầm phá còn có tính đa
dạng về habitat và các phụ hệ sinh thái. Thảm cỏ nước có vai trò rất quan trọng đối với
sinh thái hệ, có vai trò như những_ khu rừng dưới đáy nước_. Hệ đầm phá Tam Giang
Cầu Hai bao gồm nhiều phụ hệ như phụ hệ sinh thái đầm lầy, phụ hệ sinh thái cỏ nước,
phụ hệ sinh thái đáy mềm,.v.v. Không những thế nguồn lợi thủy sinh của khu vực
cũng rất dồi dào. Nhiều loài sinh vật vùng đầm phá có giá trị kinh tế khai thác tự
nhiên, đánh bắt và nuôi trồng. Trong đó có 4 nhóm cơ bản là rong cỏ, tôm – cua, thân
mềm và cá. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà sinh học, hệ đầm phá 162 loài cá, 12
loài tôm, cua, giáp xác và nhiều loại rong tảo có giá trị kinh tế cao đặc biệt một số loài
như tôm sú, cá nước lợ có giá trị xuất khẩu cao.
Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai không chỉ thuận lợi cho hoạt động sản xuất
NTTS mà nó còn là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông
nghiệp. Một diện tích đáng kể đất ngập nước ven phá đã ssược tu bổ thành đất sản xuất
nông nghiệp ở các huyện Phú Vang, Phú Lộc,… cũng đã cho năng suất cao. Một số
3
vùng cấy lúa một vụ hoặc chuyển sang trồng màu vào mùa khô rộng đến hàng trăm ha.
Diện tích bãi cỏ ở các bờ sông là nơi chăn thả gia súc và nuôi vịt tới hàng ngàn con.

4
(Vinh Bình). Chính hình thức quản lý này đã làm sản lượng đánh bắt của ngư dân lớn,
mật độ khai thác ngư cụ sử dụng phù hợp, môi trường thông thoáng và không ô nhiễm.
Thêm vào đó, những tranh chấp về địa điểm đánh cá, địa điểm đặt ngư cụ cố định hay
những tranh chấp giữa người đánh bắt với nhau ít xảy ra (Ông Vinh Bình - Sở thuỷ
sản, Ông Truồi - ban chấp hành chi hội nghề cá Vinh Phú).
Sau năm 1975 đến nay, hình thức quản lý thay đổi. Cho đến nay, Vạn chài hầu
như đã biến mất. Cơ chế quản lý mới theo hệ thống chiều dọc. 3 cơ quan chính quản lý
đầm phá tại Thừa Thiên là Bộ thuỷ sản, Sở thuỷ sản, phòng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn.
Đối với công tác quản lý, UBND huyện căn cứ vào ranh giới hành chính của xã
theo bản đồ địa chính ban hành và quản lý mặt nước của từng xã theo ranh giới hành
chính này.
Đối với từng xã, UBND huyện sẽ cấp giấy phép cho từng chi hội nghề cá cơ sở
quản lý dưới sự giám sát và chỉ đạo của chính quyền địa phương. Theo đó, Hàng quý
chi hội sẽ có báo cáo đối với các cấp chính quyền. Đồng thời, quá trình cấp giấy phép
phải được tiến hành trên khắp đầm phá Thừa Thiên Huế.
2.2. Quản lý và các hình thức quản lý NTTS.
2.2.1. Khái niệm về quản lý tài nguyên thủy sản:
Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm duy trì và phát triển có hiệu
quả chất lượng của một tổ chức được đặt ra. [1]
Quản lý là quá trình thực hiện các tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý để phối hợp các hoạt động của cá nhân và tập thể nhằm đạt được các mục tiêu
đã đề ra của tổ chức. [1]
Quản lý được hiểu theo hai góc độ, một là góc độ tổng hợp mang tính chính trị
và xã hội, hai là góc độ mang tính hành động thiết thực. Quản lý được C.Mac là chức
năng đặc biệt được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Một số tác giả định nghĩa:
“Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt
động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục đích đã đề
ra và đúng với ý chí của người quản lý” (VIM, 2006)

trêm quyền sử dụng của cộng đồng được xem là phù hợp trong khuôn khổ đồng quản
lý.
6
Bằng ứng dụng “quyền sử dụng của cộng đồng”, quan hệ chủ quyền và hợp tác
trong quản lý được chia sẽ đúng mức đạt được sự bền vững ổn định nghề sẽ được cải
thiện đáng kể.[3]
Đồng quản lý - là một cách tiếp cận quản lý theo kiểu đối tác, trong đó Chính
phủ chia sẽ một số quyền hạn, trách nhiệm và chức năng quản lý thủy sản nhất định
với những người sử dụng nguồn lợi (ngư dân).
Tầm quan trọng của việc đồng quản lý trong công tác NTTS ven biển sẽ được
đặt vào nông dân NTTS, cộng đồng tại địa phương và các cơ quan chính quyền tại địa
phương dưới sự hỗ trợ của chính phủ. Chính quyền của địa phương bao gồm chính
quyền làng, xã, huyện và tỉnh. [5]
Mục tiêu của hệ thống đồng quản lý trong NTTS ven bờ là hỗ trợ phát triển bền
vững ngành NTTS và nguồn tài nguyên ven bờ thông qua các hệ thống quản lý hiệu
quả và cân đối, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của dân địa phương. Người dân tham
gia với chính quyền trong công tác quy hoạch, lựa chọn điểm, chọn lựa, vận hành,
quản lý và chuẩn bị khảo sát thị trường cho NTTS. [5]
2.2.3. Quản lý dựa vào cộng đồng ở hệ đầm phá Tam Giang.
Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng (CBCRM) là chiến lược toàn
diện nhằm xác định những vấn đề mang tính nhiều mặt ảnh hưởng đến môi trường ven
biển thông qua sự tham gia và có ý nghĩa của những cộng đồng ven biển. Điều quan
trọng hơn là chiến dịch này tìm cách xác định vấn đề cốt lõi của sự tiếp cận tự do cùng
với tất cả hậu quả bất công và không hiệu quả, bằng cách tăng cường sự tiếp cận và
kiểm soát của cộng đồng đối với nguồn tài nguyên của họ.
Thuật ngữ “Dựa vào cộng đồng” là một nguyên tắc mà những người sử dụng tài
nguyêncũng phải là người quản lý hợp pháp đối với tài nguyên đó.
Điều này phân biệt nó với các chiến lược quản lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên khác hoặc là có tính tập trung hóa cao hoặc là không có sự tham gia của các
cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên.

dựng tổ chức cộng đồng (ví dụ chi hội nghề cá), các tổ, nhóm, sử dụng tài nguyên phù
hợp với vấn đề hoạt động. Các cấp cộng đồng tổ chức cộng dồng đề cử người phù
trách và xây dựng quy ước đặc thù của họ. Mạng lưới tổ chức này sẽ thực hiện chỉ đạo
của chính quyền địa phương tổ chức nâng cao hiểu biết, lựa chọn giải pháp và vận
động thực hiện. Cũng cần nhận thức rằng, khi mới bắt đầu áp dụng phương pháp cộng
đồng, năng lực của cán bộ cơ sở và các tổ chức cộng đồng còn rất hạn chế vì vậy các
hỗ trợ từ các chương trình và dự án bên ngoài là rất quan trọng.
8
Cùng với việc cũng cố việc tổ chức cộng đồng thì việc giải quyết vấn đề cũng
cần được phân cấp phù hợp. Các tổ chức cộng đồng chia sẽ trách nhiệm bằng cách xây
dựng sự đồng thuận về mục tiêu, giả pháp và cách thức hoạt dộng giữa các bên liên
quan trên cơ sở phân cấp của chính quyền. Phương thức chung là hỗ trợ cho các cấp tổ
chức cộng đồng đảm nhận vai trò chủ đạo trong hoạt động, từ xây dựng dân trí đến lựa
chọn phương án, và vận đồng theo phương châm “Cùng chia sẽ và cùng có lợi” hoặc
“mình vì cộng đồng và cộng đồng vì mình”. Chỉ cộng đồng mới có thể lựa chọn và
giải pháp tối ưu cho quản lý và phát triển kinh tế. Việc áp đặt giải pháp từ bên ngoài
thường nóng vội và phiến diện, thường chỉ căn cứ vào pháp lý đã vô tình đặt cộng
dồng ra ngoài cuộc nên khả năng thực thi rất thấp. Giải pháp thường hoặc nặng về
quản lý (ảnh hưởng sinh kế). Hoặc chỉ phát triển sinh kế (suy giảm môi trường và công
bằng)
Phát triển quản lý NTTS dựa vào cộng đồng là quá trình phân tích, hướng dẫn
và thuyết phục để người nuôi trồng thuỷ sản tự nguyện thành lập các tổ, cụm, nhóm
cộng đồng dân cư tự quản. Quản lý dựa vào cộng đồng không phải là mới ở nước ta.
Dưới thời phong kiến, ngoài luật pháp của nhà nước phong kiến, các làng xã đều có
hương ước, quy ước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong làng. Các hình thức tổ
chức mang tính cộng đồng như tổ chức Làng, Xã, Phường, Hội, Giáp, Vạn, tổ chức
Dòng họ,… đã tồn tại và phát triển mạnh mẽ từ lâu. Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta
cũng nhận thức rõ vai trò và tác dụng của phát triển quản lý cộng đồng và đã ban hành
nhiều văn bản pháp luật hỗ trợ phát triển các hình thức quản lý dựa vào cộng đồng.
Chẳng hạn năm 1998, Chính phủ đã ra Chỉ thị số 24 hướng dẫn xây dựng hương ước,

+ Dân số
+Diện tích
+Cơ cấu ngành
+Thu nhập bình quân/năm
+Các hoạt động tạo thu nhập
+Giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng
3.3.3. Tìm hiểu các hình thức tổ chức tự quản trong quản lý NTTS
- Mục đích
- Cơ quan quản lý.
- Thời gian hình thành
- Quy mô tổ chức:
+ Ban quản lý
+ Số lượng thành viên tham gia vào các năm: 2005, 2006, 2007.
- Hoạt động:
11
+ Quy chế, quy định, quy ước của tổ chức.
+ Nguồn kinh phí hoạt động của tổ chức
+ Cách thức tổ chức các hoạt động (phân công nhiệm vụ, trách nhiệm, )
+ Tập huấn:
- Kỹ thuật tập huấn hàng năm
- Số lượng người tham gia các KT chính
- Số lượng người đã áp dụng thành công
+ Quản lý dịch bệnh
- Các dịch bệnh xãy ra
- Hình thức phòng trừ dịch bệnh
- So sánh tình hình dịch bệnh qua các năm 2005, 2006, 2007.
- Kết quả đạt được:
+ Dịch bệnh
+ Các hoạt động giám sát, đánh giá.
- Thuận lợi và khó khăn của các hình thức quản lý.

+Gián tiếp
-Vai trò của người dân trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động hằng năm
+Số lượng người dân tham gia
+Nội dung của kế hoạch hoạt động.
+Nội dung do người dân đề xuất.
- Các hoạt động người dân thực hiện
- Các hoạt động người dân không thực hiện, nguyên nhân.
3.3.6. Nhận thức của người dân về hoạt động tự quản.
- Hiểu biết của người dân về tổ tự quản
+ Hoạt động
+ Kết quả
- Diện tích nuôi trồng thủy sản
- Sản lượng
- Thu nhập
- Kiến thức về chăm sóc quản lý
- Dịch bệnh: thay đổi qua các năm 2005, 2006, 2007.
- Tiêu chí xếp hộ theo mô hình: sản lượng, hình thức nuôi, thu nhập
3.4. Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1. Chọn mẫu:
- Điểm nghiên cứu:
13
Xã Vinh Hưng là một xã ven đầm phá, nằm về phía Đông của huyện Phú Lộc,
có quốc lộ 49B chạy qua, giao thông đi lại khá thuận tiện, cách trung tâm thành phố
Huế 35km về hướng Đông Nam.
Thị trấn Thuận An thuộc huyện Phú Vang nằm về phía Đông Nam của tỉnh
Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 12km về Phía Đông Bắc. Không những thế thị
trấn cũng có đường quốc lộ 49 chạy qua, đây là điểm thuận lợi cho giao thông và buôn
bán phát triển.
- 30 hộ tham gia vào các hình thức tự quản.
3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin:

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tình hình phát triển NTTS ở Phá Tam Giang
Ngành thuỷ sản có vai trò quan trọng đối với tỉnh Thừa Thiên Huế. Sở thuỷ sản
cho biết có khoảng 300.000 người, tức một phần ba dân số toàn tỉnh có một phần hoặc
toàn phần sinh kế trực tiếp dựa vào các hoạt động ở vùng phá Tam Giang – Cầu Hai,
bao gồm nuôi trồng và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở đầm phá.
Ngành thuỷ sản Thừa Thiên Huế trong mấy năm gần đây đã có nhiều thay đổi
lớn, xét trên bình diện rộng về sử dụng tài nguyên đầm phá, dù đó là tài nguyên thuỷ
sinh, tài nguyên đất hoặc nước. Vì vậy, trước thực tế về tầm quan trọng rất lớn của
ngành thuỷ sản nói chung đối với sinh kế cư dân đầm phá nói riêng trước tác động của
dân số ngày càng tăng lên tài nguyên.
Hoạt động NTTS khởi đầu ở vùng đầm phá Huế khoảng 20 năm về trước. Theo
sở thuỷ sản, NTTS cũng đã có nhiều thành tựu, đóng góp vào việc tăng thu nhập cho
người dân.
Theo quy hoạch phát triển của tỉnh, hoạt động nuôi nước ngọt có thể sẽ mở
rộng, làm giãm thêm diện tích trồng lúa và lấn sang vùng đất cát. Tuy nhiên, nuôi tôm
có thể coi là hoạt động NTTS quan trọng nhất về diện tích, số lượng người tham gia
cũng như lượng tiền đầu tư vào. Tỉnh đặc biệt chú trọng vào nền công nghiệp này, coi
đó là phương tiện xoá đói giãm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong
vùng. Hàng năm tỉnh đều chú trọng đưa ra các chỉ tiêu phát triển trong lĩnh vực NTTS.
Theo số liệu của sở thuỷ sản, năng suất khai thác thuỷ sản đầm phá tối đa ước
tính vào khoảng 4.500 tấm một năm. Tuy nhiên, do nhiều vấn đề sẽ đề cập sau, trong
đó đánh bắt quá mức, khai thác và nuôi trồng thiếu kiểm soát, nên tổng sản lượng đánh
bắt đã giãm xuống 2.500 – 3.000 tấn một năm, xu hướng suy giãm có từ thập niên 70.
Sản lượng từ đánh bắt biển cũng theo xu hướng tương tự. Mặt khác nuôi trồng thuỷ
sản ở Thừa Thiên Huế lại trở thành nguồn cung cấp thuỷ sản quan trọng của tỉnh, sản
lượng tôm đã lớn hơn sản lượng cá
Hoạt động NTTS năm nay, nhờ chỉ đạo chặt chẽ, tôm thả đúng lịch thời vụ, nuôi
1 vụ ăn chắc, tăng cường kiểm dịch con giống nên đã hạn chế dịch bệnh, diện tích nuôi
tôm bị dịch 153,6 ha, chỉ bằng 53,1% so cùng kỳ, chủ yếu bệnh đốm trắng, vàng mang;

2
.
Vùng Sam Chuồn có hình như cái vịnh chính ở phía đông thuộc huyện Phú Vang,
và là vùng quan trọng trong hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Khu vực đầm Sam
Chuồn có diện tích đầm nước khoảng 2,365 ha chiếm 34.6% diện tích đầm phá của
huyện và liên quan chặt chẽ đến các xã Phú An, Phú Xuân, Phú Mỹ cũng như vùng
mặt nước của thị trấn Thuận An. Khu Vực này có mực nước sâu trung bình là 1.6m, có
tài nguyên thủy sản và các hoạt động khai thác NTTS có liên quan đến độ mặn. Thị
trấn Thuận An thuộc khu vực đầm phá Sam Chuồn là vùng trọng điểm nhất về sản
17
lượng đánh bắt và phát triển NTTS. Vì nó nằm cạnh cửa biển chịu ảnh hưởng của chế
độ song triều và trao đổi nước với cửa sông Hương. Do đó vùng Sam Chuồn đa dạng
về bải giống, bãi đẻ các loài thủy sản, các loài nước mặn và nước lợ. Vùng có mềm và
nước cạn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển NTTS. [2]
Độ mặn theo mùa và phụ thuộc theo thủy triều, dòng chảy của các sông và thời
kỳ lũ lụt. Nhìn chung, vào thời kỳ thàng 10 và 11 nước ngọt hóa do mưa và lụt. Độ
mặn dao động từ 0,4-0,8 %o từ tháng 12 đến tháng 2. Trong thời gian từ tháng 3 đến
tháng 9độ mặn lên đến 2,4- 3,3%o. Quanh vùng sam chuồn là vùng ruộng trũng thải
nước theo mùa vụ. [2]
Xã Vinh Hưng là một trong những xã thuộc khu vực đầm Thủy Tú, có chiều dài
là 7km dọc theo chiều dài của xã, với độ rộng khoảng 1-1,5km, độ sâu 2,5-3m.
Tài nguyên sinh vật của đầm Thủy Tú với khoảng 25 loài sinh vật thủy sinh
sinh sống theo hệ sinh vật ở đây khá đa dạng và phong phú với nhiều loài cá, tôm, có
giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên nguồn lợi tự nhiên này đang bị khai thác quá mức dẫn
đến suy giảm mạnh và có khả năng cạn kiệt. Sự đa dạng của sinh vật cũng như môi
trường thuận lợi của khu vực đầm phá, là điều kiện thuận tiện cho việc đánh bắt và
NTTS. Và NTTS đã trở thành ngành kinh tế mủi nhọn, có hiệu quả kinh tế, thu nhập
cao, góp phần điều tiết trong đời sống xã hội, xóa đói giảm nghèo của xã.
Ngoài giá trị về nguồn lợi thủy sinh, vùng đầm phá của hai xã còn có giá trị về
giáo dục khoa học kỷ thuật và văn hóa, giá trị định cư, phát triển sản xuất nông nghiệp.

Thị trấn Thuận An Xã Vinh Hưng
Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%)
Tổng số hộ 3.766 100 1.778 100
Hộ khá 1.048 27,83 508 28,57
Hộ Trung bình 2.446 64,95 829 46,63
Hộ nghèo 272 7,22 441 24,80
Nguồn: Báo cáo thống kê của xã - 2008
Qua bảng số liệu cho thấy tỷ lệ các nhóm hộ của hai địa phương cũng như thực
trạng chung của các khu vực khác của cả nước nói chung và của tỉnh Thừa Thiên Huế
nói riêng. Tỷ lệ của hộ khá vẫn còn thấp, thị trấn Thuận An là 27,83% và của xã Vinh
Hưng là 28,57%. Song tỷ lệ hộ nghèo của thị trấn Thuận An so với tỉnh Thừa Thiên
Huế nói riêng và của cả nước nói chung là thấp. Điều này chứng tỏ chính quền địa
phương rất quan tâm và đã thực hiện rất tốt chính sách xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ
19
nghèo năm 2007 là 7,22%. Nhưng xã Vinh Hưng tỷ lệ hộ nghèo khá cao năm 2007 là
24,8%. Mặc dù vậy trong những năm gần đây tốc độ xóa đói giảm nghèo của xã khá
nhanh. Và đây cũng là kết quả của việc chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp sang nuôi
trồng thủy sản. Và chính hoạt động này đã tạo ra sự chuyển biến trong đời sống kinh tế
của cư dân thi trấn Thuận An và xã Vinh Hưng.
4.2.3. NTTS ở thị trấn Thuận An và xã Vinh Hưng:
Thị trấn Thuận An (huyện Phú Vang) và xã Vinh Hưng (huyện Phú Lộc) là hai
địa bàn thuộc vùng ven phá Tam Giang. Ở đây có cơ cấu đất đai khá đa dạng, là điểm
thuận lợi giúp bà con nông dân cải thiện sinh kế. Cơ cấu đất đai của hai địa bàn thể
hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Cơ cấu diện tích đất đai của thi trấn Thuận An và xã Vinh Hưng
Chỉ tiêu Đơn vị Thị trấn Thuận An Xã Vinh Hưng
Diện tích đất tự nhiên ha 1.702 1.606
Diện tích nông nghiệp ha 306 163.18
Diện tích mặt nước Ha 902 535
Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội năm 2007

thế khá cao trong hoạt động sinh kế của các hộ dân trong vùng, chiếm gần đến 80%
tổng số hộ dân .
Qua đó ta cũng thấy được rằng mức độ khai thác trong lĩnh vực thuỷ sản của
các vùng ven phá đang ngày càng tăng, đó cũng chính là nguyên nhân mà nguồn lợi
thuỷ sản đang ngày càng cạn kiệt, và môi trường đang ngày càng bị ô nhiễm nặng.
Hoạt động NTTS ở thị trấn Thuận An và xã Vinh Hưng chủ yếu phát triển
mạnh hình thức nuôi ao với hai loài nuôi chính là nuôi tôm sú và nuôi cá. Đối với thị
trấn Thuận An thì phát triển mạnh cả nuôi ao và nuôi tôm. Nhưng xã Vinh Hưng chủ
yếu phát triển mạnh hình thức nuôi ao với loài nuôi chính là tôm sú. Kết quả tìm hiểu
được thể hiện ở bảng sau:
21
Bảng 4: Tình hình NTTS của Thị trấn Thuận An và xã Vinh Hưng
Chỉ tiêu Đơn vị
TT. Thuận An Xã Vinh Hưng
2005 2006 2007 2005 2006 2007
Diện tích NTTS Ha/năm 310 312 302 350 350 364.5
Diện tích nuôi tôm Ha/năm - 100 90 320 337.5 350
Diện tích nuôi Nuôi cá Ha/năm - 82 92 20 12,5 14,5
Diện tích nuôi Nuôi
lồng
Ha/năm - 66 80 - - -
Tổng sản lượng NTTS Tấn/năm 427,5 437,2 498,5 600 600 600
Sản lượng KT.tự nhiên Tấn - - - 294 130 135
Nguồn: Báo cáo KTXH thị trấn Thuận An và xã Vinh Hưng - 2007
Thị trấn Thuận An, chính quyền địa phương cũng đã chỉ đạo nhân dân chuyển
đổi một số diện tích trồng lúa sang NTTS. Sự chuyển đổi này một phần là do lợi nhuận
về mặt kinh tế mang của NTTS mang lại rất cao. Kết quả là năm 2007 thị trấn Thuận
An có tổng diện tích NTTS là 302 ha trong đó có 90 ha nuôi tôm, 92 ha nuôi có và có
80 lồng. Nhưng năm 2006 diện tích nuôi tôm là 100 ha. Như vậy so với năm 2007 diện
tích này đã giãm đi 10 ha, nguyên nhân chủ yếu là do nuôi tôn bị dịch bệnh đã ngư dân

phá. Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 5: Đặc điểm nhân khẩu
Chỉ tiêu Đơn vị Các hình thức tự quản
Tổ tự quản
hợp tác xã
quản lý
Tổ tự quản
tự quản lý
Tổ tự quản
do xã quản

Văn hoá chủ hộ (cấp I) % hộ khảo sát 70 100 70
Tuổi chủ hộ Tuổi/ người 49,40 49,20 48,10
Số khẩu Người/ hộ 5,00 5,40 5,70
Số lao động Người/ hộ 2,6 2,30 2,80
Thu nhâp/ khẩu/ năm Triệu đồng 16,58 20,20 5,45
Nguồn: phỏng vấn hộ - 2008
Theo kết quả khảo sát trên, hầu hết các hộ thuộc các tổ chức tự quản trình độ
văn hóa của các chủ hộ có phần nào bị hạn chế, trình độ văn hóa trung bình hầu hết chỉ
học đến bậc tiểu học đặc biệt là tổ tự quản chiếm tỷ lệ 100%. Và đây cũng là một vấn
đề chung của cư dân sinh sống ở các khu vực ven phá.
23
Sự hạn chế về trình độ cũng gây cản trở cho sự phát triển kinh tế của các hộ gia
đình. Họ thiếu hiểu biết hơn cũng như thiếu các kiến thức về xã hội. Điều này đã hạn
chế đến việc tiếp cận và ứng dụng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật mới vào sản
xuất, đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của hộ gia đình. Việc hạn chế về
hiểu biết, nhận thức là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc đông con và làm cho người
dân khó khăn trong việc thoát nghèo.
Các hộ tham gia NTTS ở ba tổ chức tự quản đều có độ tuổi trung bình là 49 –
50 tuổi đây cũng là vấn đề hạn chế trong hoạt động sản xuất. Quá trình sản xuất NTTS

của các hộ nuôi trồng này không được bền vững, họ phải chấp nhận những rủi ro trong
NTTS.
4.3.3. Hoạt động NTTS
NTTS đang là hoạt động sản xuất được xem như là “nồi cơm” của ngư dân vùng
đầm phá. Mỗi hộ tiến hành nuôi thuỷ sản trên các ao riêng rẽ nhưng đều phụ thuộc vào
một môi trường và nguồn nước chung. Chất lượng nước bị biến đổi nhanh chóng khi
đi qua các ao nuôi. Trong nông nghiệp chất lượng nước thay đổi không ảnh hưởng lớn
đến kết quả sản xuất nên người nông dân ít quan tâm. Nhưng trong nuôi thuỷ sản ven
biển, việc thay đổi chất lượng nước có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến kết quả sản
xuất của các hộ gia đình. Bệnh dịch NTTS thường phát tán qua nguồn nước. Nếu
Hoạt động
Các hình thức tự quản
Tổ tự quản hợp tác
xã quản lý
Tổ tự quản tự
quản lý
Tổ tự quản do
xã quản lý
Sản xuất nông nghiệp
0 0 0
Hoạt động NTTS 100 100 100
Nông nghiệp và NTTS 100 0 0
Hoạt động khác
0 10
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status