KẾT QUẢ bước đầu PHỤC TRÁNG GIỐNG KHOAI LANG HOÀNG LONG tại NINH bình - Pdf 24

TRỊNH THỊ THANH HƯƠNG và cộng sự

Trung tâm Thực nghiệm Sinh học Nông nghiệp Công nghệ cao,
Viện Di truyền Nông nghiệp
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI - PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
có mùi thơm đặc trưng, hiện
đã được trồng nhiều nơi và là
nguồn thu nhập quan trọng
của các hộ nông dân nghèo
do khoai lang dễ trồng, ít kén
đất, ít vốn đầu tư, phù hợp
sinh thái và điều kiện kinh tế
nông hộ. Tuy nhiên, một trong
những nguyên nhân cơ bản
mà diện tích cây này khó mở
rộng là vấn đề về giống. Hiện
nay, giống khoai lang Hoàng
Long tại Ninh Bình đã dần bị
mai một, thoái hóa và lẫn tạp
nghiêm trọng. Để có nguồn
giống khoai lang Hoàng Long
chuẩn và ít sâu bệnh, việc
KL5, K51 (nhóm giống khoai
lang năng suất củ cao, nhiều
dây lá thích hợp chăn nuôi);
Hoàng Long, Chiêm Dâu
(1986), Tự Nhiên (1999), KB1
(2004) (nhóm giống khoai
lang năng suất củ cao, phẩm
chất ngon).
Khoai lang Hoàng Long

hành và thành công bước đầu
ở một số cơ quan nghiên cứu
và các trường đại học. Ở
miền Bắc, Viện Cây lương
thực Cây thực phẩm (FCRI)
và Viện Khoa học Kỹ thuật
Nông nghiệp Việt Nam (VASI)
trong 30 năm (1981-2010) đã
tuyển chọn và giới thiệu 15
giống khoai lang tốt gồm: K2,
K4, KL143, KL1, K1, K3, K7,
VX37-1, cực nhanh (nhóm
giống khoai lang năng suất củ
tươi cao, chịu lạnh, ngắn
ngày, thích hợp vụ đông);
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHỤC TRÁNG GIỐNG
KHOAI LANG HOÀNG LONG TẠI NINH BÌNH
FF
Hình ảnh Ruộng khoai lang Hoàng Long phục tráng tại
Yên Quang, Nho Quan Ninh Bình (Vụ Xuân 2013)
18
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI - PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
số lượng, kích thước các
băng ADN thu được, các alen
và các đoạn trình tự làm tiêu
bản nhận dạng các dòng đã
tuyển chọn (phương pháp
S C A R s S e q u e n c e
Characterized Amplified

màu sắc lá ngọn, màu sắc lá
thứ 5 từ trên xuống, hình
dạng lá, dạng phiến lá, số
thùy trên lá, màu sắc vỏ củ,
màu sắc thịt củ. Kết quả theo
dõi các chỉ tiêu đặc điểm hình
thái, chọn lọc được 30 dòng,
đó là các dòng D16, D30,
D35, D55, D26, D49, D50,
D39, D40, D47, D29, D51,
Nho Quan, Tỉnh Ninh Bình.
2.2. Phương pháp nghiên
cứu:
2.2.1. Phương pháp thu
thập mẫu:
Đánh giá và chọn lọc các
dòng đang có trồng ở địa
phương theo bản mô tả đặc
điểm hình thái. Tiến hành
chọn những dòng khoai lang
đã chọn lọc, số lượng mỗi
khóm khoai lang chọn lọc
theo dòng gọi là mẫu giống.
2.2.2. Phương pháp phục
tráng giống bằng dây.
+ Đánh giá quần thể và
chọn lọc cá thể trên đồng
ruộng (vụ 1) theo bản mô tả
giống, tiếp tục trồng và đánh
giá các cá thể đã chọn lọc (vụ

cây trồng địa phương một loại
giống đặc sản mà còn phát
huy được kinh nghiệm, tập
quán lâu đời về canh tác
khoai lang Hoàng Long của
địa phương, làm tăng thu
nhập cho người dân từ chính
việc sản xuất trên đồng ruộng
của họ. Chính vì vậy, việc sử
dụng chỉ thị phân tử trong quá
trình phục tráng giống làm rút
ngắn thời gian phục tráng,
đánh giá chính xác được các
dòng đã chọn lọc và trong thời
gian ngắn sẽ cung cấp được
một lượng giống khoai Hoàng
Long với đúng phẩm chất của
nó trên thị trường tỉnh Ninh
Bình, góp phần mở rộng diện
tích sản xuất và tiến tới công
nhận thương hiệu cho sản
phẩm khoai Hoàng Long ở
tỉnh Ninh Bình. Để chọn lọc lại
đúng giống khoai lang Hoàng
Long, bảo tồn và nâng cao giá
trị sử dụng của giống khoai
lang này, chúng tôi thực hiện
đề tài “Phục tráng giống khoai
lang Hoàng Long bằng
phương pháp truyền thống

D20,D34, D27, D21, D15,
D17, D23 có hệ số tương
đồng trong khoảng 0,87. Kết
quả này cũng trùng lặp với kết
quả đánh giá, chọn lọc trên
đồng ruộng.
3.4. Nhân giống khoai
lang Hoàng Long phục tráng
từ các dòng sau khi đã đánh
giá đồng nhất về gen di truyền
(Vụ Xuân 2013).
Từ 30 dòng khoai lang
Hoàng Long đồng nhất về
kiểu hình và gen thu thập
được từ vụ 2, tiến hành trồng
tại xã Yên Quang, Nho Quan,
Ninh Bình. Kết quả theo dõi
đánh giá các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất trên
đồng ruộng được thể hiện
trong bảng 1.
lọc.
Từ 70 dòng khoai lang
Hoàng Long trồng trên đồng
ruộng ở vụ 2, tiến hành thu
thập, lấy mẫu và sử dụng kỹ
thuật chỉ thị phân tử RAPD,
đánh giá sự tương đồng về
gen của các dòng đã chọn lọc
được, các dòng đồng gen sẽ

theo dõi một số yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất
của 70 dòng khoai lang
Hoàng Long. Kết quả cho
thấy, các dòng có năng suất
dao động trong khoảng từ
17,26 - 27,71 tấn/ha. Trong
đó, dòng D35 là dòng có
năng suất cao nhất 27,71
tấn/ha và dòng có năng suất
thấp nhất là dòng 27 (17,26
tấn/ha). Những dòng đồng
nhất về kiểu hình và cho
năng suất cao bao gồm các
dòng: D16, D30, D35, D55,
D26, D49, D50, D39, D40,
D47, D29, D51, D57, D46,
D48, D52, D36, D37, D45,
D61, D38, D56, D28, D42,
D44, D18, D19, D13, D22,
D24. Các dòng này sẽ được
chọn và tiếp tục nhân giống
cho vụ sau.
3.3. Ứng dụng kỹ thuật
chỉ thị phân tử RAPD để đánh
giá sự tương đồng gen giữa
các dòng khoai lang đã chọn
FF
FF
Bảng 1: Kết quả năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 30 dòng khoai lang Hoàng Long

Số
củ
TB/
cây
Chiều
dài
củ TB
(cm)
Khối
lượng
củ TB/
(gram)
Năng
suất
(kg/ô
2
143m )
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI - PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
FF
Kết quả trong bảng 1 cho
thấy: Năng suất trung bình
của 30 dòng khoai lang đã
được chọn lọc dao động từ
347,22 - 394,90 kg/ô, trong
đó dòng số 38 là dòng có
năng suất thấp nhất (26,17
tấn /ha), dòng số 24 là dòng
có năng suất cao nhất (28,55
tấn/ha).
3.4. Đánh giá cảm quan

Số dòng chọn lọc được trên
đồng ruộng của người dân
địa phương vùng nghiên cứu,
sử dụng giống khoai lang
Hoàng Long của địa phương.
2. Đã kết hợp ứng dụng
chỉ thị phân tử RAPD để đánh
giá sự tương đồng gen giữa
70 dòng đã thu thập ở vụ 1
thành công, chọn được 38
dòng khoai lang mang gen di
truyền đồng nhất. Kết quả này
phù hợp với kết quả chọn lọc
trên đồng ruộng, đây là cơ sở
làm nguồn giống cho vụ tiếp
theo, rút ngắn thời gian phục
tráng trên đồng ruộng được 2
vụ.3. Đã đánh giá trên đồng
ruộng 70 dòng khoai lang
Hoàng Long, chọn lọc được
30 dòng, gồm các dòng D16,
D30, D35, D55, D26, D49,
D50, D39, D40, D47, D29,
D51, D57, D46, D48, D52,
D36, D37, D45, D61, D38,
D56, D28, D42, D44, D18,
D19, D13, D22, D24 mang
đầy đủ đặc tính của khoai
lang Hoàng Long Ninh Bình
cả về đặc điểm nông sinh học

thoát vị đĩa đệm cột sống,
đứng hàng đầu là cột sống
thắt lưng và thứ 2 là cột sống
cổ, bệnh gặp chủ yếu ở thời
kỳ con người đang ở độ tuổi
sáng tạo và cống hiến cao
nhất, gây ảnh hưởng nhiều
đến chất lượng cuộc sống. Xã
hội ngày càng phát triển, hoạt
động của con người ngày
càng phong phú, phức tạp.
Mọi hoạt động đều hầu hết
liên quan đến hoạt động cột
sống do đó việc phòng, chữa
bệnh và gìn giữ cột sống là
điều rất cần thiết.
I. Định nghĩa: Thoát vị đĩa
đệm (TVĐĐ) là tình trạng
nhân nhày đĩa đệm cột sống
thoát ra khỏi vị trí bình thường
trong vòng sợi chèn ép vào
ống sống hay rễ thần kinh. Về
giải phẫu bệnh có sự đứt,
rách vòng sợi về lâm sàng có
hội chứng cột sống và hội
chứng rễ thần kinh.
II. Nguyên nhân:
Sự hình thành TVĐĐ cần
có các điều kiện sinh lý, cơ
học sau:

hoặc toàn bộ đĩa đệm lồi ra
sau mà vòng sợi không bị tổn
thương. Người bệnh thường
hạn chế vận động cột sống về
các phía và đau tăng lên khi
vận động cột sống.
2. Giai đoạn chèn ép rễ
thần kinh: tùy theo vị trí , mức
độ đĩa đệm thoát vị mà biểu
hiện mức độ chèn ép khác
nhau, thường thì gây hội
chứng thắt lưng hông 1 hoặc
2 bên. Người bệnh đau vùng
lưng thắt lưng lan xuống
mông, đùi, cẳng chân có khi
đau tận tới ngón chân, đi lại
đau tăng, nghỉ ngơi đỡ đau.
Ở giai đoạn này vòng sợi đã
bị đứt rách 1 phần hay toàn
bộ, nhân nhày tụt ra phía sau
(TVĐĐ bên, sau bên), nhân
nhày chuyển dịch gây ra
chèn ép rễ, cùng với sự thay
đổi thứ phát của các tổ chức
lân cận như: phù nề, ứ trệ
tuần hoàn và quá trình dính
các tổ chức lân cận, làm cho
bệnh cảnh lâm sàng ngày
càng tăng với biểu hiện bằng
2 hội chứng chính đó là hội

bệnh ho thử khi không có dịch
não tủy chảy ta tiến hành tiêm
hỗn dịch 40mg Depo-medrol
+ 2ml Lidocain 3%. sau thủ
thuật cho người bệnh nằm
sấp 30 phút,
Thủ thuật thực hiện 2
hoặc 3 ngày 1 lần.
Bằng phương pháp can
thiệp tối thiểu trên, đã rút
ngắn được thời gian điều trị
bệnh, giảm bớt được tác
dụng phụ không mong muốn
do thuốc gây ra cho cơ thể,
so với dùng thuốc con đường
toàn thân, đặc biệt giải thoát
được nhiều bệnh nhân không
phải phẫu thuật đĩa đệm cột
sống thắt lưng.
VI. Phòng bệnh:
TVĐĐ cần loại bỏ
nguyên nhân gây bệnh trong
đó chú ý tư thế hợp lý của cột
sống trong vận động sinh
hoạt và hoạt động lao động
đặc biệt là tư thế ngồi, mang
vác vật nặng. Khi bê, mang
vật nặng nên ngồi xuống nhấc
vật nặng lên từ từ, tránh thói
quen đứng rồi cúi xuống nhấc

thích và triệu chứng lâm sàng
nhanh chóng giảm hoặc mất.
b) Quy trình của phương
pháp:
- Chuẩn bị dụng cụ: Kim
Terumo 22 G, xăng có lỗ,
băng, gạc cồn sát trùng
- Chuẩn bị người bệnh:
+ Ngày trước thủ thuật:
công tác tư tưởng, điện tim,
đo huyết áp, xét nghiệm CTM,
chụp cột sống chức năng.
+ Ngay trước khi thủ
thuật: người bệnh nằm
nghiêng lưng cong về phía
thầy thuốc, đầu gập xuống
ngực, đùi gập vào bụng, xác
định khe liên đốt sống có
ĐĐTV sát trùng rộng vùng
cột sống thắt lưng, trải xăng
có lỗ.
Tiến hành dùng kim
Terumo chọc thẳng góc với
cột sống khi kim sâu 2cm thì
ngừng tiến kim, lắp bơm tiêm
b) Hội chứng rễ thần kinh:
Đau dọc theo dây thần kinh
hông to
- Các dấu hiệu như:
(Lasegue, chuông bấm

RF, ở Việt Nam còn ít làm do
đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền và
cán bộ Y tế phải có trình độ
chuyên môn cao.
3. Điều trị bảo tồn: là phổ
biến và phù hợp nhất ở Việt
Nam như: phóng bế rễ thần
kinh, dùng thuốc con đường
toàn thân, xong không phải
trường hợp TVĐĐ nào cũng
có thể giải quyết được.
TVĐĐCS = Lâm sàng
TVĐĐ + Cận lâm sàng (MRI)
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
23
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI - PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
hệ thống nano cơ điện tử
(NEMS) và thiết bị sử dụng
MENS, NEMS.
3. Công nghệ sản xuất
mạch tích hợp, các bộ nhớ
dung lượng cao.
4. Công nghệ sản xuất
màn hình tinh thể lỏng (LCD),
plasma.
5. Công nghệ chế tạo các
thiết bị đo chính xác kỹ thuật
số.
6. Công nghệ chế tạo các
đầu cảm biến, các thiết bị đo

bảo. Nguyên nhân là do việc
thực thi pháp luật về chuyển
giao công nghệ chưa nghiêm,
do thiếu thông tin về pháp luật
của các nhà đầu tư, kiến thức
về chuyển giao công nghệ
chưa đầy đủ.
Để khắc phục tình trạng
trên; Sở KH&CN đăng tải lại
danh mục các loại công nghệ
khuyến khích, công nghệ hạn
chế và công nghệ cấm
chuyển giao ban hành tại
Nghị định 133/2008/NĐ-CP
ngày 31/12/2008 của Chính
phủ. Nhằm cảnh báo cho các
nhà đầu tư, các nhà quản lý
trên địa bàn tỉnh về hoạt động
đầu tư các công nghệ mới.
DA NH MỤ C CÔN G
NGHỆ KHUYẾN KHÍCH
1
CHUYỂN GIAO ( )
1. Công nghệ nano.
2. Công nghệ chế tạo hệ
thống vi cơ điện tử (MENS),
rong những năm qua,
các tổ chức, cá nhân
trên địa bàn tỉnh Ninh
T

Tuy vậy, hoạt động đầu tư
công nghệ trên địa bàn tỉnh
TRONG LUẬT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Điều cần quan tâm
Ks. TRẦN HẢI LỘC

Trưởng phòng Quản lý Công nghệ
FF
24
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI - PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
FF
FF
ngập trong nước.
43. Công nghệ cắt, hàn
dưới nước.
44. Công nghệ sản xuất
chế phẩm sinh học (màng
sinh học, màng thẩm thấu
ngược).
45. Công nghệ nuôi tế
bào gốc người, động vật.
46. Công nghệ sản xuất
các bộ phận nhân tạo của con
người.
47. Công nghệ sản xuất
thuốc điều trị ung thư, tim
mạch, tiểu đường, HIV/AIDS,
thuốc cai nghiện ma túy,
thuốc phục vụ sinh đẻ có kế

điện sử dụng năng lượng mặt
trời, gió, địa nhiệt, thủy triều,
sóng biển, sinh khối.
31. Công nghệ sản xuất
nhiên liệu mới.
32. Công nghệ chế tạo
tuabin thủy điện công suất
trên 60 MW.
33. Công nghệ nhân, tạo
giống cây trồng, vật nuôi năng
suất, chất lượng cao.
34. Công nghệ điều khiển
thời gian ra hoa, kết trái và thu
hoạch của các loại cây trồng.
35. Công nghệ tự động
hóa quá trình chăn nuôi, trồng
trọt và thu hoạch các loại rau,
hoa, quả.
36. Công nghệ tưới tiết
kiệm nước.
37. Công nghệ bảo quản
lạnh trứng, hợp tử động vật.
38. Công nghệ sản xuất
vắc-xin bảo vệ sức khỏe
người, động vật.
39. Công nghệ giống,
nuôi cá ngừ đại dương, tôm
hùm, bào ngư, sò huyết, trai
lấy ngọc, san hô.
40. Công nghệ sản xuất

pin lithium, pin mặt trời.
23. Công nghệ sản xuất
các loại sơn không sử dụng
dung môi hữu cơ và kim loại
nặng.
24. Công nghệ biển.
25. Công nghệ thiết kế
tàu thủy cỡ lớn, tàu có tính
năng phức tạp.
26. Công nghệ chế tạo
thiết bị điều chỉnh tự động từ
xa (nhiệt độ, áp suất, điện áp,
lưu lượng, vòng quay) trên
tàu thủy.
27. Công nghệ chế tạo
nghi khí hàng hải cho tàu thủy
và công trình biển.
28. Công nghệ giảm tổn
thất điện năng trong truyền tải
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
25
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI - PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
FF
13. Công nghệ vô hiệu
hóa thiết bị đo, đếm, tính
lượng điện năng sử dụng.
14. Công nghệ vô hiệu
hóa thiết bị tính thời gian sử
dụng điện thoại
15. Công nghệ vô hiệu

đảm bảo cho sự phát triển
bền vững.
tính quý hiếm.
DA NH MỤ C CÔN G
NGHỆ CẤM CHUYỂN GIAO
I. Công nghệ chuyển
giao từ nước ngoài vào Việt
Nam và trong lãnh thổ Việt
Nam.
1. Công nghệ sản xuất
axit sulfuric bằng phương
pháp tiếp xúc đơn, hấp thụ
đơn.
2. Công nghệ in, sắp chữ
bằng bản chì.
3. Công nghệ sản xuất
pin bằng phương pháp hồ
điện dịch.
4. Công nghệ điện phân
dùng điện cực thủy ngân.
5. Công nghệ sản xuất
sơn sử dụng thủy ngân.
6. Công nghệ sản xuất
các sản phẩm hóa nổ bằng
phương pháp thủ công.
7. Công nghệ sản xuất xi
măng lò đứng.
8. Công nghệ sản xuất xi
măng lò quay bằng phương
pháp ướt.

dụng, thuốc diệt côn trùng,
diệt chuột bằng phương pháp
sinh học.
9. Công nghệ sử dụng
hóa chất độc trong nuôi, trồng
và chế biến thủy sản.
10. Công nghệ sử dụng
các loài sinh vật phi bản địa
làm tác nhân xử lý, chỉ thị môi
trường.
11. Công nghệ làm giàu
các chất phóng xạ.
II. Công nghệ chuyển
giao từ Việt Nam ra nước
ngoài.
12. Công nghệ sản xuất
giống, nuôi, trồng thủy sản
thuộc sản phẩm xuất khẩu
chủ lực.
13. Công nghệ sản xuất
thực phẩm thuộc ngành nghề
truyền thống có sử dụng các
chủng giống vi sinh vật có đặc
1
( )Được áp dụng đối với công nghệ chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam và chuyển giao trong lãnh thổ Việt Nam.
26
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI - PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
Ks. NGUYỄN VĂN SỸ


khi bị rơi.
Hơn nữa, một thực tế
được chứng nhận hợp quy,
gắn dấu hợp quy nhưng vì lợi
nhuận, họ đã sản xuất ra
những loại MBH không đảm
bảo chất lượng như đã được
chứng nhận hợp quy.
Hiện nay, không có quy
định về điều kiện kinh doanh
MBH cho người đi mô tô, xe
máy nên MBH bán tự do, trên
vỉa hè đường phố, không có
địa điểm cố định, nên khó
kiểm soát, bán lẫn lộn giữa
MBH (cho người đi mô tô xe
máy) với các loại mũ khác có
hình dáng MBH cho người đi
mô tô, xe máy được bày bán
tự do, tràn lan trên vỉa hè
đường phố. Giá của các loại
mũ gọi là “MBH” này khá rẻ từ
chỉ 25.000 đến 40.000 đồng/
chiếc, người sử dụng coi nó
như là một phương tiện để
“chống chế” khi đi xe máy trên
đường cho đúng luật giao
thông chứ không hề nghĩ đến
sự nguy hiểm cho chính tính
mạng của mình.

chỉ sản xuất ghi là “ Sản xuất
tại Việt Nam” hoặc không có
ghi địa chỉ sản xuất. Hoặc sản
xuất mũ hình dáng giống
MBH nhưng không ghi nhãn
là “ MBH dành cho người đi
mô tô, xe máy” không gắn dấu
hợp quy, không rõ địa chỉ sản
xuất, nhưng đưa ra thị trường
lưu thông, khi cơ quan chức
năng kiểm tra thì nói rằng đây
chỉ là mũ đội đầu cho người đi
xe đạp, người đi bộ, mũ thể
thao, để tránh việc kiểm tra
theo quy định tại quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia.
Bên cạnh đó, một số
doanh nghiệp sau khi đã
KHÓ KHĂN TRONG QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG MŨ BẢO HIỂM
NGOÀI LUỒNG VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
27
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI - PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
FF
lưu thông trên đường. Chính
vì thế đã góp phần sự tồn tại
những tổ chức, cá nhân sản
xuất, nhập lậu, buôn bán

nêu trên kiến nghị đưa ra như
sau:
1. Tăng cường kiểm soát
chất lượng MBH từ quy trình
sản xuất, nhập khẩu đến kiểm
tra trên thị trường và xử lý các
vi phạm, cần phải được các
cơ quan chức năng phối hợp
thống nhất thực hiện một
chỉ thực hiện được đối với
nhập khẩu chính ngạch, còn
đối với MBH nhập khẩu tiểu
ngạch hoặc nhập lậu thì khó
kiểm soát. Các loại mũ này
được nhập khẩu không qua
các cửa khẩu hải quan và
không được chủ hàng thực
hiện việc kiểm tra chất lượng
trước khi đưa vào Việt Nam.
Vì vậy, MBH nhập theo con
đường này hầu hết không có
nhãn mác và không đạt chất
lượng theo quy định. Tuy
nhiên, do MBH loại này có giá
rẻ nên vẫn được một số
người tiêu dùng chọn mua sử
dụng khi tham gia giao thông.
Thực tế hiện nay việc kinh
doanh MBH chưa quy định
điều kiện của cơ sở kinh

MBH kết cấu theo kiểu “3
không”: Không có lớp xốp,
không gắn dấu CR và không
ghi địa chỉ sản xuất mà chỉ ghi
“Sản xuất tại Việt Nam”.
Những loại mũ này không ghi
nhãn “Mũ bảo hiểm dùng cho
người đi mô tô, xe máy” nhằm
tránh sự quản lý của cơ quan
quản lý thị trường.
Bên cạnh đó, một số
doanh nghiệp sản xuất cũng
chấp hành chưa nghiêm,
chưa công bố đại lý và địa chỉ
bán hàng tin cậy của mình.
Thời gian qua, Bộ Khoa
học và Công nghệ đã ban
hành các văn bản quy định
việc chứng nhận hợp quy,
công bố hợp quy đối với MBH.
Việc quản lý chất lượng MBH
trong sản xuất được thực
hiện đối với các doanh nghiệp
sản xuất có đăng ký kinh
doanh. Nhưng hiện nay vẫn
tồn tại một số doanh nghiệp
sản xuất, lắp ráp rất nhỏ lẻ
không thực hiện đăng ký kinh
doanh, không rõ địa chỉ, sản
xuất MBH không có nhãn hiệu

Cây cũng là hình mẫu
giúp con người nhận thức và
sáng tạo ra những vật dụng
cần thiết cho lao động và sinh
hoạt của con người. Trí tuệ
dần phát triển, con người biết
dựa vào cây, lợi dụng cây,
cho cả con người.
Ngay từ những buổi ban
đầu của sự sống, con người
đã sống bằng hái lượm, các
bộ phận (rễ, cây, củ, quả) của
cây trong tự nhiên. Kể cả khi
con người biết trồng trọt, chế
biến thì thức ăn từ thực vật
(cây) vẫn giữ vai trò to lớn và
quan trọng nhất với sự sống
của họ. Không chỉ có tác dụng
đem lại nguồn thức ăn chủ
yếu cho con người, cây còn
tạo ra dưỡng khí trong lành
cho con người hô hấp, hít thở
từng giờ, từng phút. Có nhiều
cây lá còn là nguồn dược liệu
quý, giúp người làm lành
những vết thương, chữa lành
nhiều loại bệnh tật đảm bảo
sức khoẻ thường xuyên cho
C
ây là danh từ chung

chất, nguyên liệu quý giá cho
loài người. Không chỉ có cây
trên mặt đất, dưới đáy đại
dương và các dòng sông, cây
thuỷ sinh là nơi trú ngụ, là
nguồn thức ăn, dưỡng khí vô
tận cho động vật thuỷ sinh và
Ảnh minh họa
CÂY VỚI NGƯỜI
FF
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
29
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
người có ý thức cao hơn
trong việc giữ gìn, bảo vệ,
sáng tạo phát triển cây trồng
để giúp ích cho chính lợi ích
của mình. Đến lượt mình,
con người đã có vai trò tác
động nhất định đối với cây,
tạo nên môi trường, sinh thái
phù hợp.
Người cho cây
Không hoàn toàn chỉ dựa
dẫm vào thiên nhiên, con
người hơn hẳn loài vật đã
biết lợi dụng, cải tạo, phát
triển cây để chúng phục vụ
đắc lực hơn cho những nhu
cầu cụ thể của mình. Từ rất

Màu xanh của cây lá,
màu sắc đa dạng của các loại
hoa quả của cây không chỉ
đem lại khí hậu, không khí
tươi mát cho cả trái đất nói
chung và con người nói riêng,
mà còn đem đến vẻ đẹp tuyệt
vời, bất tận để con người
thưởng thức, chiêm ngưỡng
và tôn thờ. Cây cỏ, hoa trái
phủ trên trái đất như một
chiếc áo choàng vô cùng lộng
lẫy, tươi đẹp. Từng cá thể và
tập thể của cây: những cánh
rừng, đồng cỏ, hàng cây tạo
nên những không gian tươi
mát, khoáng đạt mà con
người cảm nhận, được thiên
nhiên đã hào phóng ban tặng
cho loài người.
Chính những vẻ đẹp của
cây là nguồn bồi dưỡng sức
khoẻ là sữa mẹ nuôi dưỡng,
tạo nên những cảm xúc thẩm
mỹ nghệ thuật vô cùng phong
phú đa dạng cho những sáng
tạo bất tận của con người.
Nếu không có cây liệu con
người có thể tồn tại phát triển
trên thế giới này được không?

tự nhiên. Kể cả khi con người
ta tạ thế, cây làm cỗ hậu sự,
làm sợi dây, chiếc lạt buộc,
đòn khênh đưa con người
đến nơi yên nghỉ cuối cùng.
Nhiều cây có tuổi thọ cao
hơn con người nhiều lần, có
những cây tồn tại hàng ngàn
năm, là biểu tượng cho sức
sống, cho vẻ đẹp trường tồn
của cây, của thiên nhiên, đem
lại những ấn tượng, những
cảm xúc mạnh mẽ cho con
người. Cây trở thành vốn quý
vô giá mà con người gọi là
cây di sản. Điển hình về cây di
sản ở Việt Nam như: Cây đa
Tân Trào (Tuyên Quang), cây
Thị (Huế), cây Trò ở rừng Cúc
Phương (Ninh Bình). Nhiều
cây cổ thụ khác ở đền Bạch
Mã, Quốc Tử Giám (Hà Nội),
gần đây có 6 cây được công
nhận là cây di sản ở làng
nghề Vạn Phúc (Hà Đông cũ)
và còn rất nhiều cây cổ thụ
khác trên khắp đất nước mà
FF
FF
30

sức, dưỡng chí, dưỡng dục.
Ở Việt Nam, nhiều cây cổ
thụ, cây di sản thường được
ở vị trí, không gian thiêng
liêng như đình, đền, chùa,
miếu mạo và với dân gian
những cây đó trở nên thiêng
liêng mang nhiều sự tích,
huyền thoại li kì hấp dẫn “cây
gạo có ma, cây đa có thánh”,
đặc biệt với Việt Nam, nhiều
loại cây gần gũi gắn bó với đời
sống con người qua nhiều thế
hệ. Làng xóm Việt Nam không
thể thiếu những luỹ tre xanh
bao bọc, che chở cho dân
làng. Người ta sử dụng tre,
nứa vào nhiều việc hữu ích
của con người. Cây đa, cây
xoan, cây mít, cây cau, dàn
trầu, cây dừa và những
cánh đồng ngô lúa, hoa màu
xanh tươi bát ngát là những
Con người cũng có
những tác động nhất định vào
cây hoa, cây cảnh để tạo ra
những dáng thế đẹp hơn theo
ý muốn. Con người vốn “nhân
chi sơ, tính bản thiện” thích
sống nhân văn hơn là làm

soát, tố giác những hành vi vi phạm về chất
lượng MBH là tiền đề đóng vai trò quan trọng
tích cực trong định hướng sản xuất đúng, tuân
thủ quy định về chất lượng được pháp luật về
MBH quy định.
4. Tăng cường phối hợp, kiểm tra, thanh
tra trên thị trường, áp dụng các biện pháp xử
lý, xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm về chất
lượng MBH. Và cuối cùng là sự quan tâm của
toàn xã hội về một ý thức trách nhiệm thực sự
cho bổn phận đảm bảo cho sự an toàn tính
mạng, sức khỏe của chính bản thân mình là
mục đích cuộc sống và sự tồn tại chỉ thu được
ý nghĩa đích thực của nó bởi chất lượng cuộc
sống và văn minh nhân loài quy định.
( Tiếp theo trang 28)
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
31
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
HỒNG GIANG - Báo Nình Bình
sản xuất ắc quy kín khí không
bảo dưỡng. Giới thiệu về quá
trình hình thành và phát triển
của công ty, ông Nguyễn
Thanh Sơn - Giám đốc sản
xuất cho biết: Trước khi đầu
tư, công ty đã tiến hành khảo
sát, đánh giá thị trường, nhu
cầu sử dụng các loại ắc quy
hiện nay để lựa chọn phương

Có mặt tại Nhà máy sản
xuất ắc quy Công ty TNHH
ENIFLORENCE Việt Nam
trong buổi kiểm tra công nghệ
sau đầu tư của Sở Khoa học
ẮC QUY KÍN KHÍ KHÔNG BẢO DƯỠNG
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
Sản xuất ắc quy kín khí không bảo dưỡng tại
Công ty TNHH Eniflorence Việt Nam
Đ
ầu tư xây dựng và đi vào hoạt động trong giai
đoạn nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn, do
đó để phát triển sản xuất, từng bước chiếm lĩnh
thị trường, Công ty TNHH ENIFLORENCE Việt Nam
(Khu công nghiệp Khánh Phú) đã chọn giải pháp đón đầu
và làm chủ công nghệ trong sản xuất ắc quy kín khí
không bảo dưỡng, đảm bảo chất lượng tốt, có nhiều ưu
thế và phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay.
FF
32
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
phẩm đến tận các đại lý.
Ngoài ra công ty còn thực
hiện quảng bá, giới thiệu sản
phẩm mới thông qua nhiều
kênh như truyền hình, báo,
đài, bán hàng trực tiếp,… Bên
cạnh đó, Công ty cũng tập
trung xây dựng hệ thống quản

chế nhựa cung cấp cho nhà
máy sản xuất ắc quy hiện
nay, để giảm nhập khẩu, hạ
giá thành sản phẩm.
chủ được công nghệ, sử
dụng và vận hành thành thạo
thiết bị máy móc trong dây
chuyền sản xuất ắc quy kín
khí không bảo dưỡng. Trong
quá trình thực hiện công ty đã
bố trí công nhân kỹ thuật
được học tập công nghệ sản
xuất ắc quy kín khí không bảo
dưỡng vào đúng các cương vị
đã được đào tạo phân công,
cử cán bộ kỹ thuật theo dõi
giám sát từng công đoạn,
tuân thủ nghiêm ngặt chế độ
thông số kỹ thuật theo đúng
quy trình kỹ thuật. Công ty đã
cho ra đời sản phẩm đảm bảo
tiêu chuẩn chất lượng với 54
chủng loại sản phẩm từ 4-5
AH đến 210AH, chủ yếu là ắc
quy dùng cho xe gắn máy và ô
tô. Hiện nay sản phẩm của
Công ty được đánh giá có
chất lượng tốt trên thị trường
và được người tiêu dùng
đón nhận.

có ít hơn.
Xác định đầu tư cho khoa
học công nghệ chính là đầu tư
để phát triển bền vững, giúp
Công ty ổn định và phát triển
trong giai đoạn cạnh tranh
gay gắt hiện nay nên Công ty
đã lựa chọn ứng dụng công
nghệ tiên tiến của Italia để
sản xuất ắc quy kín khí không
bảo dưỡng nhằm nâng cao
chất lượng, giá trị sản phẩm,
đáp ứng nhu cầu thị trường,
góp phần tăng năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Dự
án sản xuất ắc quy kín khí
không bảo dưỡng của Công
ty có công suất 600.000
kwh/năm và đầu tư xây dựng
trên diện tích 10ha tại Khu
Công nghiệp Khánh Phú. Sau
một thời gian thực hiện, dự án
đã được đầu tư xây dựng
hoàn chỉnh, đồng bộ với một
nhà máy hiện đại có công
nghệ cao sản xuất ắc quy
phục vụ công nghiệp, đời
sống. Nhà máy đã chính thức
đi vào hoạt động và đưa sản
phẩm thị trường từ tháng

chỉ cần ghim chặt bẫy vào
mảnh gỗ, cắm cọc giữ bẫy
ngang bằng với mặt nước, khi
chuột bơi, gặp vật nổi là chúng
sẽ bám vào. Khi đó chúng sẽ
sập bẫy mà không thể cắn
được lúa nữa.
Đối với một thửa ruộng
trung bình, chỉ cần bẫy 2 ngày
2 đêm là hết sạch chuột. Khi
đặt bẫy xong, buổi tối (khoảng
20 giờ) gỡ chuột một lần, sáng
hôm sau gỡ một lần. Để kiểm
tra xem vị trí đó có còn chuột
hay không, mỗi lần đặt bẫy rắc
một vài hạt thóc quanh đó. Khi
bắt được chuột rồi mà những
hạt thóc này chỉ còn vỏ trấu thì
chứng tỏ vẫn còn chuột. Vậy là
lại tiếp tục đặt bẫy ở những
chỗ bị mất hạt thóc đó.
Kỹ thuật đánh bẫy được
tiến hành như sau:
- Cấu tạo bẫy: Vành tĩnh,
vành động, lò so, lẫy thăng
bằng 2 râu được làm bằng
thép không rỉ, đối trọng làm
bằng cao su xốp.
cài rộng quá nên khi sập
xuống, chuột nhỏ sẽ nằm

nhạy nên chuột chạy sang
phải, trái hay kéo về phía sau
đều không sập bẫy và bẫy mồi
Kỹ thuật diệt chuột
bằng bẫy diệt chuột
không dùng mồi
Kỹ thuật đặt bẫy
34
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
SỰ KIỆN VÀ CÁC TIN TỨC KHÁC
FF
FF
nguyệt là kỹ thuật dễ thực hiện
và áp dụng được trên nhiều
địa hình. Đây là kỹ thuật diệt
chuột mang lại hiệu quả cao,
không độc hại, thân thiện môi
trường. Nhưng để áp dụng
hiệu quả kỹ thuật này trên một
cánh đồng hoặc một vùng, đòi
hỏi cần phải được tổ chức
thực hiện đồng bộ, toàn diện
và thường xuyên.
quả đối trọng, đưa đầu cần gài
vào lỗ tròn của lẫy thăng bằng
đối trọng, nhấc nhẹ ngón tay
cái lên và điều chỉnh sao cho lỗ
tròn và cần lẫy có một điểm
giao nhau
Bước 4: Đặt nhẹ bẫy vào

ngày 7/06/2013.
Giờ phút đáng ghi nhớ trên tiếp theo thời
gian dài hơn 30 tháng thi công khẩn trương
gồm nhiều công đoạn phức tạp, từ dựng các trụ
Các tuabin trên biển thuộc Nhà máy điện gió Bạc Liêu.
(Nguồn: Nangluongvietnam.vn)
tuabin trên biển đến xây dựng, hiệu chỉnh, vận
hành thử toàn bộ hệ thống trạm biến áp cùng
đường dây dẫn đưa nguồn điện từ các tuabin
lên lưới điện quốc gia.
Dự án Nhà máy điện gió Bạc Liêu chia ra 2
giai đoạn. Trong giai đoạn 1 đã hoàn thành lắp
đặt 10 cột tuabin, công suất tổng cộng của giai
đoạn này là 16MW và điện năng sản xuất dự
tính khoảng 56 triệu kWh/năm gần bằng với
sản lượng của 30 tuabin của nhà máy điện gió
tỉnh Ninh Thuận.
Giai đoạn 2 của dự án sẽ xây lắp tiếp 52
tuabin còn lại. Sau khi hoàn thành, Nhà máy
điện gió Bạc Liêu sẽ có tổng số 62 tuabin với
tổng công suất trên 99MW và điện năng sản
xuất ra khoảng 320 triệu kWh/năm.
Toàn bộ Nhà máy điện gió Bạc Liêu được
đặt dọc theo đê biển Đông, kéo dài từ phường
Nhà Mát đến ranh giới tỉnh Sóc Trăng và chiểm
tổng diện tích gần 500 ha.
Các tuabin ở nhà máy này được sản xuất
tại Mỹ. Cột làm bằng thép đặc biệt không gỉ, cao
80m, đường kính 4m. Mỗi tuabin có 3 cánh
quạt, mỗi cánh dài 42m, làm bằng nhựa đặc

đầu tư để xây dựng thêm 300
cột tuabin nữa với tổng công
suất lên đến 480MW, tức sẽ
lớn gấp 4 lần công suất của
giai đoạn 1 và 2 cộng lại.
Sự ra đời Nhà máy điện
gió Bạc Liêu là một minh
chứng về tiềm năng dồi dào,
báo hiệu một"thời cơ vàng"
của ngành công nghệ điện gió
Việt Nam. Vì Nhà nước đã có
chủ trương phát triển nguồn
điện này và đã đưa ra những
mục tiêu và lộ trình cụ thể
trong Quy hoạch điện VII.
Theo đó, năng lượng gió được
xem là nguồn phát điện quan
trọng nhất, sẽ được phát triển
từ mức không đáng kể như
hiện nay lên khoảng 1.000MW
vào năm 2020 và 6.200MW
vào năm 2030.
Theo Vietnamnet, 6/2013
ùa xuân hè rau
c ủ t h ư ờ n g
M
nhiều thuốc trừ
sâu hơn mùa đông do
môi trường rất thích hợp
cho sâu bệnh phát triển.

giảm được khoảng 60%.
Cách “khử” thuốc trừ sâu
trong rau củ
Theo xinhuanet
36
së khoa häc & c«ng nghÖ ninh b×nh (sè 01-2013)
FF
SỰ KIỆN VÀ CÁC TIN TỨC KHÁC
FF


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status