Mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường 1. Khái niệm
1.1. Văn hoá
Cho đến nay, đã có tới hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá (định nghiã theo triết
học, định nghĩa theo dân tộc học, nhân học, tâm lý học và xã hội học…), điều đó có nghĩa
rằng, xuất phát từ những thực tiễn khác nhau, tuỳ mục đích sử dụng khác nhau mà người
ta đưa ra hoặc lựa chọn một định nghĩa nào đó để tiện cho diễn giải và thao tác.
Ở đây, chúng ta đang bàn về mối quan hệ giữa văn hoá và môi trường nên tôi lựa chọn
một khái niệm văn hoá theo quan điểm của nhân học.
Khái niệm văn hoá của Tylor trong cuốn “ Văn hoá nguyên thuỷ” tuy ra đời cách đây
đã lâu (1871), nhưng nó là một khái niệm mang tính kinh điển và vẫn hữu dụng
trong nghiên cứu nhân học văn hoá nói chung và nhân học môi trường nói
riêng: "Một toàn thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật
pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác nhau và những tập quán khác
nhau mà con người hoạch đắc với tư cách là thành viên của xã hội"; hay như định
nghĩa của Malinowski cũng vậy: “Văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ
thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị”
Như thế, tri thức và tư tưởng là những thành tố quan trọng bậc nhất của văn hoá. Các hành
vi hay các khuôn mẫu ứng xử của con người – ở một phương diện nào đó- là bị chi
phối (hệ quả) của tri thức/ tư tưởng và là sự biểu thị (representation) những tri thức/ tư
tưởng đó. Nhờ đó, văn hoá đóng vai trò như là cách thức để người ta có thể giao tiếp với
nhau và với thế giới xung quanh. Thế mà, tri thức/ tư tưởng của con người ở mỗi một xã
hội, mỗi một thời kỳ là không giống nhau, thậm chí có lúc có nơi bị coi là đối lập nhau (ví
dụ: Hệ tư tưởng vô thần và hệ tư tưởng hữu thần). Do đó, văn hoá tuỳ theo mỗi xã hội, tuỳ
theo từng thời đại được biểu thị theo những cách rất khác nhau.
Xin lấy một ví dụ: ở các xã hội nguyên thuỷ (bán khai), khi hạn hán người ta
dùng những biện pháp ma thuật để cầu mưa (ví dụ trò pháo đất của Việt Nam )
thì các hành vi ma thuật ấy là biểu thị văn hoá, bởi nó được kết tinh và là hệ quả
sau: môi trường là một thuật ngữ mang tính tương đối, tương đối ở khía cạnh nó là môi
trường của ai. Vì thế, môi trường của tôi chỉ có ý nghĩa khi có quan hệ với tôi, và trong ý
nghĩa này môi trường chỉ tồn tại và trải qua sự phát triển của tôi và xung quanh tôi.Và điều
quan trọng hơn để giải thích tại sao thuật ngữ môi trường cũng mang tính tương đối là do:
Cũng hệt như khái niệm văn hoá, nó bị phụ thuộc bởi tư tưởng về thế giới quan (đóng vai
trò chủ đạo trong cấu trúc của một nền văn hoá ) của xã hội con người đang hiểu và định
nghĩa về nó. Thật vậy, khái niệm môi trường có thể là một sự kiến tạo mang tính văn hoá
về tự nhiên, nhưng cũng có thể lại là sự áp đặt một lớp ý nghĩa nào đó của người trong
cuộc lên trên một thực thể khách quan độc lập nào đó. Chẳng hạn: chúng ta quá quen với
quan niệm về môi trường của khoa học duy lý phương Tây, cho rằng tất cả những gì tồn tại
khách quan xung quanh ta, tác động đến sự sống và phát triển của ta đều là những thành
tố của môi trường. Môi trường đó được con người quan niệm như là khách thể, có thể cấu
trúc hoá nó được và có thể tái tạo và kiến tạo được- đúng như cách làm của các nhà khoa
học hoá học, sinh học hay vật lý học. Nhưng những con người ở những xã hội mà chúng ta
thường gọi là man dã, bán khai hay nguyên thuỷ thì lại có những suy nghĩ khác về môi
trường. Trong những xã hội như thế này, con người có một cách nhìn thế giới xung quanh
họ hoàn toàn khác. Trường hợp những xã hội theo “vạn vật hữu linh” chẳng hạn, họ không
hề quan niệm những gì xung quanh họ (cỏ cây, gỗ đá, ma quỷ, thần hay sấm chớp mưa
giông là khác với họ. Tất cả đều có linh hồn và giữa chúng với con người có thể diễn ra
quá trình giao tiếp. Họ sẽ giải thích những nguyên nhân gây ra một hiện tượng không hay
nào đó của môi trường (hạn hán chẳng hạn) theo cách của họ chứ không phải theo sự đo
đạc về khí quyển như các nhà khoa học của xã hội hiện đại của chúng ta. Chẳng hạn họ sẽ
gán vào hiện tượng này một lớp ý nghĩa như: Long vương bị say rượu, quên đi tưới nước
cho nhân gian, hay như ở ta có chuyện “Con cóc là cậu ông trời” …. Vì thế, sẽ chẳng có gì
là ngạc nhiên khi những ứng xử của con người ở xã hội này đối với thế giới xung
quanh (mà ngày nay chúng ta gọi là những ứng xử với môi trường như săn thú, chặt cây,
hay nhờ vả các ma. thần) như là họ ứng xử chính với những người đồng loại. Nói chung về
nguyên tắc thì đây là những ứng xử “có đi có lại”. (Lấy ví dụ những lời cúng của đồng bào
các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, hay những lời khấn hay nghi lễ khi họ giết súc vật, hay
chặt cây rừng…)
2. Mối quan hệ giữa văn hoá và môi trường
2.1. Văn hoá được quy định bởi môi trường
Các hình thái văn hoá đầu tiên của loài người liên quan đến nhu cầu căn bản nhất của con
người: Đó là nhu cầu sinh tồn. Để sinh tồn họ phải ăn, ở và mặc. Đó cũng là những quan
hệ đầu tiên của con người với môi trường. Những dấu ấn của mối quan hệ ấy trong buổi
sơ khai của loài người vẫn còn được nhận thấy trong văn hoá ăn, ở và mặc của con người
trong xã hội ngày nay: Nhà ở (nguyên liệu, kiểu dáng và kích thước) của người Eskimo
chắc chắn khác với nhà ở của người Ai-Cập hay người Việt Nam; Người Mông Cổ- với nền
văn hoá du mục truyền thống- chắc chắn ăn thịt sẽ nhiều hơn người Việt Nam; Hay tại sao
cư dân vùng sa mạc lại mặc mầu trắng và trùm kín người như vậy… Tất cả những cái đó
không thể có cách giải thích nào khác tốt hơn ngoài cách lý giải về sự tác động trực tiếp
của môi trường tự nhiên ở từng nơi và con người phải thích nghi với những kiểu môi
trường ấy để tồn tại và phát triển.
Ngay cả những hình thái văn hoá cao cấp như nghệ thuật chẳng hạn, ngay buổi bình minh
của loài người, chúng ta đã nhận thấy những dấu ấn mà môi trường tự nhiên tác động lên
những tác phẩm nghệ thuật âm nhạc (ví dụ những bài dân ca hay cách hát của người miền
núi cao, hay miền đại dương như người Indonesia) hay tạo hình trong hang động ( chắc
chắn những hình vẽ trong hang động của các bộ tộc á châu không thể có những chú tuần
lộc như trong các hình vẽ của người Cree ở Canada được)
Môi trường nào thì con người phải kiếm ăn theo cách tương ứng: Những cư dân tại các
hòn đảo chắc chắn phải kiếm ăn bằng nghề săn bắt cá, cư dân trên các thảo nguyên phải
biết chăn nuôi, du mục, Những người sống bên những cánh rừng trên lục địa lại kiếm ăn
bằng săn bắn, hái lượm… Quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất này dần dần tạo
thành những phương thức sản xuất nhất định, đến lượt nó phương thức sản xuất lại quy
định lối sống, tức là văn hoá của xã hội ấy. Có thể nói, hoạt động sản xuất của cải vật chất
là hoạt đống sống căn bản nhất của con người và chính nó quyết định nhiều nhất đến sự
hình thành và phát triển văn hoá của từng xã hội. Như thế, có thể nói, tuy gián tiếp nhưng
ở đây cũng không phải ai khác mà chính là môi trường đã quy định sự hình thành và phát
Như vừa nói ở trên, môi trường tác động mạnh đến văn hoá (dù trực tiếp hay gián tiếp),
đặc biệt nó góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng và tâm
trí của con người. Vậy, văn hoá có tác động trở lại đến môi trường không?
Trên thế giới này có rất nhiều nền văn hoá khác nhau, nhưng cũng có thể phân loại chúng
thành hai loại chính. Hai loại văn hoá này thể hiện hai loại tâm trí người, chúng phụ thuộc
hay bị chi phối bởi quyền lực của hai loại tư tưởng hay hai phương pháp nhận thức sau:
Phương thức nhận thức 1:
duy lý/ nhân quả
phương thức nhận thức khác:
trải nghiệm/ tham dự
- Gián cách
- tổngthể/ không chia cách
- lập luận
- tính xúc cảm
- trìu tương
- trực giác
Ở phương thức một, người ta thấy một sự định hướng mang tính chất nhân quả trong
nhận thức thế giới. Loại này được biểu đạt hoàn hảo bởi các phạm trù, nguyên tắc và
phương pháp luận của khoa học thực chứng và được biểu thị trong lập luận logic, lý trí.
Loại này liên quan đến sự trung gian có khoảng cách và không có xúc cảm và nó là một sự
khái quát về các sự kiện trong thế giới.
Ngược lại, sự tham gia biểu thị một phương cách hợp nhất và đan quyện của việc trải
nghiệm thực tại. Sự thể hiện rõ nhất cái này là tôn giáo. Một định hướng mang tính tôn giáo
về thế giới ngụ ý một cảm giác của sự quan hệ và nối kết với các sự vật hiện tượng. Khi
con người gắn kết với người khác và môi trường xung quanh một cái gì đó gần gũi, mang
tính chia sẻ sẽ diễn ra. Nói cách khác, việc một cá nhân trải nghiệm cái gì đó cũng đều là
một phần của một tổng thể lớn hơn. Sự tham gia đó gợi lên cảm giác cộng đồng và đồng
cảm với người khác và thế giới.
đào giếng nước, xây nhà văn hóa, ở theo lối nhà của người Việt, thậm chí, có nơi đồng bào
còn thờ cúng tổ tiên như người Việt vv Rõ ràng là, nếu có những nghiên cứu dân tộc
học, nhân học theo cách “thâm nhập” và “hiểu”đồng bào các dân tộc thì chúng ta sẽ biết
rằng, nhiều tộc người không phải du canh, du cư (như chúng ta thường diễn đạt), mà
là chuyển canh theo cách hiểu khoa học của từ này: Họ có ý thức về địa lý, sở hữu và thổ
nhưỡng của những khu đất mà họ canh tác; họ hiểu rằng khi nào thì phải chuyển địa điểm
canh tác, khi nào thì những địa điểm đã được khai thác lại có thể canh tác trở lại được.
Tương tự như vậy là những chính sách “Đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”, cái gọi là “đưa
dân đồng bằng đi khai hoang làm kinh tế miền núi” để rồi dẫn đến nạn phá rừng…
Môi trường (bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) có liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người và nó luôn gắn liền với yếu tố văn hóa - bởi
văn hóa thể hiện sự phát triển của con nguời dù ở bất cứ đâu và khi nào. Qua những
phân tích thực tế, tác giả cho chúng ta thấy rõ hơn trách nhiệm của mỗi người đối với
vấn đề chung - môi trường.
Con người sống trong môi trường tự nhiên (MTTN) và môi trường xã hội (MTXH). Theo
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1988 thì: “Môi trường. 1. Nơi xẩy ra
một hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình, trong mối quan hệ với hiện tượng, quá trình
ấy. 2. Toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một
sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người, với sinh vật đó”.
MTTN là tất cả những gì tạo nên môi trường sống quanh ta như: Đất đai, nhà cửa, rừng
núi, động vật, không khí, sông hồ Cơm ăn, nước uống, thuốc chữa bệnh, quần áo
mặc đều là sản phẩm từ thiên nhiên thông qua quá trình lao động của chính con người.
Mặt khác, con người lại tồn tại trong MTXH và chịu tác động qua lại của cộng đồng và
luật pháp. Trong một xã hội văn minh, có luật pháp ổn định con người sẽ có điều kiện
phát triển bền vững và năng động hơn là trong một xã hội đầy rẫy tệ nạn với lối sống
thực dụång. Trong cộng đồng cổ truyền, nhiều làng xã có hương ước - đó là luật lệ qui
ước do dân làng đặt ra thực hiện trong phạm vi của làng. Còn Nhà nước thì ban hành
các văn bản pháp luật nhằm đảm bảo trật tự xã hội.
Dưới góc độ tiếp cận này có thể khẳng định rằng, vấn đề môi trường có vị trí quan
hóa - đạo đức phải được đặt lên hàng đầu - trong cung cách làm ăn của mình. Không
thể chỉ vì mục đích lợi nhuận mà bỏ qua những qui trình qui phạm bắt buộc khi nghiên
cứu và sản xuất để tung ra thị trường những sản phẩm dẫn đến nguy cơ hủy diệt con
người và gieo mầm bệnh vào cộng đồng người.
Phát huy giá trị văn hóa - đạo đức chính là thành tố cơ bản nhất để kéo con người lại
với con người nhằm nâng cao tính nhân bản, nhân ái trong cộng đồâng người. Thái độ
của con người đối với con người là tiêu chuẩn đầu tiên trong sự phát triển về mặt văn
hóa-đạo đức.
2. Để con người vừa được hưởng cuộc sống có chất lượng cao vừa bảo vệ được môi
trường sống là cả một vấn đề rất lớn không chỉ giới hạn trong việc sử dụng những sản
phẩm tiêu thụ mà còn liên quan rất nhiều đến cách cư xử của chính con người với thiên
nhiên. Lấy một ví dụ (đã, đang và sẽ làm đau đầu các nhà quản lý) như dân sinh sống
gần rừng chặt phá mở rộng diện tích đất rừng canh tác, dân di cư tự do chặt phá rừng
lấy đất để ở hay trồng trọt theo lối quảng canh không thông qua quá trình quản lý. Diện
tích rừng ngày một giảm dần dẫn đến hậu quả lũ lụt, hạn hán ngày một tăng cả về tần
suất và cường độ. Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết,
tính đến ngày 8/4/2002, tổng diện tích đất canh tác bị thiếu nước và hạn hán lên tới
207285 ha, trong đó có 45810 ha lúa, 6105 ha rau màu và 155370 ha cây công nghiệp.
Hạn hán nặng nhất xảy ra ở các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng, Bình Thuận, Bình
Phước, Kiên Giang, Cà Mau. Một trong những tác động mạnh của tình hình khô hạn là
nạn cháy rừng. Theo báo cáo của Cục kiểm lâm, từ đầu mùa khô đến nay, cả nước đã
xảy ra 256 vụ cháy rừng gây thiệt hại 2558 ha rừng. Đặc biệt vụ cháy rừng tràm nguyên
sinh thuộc khu vực Vườn quốc gia U Minh Thượng bắt đầu từ 12 giờ ngày 24/3/2002
với trên 2000 ha diện tích rừng tràm nguyên sinh bị thiêu rụi là lời cảnh báo sâu sắc
nhất về công tác quản lý và thái độ ứng xử của con người đối với môi trường thiên
nhiên.
Để giải quyết vấn đề này cần áp dụng một cách triệt để hơn các qui định của Nhà nước
như Luật bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ và phát triển rừng; các nghị định hướng dẫn
thi hành luật mà Nhà nước đã ban hành. Muốn phát huy ý thức về môi trường một cách
thường trực trong mỗi người phải có sự kết hợp chặt chẽ công tác tuyên truyền giáo
GS. TS. Phạm Đức Dương
Trong quá trình nghiên cứu văn hóa tôi nhận
ra một số lực cản gây khó khăn cho việc tiếp cận, trong đó có tư duy cơ giới
phân tích quy giản của nền học vấn văn minh công nghiệp. Cách tiếp cận
này đã phân chia văn hóa vốn là một chỉnh thể thành nhiều ngành biệt lập và
sắp xếp chúng một cách tùy tiện. Theo cách nói của Claude Villereuve thì
kiến thức ngày nay càng chuyên môn hóa và manh mún giữa những cá nhân
rất tài giỏi về một lĩnh vực, nhưng lại hầu như ngu dốt trong các kiến thức
khác [1]. Nói theo các cụ nhà ta là “thầy bói xem voi”. Hình ảnh các bảo tàng
là một minh chứng đầy đủ cho phương pháp tư duy cơ giới: người ta thu
thập các hiện vật và tách chúng ra khỏi môi trường sống của chúng rồi đem
trưng bày vào các ngăn, các ô trong bảo tàng. Cách làm này là trừu tượng
hóa bằng cách tách sự vật ra khỏi bối cảnh nhất định, tước bỏ những mối
liên hệ và tương quan qua lại với môi trường và đem vào khu vực khái niệm
trừu tượng của một bộ môn khoa học đã phân chia thành ngăn riêng với
những ranh giới tùy tiện, phá vỡ tính hệ thống và tính đa chiều của hiện
tượng với những mô hình, những sơ đồ quy giản. Phương pháp tư duy này
đã gây rất nhiều khó khăn cho việc ứng dụng vào sản xuất.
Tôi nói đùa với các nhà khoa học nông nghiệp rằng ngày xưa, cha ông ta với tư
duy tổng hợp nguyên sơ, khi cấy cây lúa đã phải để ý tới môi trường “Trông trời trông
đất trông mây. Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm. Trông cho chân cứng đá
mềm. Trời trong bể lặng mới yên tấm lòng”. Nhưng ngày nay khoa học về nông nghiệp
đã bị phân chia ra biết bao ngành: nào gien và lai tạo giống, công nghệ tế bào, nào đất
đai thổ nhưỡng, phân bón dinh dưỡng, nào thời tiết khí hậu thủy văn thủy lợi, nào cơ
khí nông nghiệp, v.v Tất cả những tri thức bị phân chia ấy buộc người nông dân ít học
phải tự mình tổng hợp ngay trên thửa ruộng của chính mình trong quá trình sản xuất.
Có lẽ vì thế mà một người nông dân Nam Bộ đã tự chế ra chiếc máy gặt (thật ra đó là
một con dao phát chạy bằng điện) chứ không phải một kỹ sư cơ khí nông nghiệp.