chăm sóc, phục hồi chức năng giai đoạn sớm cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não - Pdf 24


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (còn gọi là Đột quỵ não) đã, đang và sẽ vẫn là vấn đề
thời sự cấp thiết của y học nói chung và phục hồi chức năng nói riêng đối với mọi
quốc gia, mọi dân tộc trên thế giới. Tai biến mạch máu não có thể xảy ra đối với tất
cả mọi người, không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, địa phương, hoàn cảnh kinh
tế, xã hội. Tai biến mạch máu não thường xảy ra với những người đang ở trong độ
tuổi lao động và những người trên 50 tuổi, họ đã có nhiều cống hiến cho gia đình và
cộng đồng, họ cần có sự chăm sóc toàn diện của gia đình và cộng đồng cả về y tế và
xã hội. Tai biến mạch máu não là loại bệnh lý thường gặp, hàng năm ở Trung Quốc
có khoảng 370 người, Nhật Bản có từ 340 đến 532 người, Việt Nam có từ 288 đến
416 người trong số 100.000 người dân bị tai biến mạch máu não.
Tai biến mạch máu não là loại bệnh có thể gây tử vong nhanh, có tỷ lệ tử
vong cao, đứng thứ ba sau ung thư và các bệnh Tim mạch. Nếu không tử vong, tai
biến mạch máu não đồng thời cũng là loại bệnh để lại nhiều di chứng nặng nề dẫn
đến tàn tật nhiều nhất. Trong TBMMN gây ra các thương tật thứ cấp còn khá cao,
theo Nguyễn Mạnh Chiến tỷ lệ thương tật thứ cấp nói chung là 39,5%; trong đó loét
do đè ép là 28,1%; nhiễm trùng phổi 13,2%; nhiễm trùng tiết niệu 11,0%; teo cơ
16,2%; co rút cơ 7,8% [9].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới và các nhà khoa học nước ngoài có từ 1/3 đến
2/3 người bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não để lại di chứng tàn tật vĩnh viễn;
17% người bệnh có từ hai loại di chứng trở lên; 71% người bệnh giảm khả năng lao
động; 66% người bệnh không thể trở lại làm việc được vì mất khả năng lao động;
62% người bệnh giảm các hoạt động xã hội; 51% người bệnh bị phụ thuộc về tự
chăm sóc bản thân; 38% người bệnh giảm khả năng giao tiếp; 11% người bệnh không
tự đi lại; 24% người bệnh phải ở lâu dài trong các cơ sở điều dưỡng hoặc bệnh viện.
Việc phòng ngừa các thương tật thứ cấp như loét do đè ép, nhiễm trùng phổi,
nhiễm trùng tiết niệu, co rút cơ, bán trật khớp vai … là rất quan trọng vì những tổn
thương thứ phát này có khi còn nguy hiểm hơn bệnh, đầu tiên làm cho người bệnh


+ Vùng phân bố máu: khoảng 2/3 trước bán cầu đại não.
+ Động mạch cảnh trong được tách ra từ động mạch cảnh chung tại máng
cảnh, sau khi chui qua nền sọ đi vào trong não và được tách ra thành 4 nhánh tận:
động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch mắt và động mạch mạc trước.
Mỗi động mạch não chia làm 2 ngành: Loại ngành nông cung cấp máu cho
vỏ não, ngành sâu đi vào trong não.
Có 2 nhánh sâu quan trọng là: Động mạch Heubner (nhánh của động mạch
não trước) và động mạch thể vân ngoài còn gọi là động mạch Charcot (nhánh của
động mạch não giữa).
+ Các nhánh bên khác: Động mạch thần kinh sinh ba, tuyến yên, màng não
và tai iữa …
+ Đặc điểm: Hệ thống nông và sâu độc lập nhau, các nhánh nông có nối
thông với nhau, nhưng trong hệ thống sâu các nhánh có cấu trúc chức năng của các
nhánh tận.
- Hệ động mạch sống – nền
+
Vùng phân bố máu: Thân não, tiểu não, mặt dưới thùy thái dương và thùy chẩm.
+ Động mạch phân bổ máu cho thân não gồm 3 nhóm, chúng đi sâu vào thân
não ở các vị trí khác nhau:
Các động mạch trung tâm đi vào theo đường giữa.
Các động mạch vòng ngắn đi vào theo đường bên trên.
Những động mạch vòng dài đi bao quanh mặt bên của thân não và đi sâu
theo đường sau bên.
+ Phân bổ máu cho tiểu não có 3 động mạch tiểu não trên, động mạch tiểu
não trước dưới và động mạch tiểu não sau dưới.
+ Thùy chẩm và mặt dưới của thùy thái dương được phân bổ máu bởi động
mạch não sau. Về giải phẫu chức năng, động mạch não sau là động mạch não tận.

5
1.1.2. Giải phẫu bệnh lý

150 mmHg.
+ Điều hòa qua chuyển hóa: Khi tăng phân áp CO
2
mạch máu giãn làm tăng
lưu lượng tuần hoàn máu não và ngược lại tăng phân áp oxy động mạch dẫn đến co
mạch và làm giảm lưu lượng tuần hoàn não đáng kể.
+ Ảnh hưởng của các yếu tố khác tới lưu lượng tuần hoàn não:
Các chất làm giảm áp lực nội sọ (mannitol, glucose, ure, glycerol) dẫn tới
làm tăng lưu lượng tuần hoàn não.
Gây mê làm tăng lưu lượng tuần hoàn não và làm giảm mức tiêu thụ oxy tới
tổ chức não.
Các thuốc gây ngủ làm giảm cả lưu lượng tuần hoàn não và mức tiêu thụ
oxy tới tổ chức não.
Các thuốc giãn mạch (cavinton, papaverin, nitrit …) làm tăng nhẹ lưu lượng
tuần hoàn não trong điều kiện các mạch máu não ở trạng thái bình thường.
Các dịch truyền như Dextran làm tăng lưu lượng tuần hoàn não qua cơ chế
tuần hoàn ngoại vi mạch.
- Tiêu thụ oxy và glucose của não: nhu cầu về oxi và glucose của não cần
được đáp ứng liên tục và ổn định. Tế bào não không có dự trữ oxy còn glucose dự
trữ chỉ đủ cung cấp cho não trong vòng 2 phút.
1.2. Đặc điểm bệnh học của TBMMN
1.2.1. Định nghĩa
- Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) đột quỵ não được định nghĩa như sau:
+ Đột quỵ não là một hội chứng lâm sàng được đặc trưng bở sự mất cấp tính
chức năng của não (thường là khu trú), tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trước 24 giờ.
Những triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do động mạch bị tổn
thương phân bố, không do chấn thương sọ não.
+ Theo định nghĩa này một số trường hợp chảy máu dưới nhện sẽ không
được xếp vào bệnh đột quỵ não (chảy máu dưới nhện mà bệnh nhân còn tỉnh táo, có
đau đầu nhưng không có dấu hiệu tổn thương khu trú hệ thần kinh, cứng gáy không

- Béo phì là yếu tố quan trọng đối với các bệnh tim mạch và thứ phát đối
với TBMMN.
- Nghiện rượu.
- Nghiện thuốc lá.
- Tăng Lipid máu là yếu tố nguy cơ đối với thiếu máu cục bộ. Tăng hàm
lượng lipid máu là nguy cơ quan trọng của xơ vữa động mạch.
- Tăng acid uric máu, nhiễm khuẩn, yếu tố di truyền và gia đình.
1.2.4. Triệu chứng lâm sàng
TBMMN có rất nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau nên hình thái lâm sàng
cũng rất đa dạng tùy theo từng nguyên nhân và mức độ chảy máu.
Những biểu hiện lâm sàng của giai đoạn sớm:
- Sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ: thường gặp nhất là tăng huyết áp
ở mức độ nhẹ hoặc vừa.
- Thay đổi về tri giác và nhận thức ở các mức độ khác nhau: lú lẫn, mất
định hướng, giảm tập trung, rối loạn trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy, cảm xúc …
- Khiếm khuyết vận động: tùy vào tổn thương nguyên phát, vị trí và phạm
vi tổn thương mạch máu mà các rối loạn vận động biểu hiện khác nhau: yếu nhẹ hay
liệt hoàn toàn nửa người hay liệt nặng hơn một chi. Hội chứng khuyết não ở bao trong
gây liệt nửa người thuần túy vận động. Tổn thương bán cầu não do động mạch não
giữa gây liệt nửa người, tay và mặt nặng hơn chân, kèm theo rối loạn ngôn ngữ và cảm
giác … Tai biến của hệ thần kinh nền gây liệt nửa người kèm theo liệt giao bên của các
dây thần kinh sọ não, có thể kèm theo hội chứng tiểu não và rối loạn thị trường …
- Các rối loạn giác quan: những rối loạn cảm giác có thể gặp ở bệnh nhân bị
TBMMN gồm mất hoặc giảm cảm giác nông sâu gồm cảm giác đau, nóng, lạnh,
cảm giác sờ và cảm giác về vị trí. Thông thường những khiếm khuyết về cảm giác
bị bỏ qua vì bệnh nhân ít kêu ca về nó. Rối loạn cảm giác thường được phục hồi
hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn trong vòng tháng thứ nhất, tháng thứ 2.

9
- Rối loạn cơ tròn: đái ỉa không tự chủ hoặc bí đái, táo bón.

Không co cơ 1.2.6 Cận lâm sàng
+ Chụp cắt lớp vi tính sọ não (CT - scanner):
Thấy có ổ nhồi máu não thể hiện bằng hình ảnh một vùng giảm tỷ trọng khu
vực động mạch bị tổn thương, giảm tỷ trọng rõ nhất từ sau khi xảy ra TBMMN 48
đến 72 giờ. Trong giai đoạn sớm (trước 48 giờ) chụp cắt lớp vi tính sọ não có thể
bình thường, nó cho phép loại trừ xuất huyết não.
Thấy ổ xuất huyết não thể hiện bằng hình ảnh một vùng tăng tỷ trọng ở não,
nếu có xen kẽ giữa giảm tỷ trọng và tăng tỷ trọng là vừa nhồi máu vừa chảy máu não.
CT - scanner sọ não cũng cho phép đánh giá tình trạng phự não: mất các rãnh
vỏ não, đẩy lệch các vách ngăn hoặc chèn ép các buồng não thất.

10
+ Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) não: Có độ nhạy cao hơn so với chụp
cắt lớp. Hình ảnh MRI tăng tín hiệu trong thì T2.
+ Chụp động mạch não cản quang: Hình ảnh TBMMN qua chụp động mạch
não cản quang là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán nơi tổn thương ở các mạch máu.
1.2.7. Các thương tật thứ cấp thường gặp
- Loét do đè ép:
+ Định nghĩa: loét do đè ép (loét giường) là loét hình thành trên phần tổ chức
của cơ thể khi người bệnh nằm hoặc ngồi lâu ép lên vùng đó.
+ Những vị trí hay bị loét: vùng xương cùng, mấu chuyển lớn, vùng ụ ngồi,
xương gót chân, mắt cá chân, vùng khuỷu, vùng gáy … - Teo cơ:
+ Nếu người bệnh nằm trên giường không hoạt động, không cử động bắp thịt
sẽ giảm bớt sức mạnh và nhỏ lại. Có 2 nguyên nhân gây teo cơ: teo cơ do mất thần

- Duy trì huyết áp ổn định
- Chống phù não

12
- Thuc chng ụng
- Thuc lm tng cng tun hon nóo
- Chm súc tớch cc
- Phc hi chc nng hn ch di chng v cỏc thng tt th phỏt.
* Điều trị nguyên nhân:
- Nếu cao huyết áp, cho bệnh nhân uống thuốc hạ
huyết áp.
- Nếu xơ vữa động mạch uống thuốc chống xơ vữa
động mạch hoặc thuốc giảm mỡ máu.
- Điều trị các bệnh máu khó đông, bệnh gây chảy
máu.
- Điều trị thuốc tiêu cục huyết khối
- Hạn chế bóng hơi khi tiêm truyền.
- Điều trị các bệnh van tim, rối loạn tim mạch.
* Điều trị triệu chứng:
- Thông đ-ờng hô hấp
+ Hút đờm dãi liên tục
+ Đặt t- thế Fowler nằm đầu nghiêng sang 1 bên
+ Cho bệnh nhân thở oxy.
- Tim mạch:
+ Cho thuốc hạ huyết áp, giữ huyết áp ổn định, thuốc
trợ tim mạch
+ Chống rối loạn thần kinh thực vật, điều hoà thân
nhiệt, chống phù não, cân bằng n-ớc và điện giải cho
bệnh nhân, cung cấp dinh d-ỡng đầy đủ (truyền dịch+ăn
qua ống thông), chống nhiễm khuẩn đ-ờng hô hấp và đ-ờng

Mẫu co cứng ở BN liệt nửa người là hiện tượng co cứng các cơ ở nửa thân
bên liệt theo một kiểu nhất định, xảy ra ở tất cả BN bị TBMMN. Mẫu co cứng bắt
đầu xuất hiện ở giai đoạn hồi phục, đi kèm với trương lực cơ tăng và phản xạ gân
xương tăng. Mẫu co cứng xuất hiện gây hiện tượng tăng trương lực các cơ gập ở tay
và các cơ duỗi ở chân. Các cơ chi trên ở tư thế gấp, khép và xoay trong, các cơ khớp
ở chân ở tư thế duỗi dạng và xoay ngoài, cơ ở cổ và thân bên liệt co ngắn hơn bên
lành. Mẫu co cứng thể hiện rõ hơn khi BN cử động. Khi BN cử động, các cơ ở một
chi hoặc nhiều chi thậm chí ở cả 2 phía cơ thể đều co, khi ấy xuất hiện cử động
khối, khiến tư thế cơ thể co cứng, thiếu tự nhiên và vận động khó khăn.
2.2. Đặc điểm lâm sàng chức năng vận động của BN TBMMN
Tình trạng BN dần được cải thiện và ổn định, BN phối hợp được với việc
khám và điều trị. Cũng nhờ đó các hoạt động ăn uống, hô hấp, bài tiết được kiểm
soát, giảm bớt nguy cơ các thương tật thứ cấp. Tuy nhiên, ở BN bắt đầu xuất hiện
tình trạng co cứng cơ ở bên liệt và dần dần đưa đến dính, hạn chế vận động các
khớp vai, cổ chân… bên đó.
- Khiếm khuyết vận động:
Đặc trưng bởi liệt mềm, rồi chuyển sang liệt cứng với mẫu co cứng điển hình
và “cử động khối”.
Hội chứng vai tay và hiện tượng đau khớp vai bên liệt.
Hiện tượng đau khớp vai và tay bên liệt còn được gọi là phản xạ loạn dưỡng
giao cảm. Khớp vai sưng, đỏ đau, co rút, hạn chế vận động, đau lan xuống các khớp
còn lại của chi. Chụp X quang có thể thấy hiện tượng loãng xương hình đốm, mất
calci của xương. Người ta cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này là do kém cân

15
bằng của hệ thần kinh giao cảm hoặc thần kinh tự chủ động. Nó có thể gặp trong một
số bệnh lý khác như cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, sau phẫu thuật lồng ngực…
- Các hoạt động chức năng:
Di chuyển: thường bằng xe lăn. BN có thể tự lăn trở, ngồi dậy tại giường.
Thăng bằng và điều hợp chưa tốt cản trở việc di chuyển cho dù cơ lực có thể đã

ngày một tăng [3]. Các kỹ thuật điều trị, chăm sóc PHCN cho người TBMMN cũng
ngày một tốt hơn, song việc thực hiện cũng còn có nhiều vấn đề chưa được tốt như:
- PHCN không đúng thời điểm: nếu quá sớm khi tai biến chưa ổn định có thể
gây tăng chảy máu, làm cho tai biến nặng lên. Nếu quá muộn thì các cơ, khớp bị
cứng, teo khó hồi phục, xuất hiện nhiều thương tật thứ cấp kèm theo.
- Việc hướng dẫn cho người nhà BN, hướng dẫn cho cộng đồng cách chăm
sóc chưa được thật chi tiết, không có các tài liệu kèm theo để họ tiến hành dễ dàng.
- Việc tham gia của gia đình, đặc biệt của cộng đồng chưa cao.
- Việc lượng giá tình trạng bệnh và mức độ tổn thương vận động chưa được
chú ý đúng mức nên quyết định mức độ chăm sóc và tập luyện chưa thật phù hợp.
Với các thực trạng trên, hiện nay việc chăm sóc và PHCN cho BN TBMMN
chưa có hiệu quả cao.

17
CHƢƠNG 3
CHĂM SÓC, PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

3.1. Vai trò của chăm sóc và phục hồi chức năng
Việc chăm sóc và phục hồi chức năng cần toàn diện, sớm tùy thuộc vào giai
đoạn tiến triểu của bệnh. Ở giai đoạn cấp việc chăm sóc chiếm vị trí quan trọng,
PHCN cũng đồng thời tiến hành ngay sẽ giúp phòng ngừa và làm giảm các biến
chứng cho bệnh nhân trong cả thời kỳ cấp tính cũng như về lâu dài.
3.2. Quy trình điều dƣỡng:
3.2.1. Lượng giá của người điều dưỡng đối với BN TBMMN
Bệnh nhân bị TBMMN thường là một bệnh cấp tính, diễn biến kéo dài, có
thể ngày càng nặng dần tùy theo từng nguyên nhân và mức độ tổn thương, nhiều
biến chứng rất nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng người bệnh nếu chúng ta không
điều trị và chăm sóc chu đáo.
Lượng giá điều dưỡng là đánh giá tình trạng BN, người tàn tật thông qua một
loạt thao tác, thủ thuật để tìm ra các vấn đề cần can thiệp điều dưỡng.

mắt, mất phản xạ đồng tử với ánh sáng
+ Tổn th-ơng dây V: giảm, mất, rối loạn cảm giác ở
mặt, phần tr-ớc l-ỡi. Liệt cơ cắn (không có phản xạ
cằm), mất phản xạ giác mạc.
+ Tổn th-ơng dây VII: liệt mặt, mất vị giác 2/3
tr-ớc l-ỡi.
+ Tổn th-ơng dây VIII: điếc, giảm thính giác, rung
giật nhãn cầu, rối loạn tiền đình.
+ Tổn th-ơng dây IX, X: lệch màu hầu, liệt thanh
quản, ăn, uống sặc, nuốt khó, nói giọng mũi.
+ Tổn th-ơng dây XI: Liệt cơ thang, cơ ức đòn chũm.
+ Tổn th-ơng dây XII: liệt l-ỡi, khó nói.

19
+ Yếu tố liệt nửa người một bên
+ Mất hoặc rối loạn cảm giác của một bên nửa người
+ Cơ nửa người co cứng hoặc mềm nhẽo: đánh giá cơ lực bằng các bậc thử cơ
+ Rối loạn ngôn ngữ do hiểu kém hoặc diễn đạt kém
+ Mất các cử động quen thuộc: chải đầu, mặc áo … vụng về, khó khăn
- Tim mạch
+ Huyết áp cao hay thấp?
+ Nhịp tim? Tần số có rối loạn nhịp?
- Tình trạng hô hấp
+ Tần số thở/ phút (14-25 lần/ phút, dưới 15 lần/ phút hay trên 25 lần/ phút
+ Kiểu thở (thở ngực, thở bụng)
+ Rì rào phế nang (rõ hay giảm)
+ Xuất tiết đờm dãi (có hay không)
+ Khả năng ho khạc hiệu quả (bình thường, yếu hay không ho được)
+ Bệnh nhân tự thở, thở có sự trợ giúp của máy thở hay qua ống nội khí
quản, mở khí quản.

thần kinh sọ não
Kết quả mong đợi: bệnh nhân tự ăn được,đảm bảo đủ nhu cầu dinh dưỡng.
- Giao tiếp bằng lời nói bị ảnh hưởng liên quan đến cản trở ngôn ngữ.
Kết quả mong đợi: bệnh nhân sẽ thông tin được bằng cách thay đổi phương
pháp thông tin và luyên tập phục hồi được tiêng nói.
- Rối loạn đại tiểu tiện liên quan đến mất phản xạ,rối loạn nhận thức.
Kết quả mong đợi: người bệnh sẽ đại tiểu tiện được bình thường.
- Nguy cơ tổn thương mất tính toàn vẹn của da liên quan đến nằm bất động
lâu ngày và giảm cảm giác.
Kết quả mong đợi: người bệnh sẽ không bị tổn thương da hoặc sẽ phục hồi
tổn thương da nhanh chóng nếu đã có.
- Nguy cơ ảnh hưởng trao đổi khí liên quan đến ứ đọng dịch tiết.

21
Kết quả mong đợi: đường thở bệnh nhân được thông thoáng.
- Nguy cơ táo bón liên quan đến nằm bất động k éo dài.
Kết quả mong đợi: bệnh nhân đi đại tiện bình thường không bị táo bón.
- Gia đình lo lắng liên quan đến người nhá chưa hiểu biết về bệnh.
Kết quả mong đợi: người nhà bệnh nhân có kiến thức về nguyên nhân,cách
phòng,chăm sóc, các bài tập thụ động để tập luyện cho người bệnh.
3.2.3. Lập kế hoạch chăm sóc
Qua nhận định người điều dưỡng cần phân tích, tổng hợp các dữ kiện để xác
định nhu cầu cần thiết của bệnh nhân, từ đó lập kế hoạch chăm sóc cụ thể, đề xuất
vấn đề ưu tiên, vấn đề nào thực hiện trước và vấn đề nào thực hiện sau tùy từng
trường hợp cụ thể.
- Theo dõi
+ Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở 30 phút/ lần; 1 giờ/
lần; 3 giờ/ lần; 2 lần/ ngày … tùy thuộc vào tình trạng của người bệnh.
+ Đánh giá tình trạng ý thức (Glasgow)
+ Tình trạng thông khí

Các hoạt động theo dõi cần được thực hiện đúng khoảng cách thời gian trong
kế hoạch, các thông số cần được ghi chép đầu đủ, chính xác và báo cáo kịp thời.
3.2.4.1. Theo dõi
- Theo dõi sát các dấu hiệu sinh tồn, báo bác sỹ ngay khi huyết áp lên hoặc
xuống quá giới hạn cho phép (hạ áp khi huyết áp tâm thu ≥ 170 mmHg, huyết áp
tâm thu ≥ 100 mmHg). Theo dõi nhịp tim nếu có bất thường báo bác sỹ ngay.
- Người điều dưỡng phải nhận định về nhận thức của người bệnh theo thang
điểm Glasgow, đồng tử, kích thước và phản xạ với ánh sáng. Tình trạng liệt và rối
loạn cảm giác.
- Trong trường hợp có phù não, tăng áp lực nội sọ thì để người bệnh năm đầu
cao 30
0
nhằm làm tăng dẫn lưu mạch não, giảm áp lực nội sọ.
- Trong chăm sóc, tránh tất cả các hoạt động có thể gây tăng áp lực nội sọ
cho người bệnh (giữ phòng yên tĩnh, hạn chế ho, tránh người bệnh bị cong gập nhất
là đoạn hông, cổ).

23
- Bệnh nhân bị tai biến thường không vận động, liệt cơ hô hấp, tăng tiết đờm
dãi. Vì vậy, người điều dưỡng phải cho bệnh nhân thở oxy theo y lệnh, nếu có tụt
lưỡi đặt canyl miệng, vỗ rung, thay đổi tư thế 2 giờ/ lần.
Hút đờm dãi nếu có tăng tiết hút nhẹ nhàng tránh gây thương tích cho khí
phế quản.
Nếu có đặt ống nội khí quản: phải chăm sóc ống nội khí quản đảm bảo vô
khuẩn phòng chống nhiễm khuẩn …
3.2.4.2. Can thiệp y lệnh
- Khi có y lệnh người điều dưỡng cần thực hiện nhanh chóng, chính xác, kịp
thời, đúng thời gian, đúng chỉ định. Thực hiện các thuốc tiêm, truyền dịch, thuốc
uống vừa thực hiện vừa theo dõi tác dụng phụ của thuốc đối với người bệnh.
- Thực hiện các thủ thuật: đặt sonde dạ dày cho bệnh nhân ăn, đặt sonde tiểu

+ Bệnh nhân đóng bỉm: chú ý thay bỉm và vệ sinh sạch sẽ sau mỗi lần bệnh
nhân đại tiểu tiện, ít nhất thay bỉm và vệ sinh 3 lần/ ngày.
- Chăm sóc về tiêu hóa
+ Theo dõi tính chất phân: táo bón, tiêu chảy hay phân bình thường.
+ Nếu táo bón thì chăm sóc: xoa bụng, uống nhiều nước. Nếu không hiệu
quả báo bác sỹ sử dụng thuốc thụt tháo cho bệnh nhân.
+ Nếu tiêu chảy, báo bác sỹ, bù đủ nước, ăn đủ dinh dưỡng, vệ sinh sạch sẽ
sau tiêu chảy …
- Đảm bảo dinh dƣỡng
+ Chế độ ăn: đủ lượng calo phù hợp với từng người bệnh như gầy, béo, các
bệnh mạn tính đã có từ trước khi bị TBMMN (như tiểu đường, tim mạch, thận …).
Nhưng mỗi bệnh nhân cần đảm bảo 2.500 – 3.500 kcalo/ ngày chia thành 6 –
8 lần/ ngày.
+ Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch nếu bệnh nhân có chướng bụng, liệt
ruột theo y lệnh.

25
+ Đối với bệnh nhân ăn qua sonde cần ăn nhiều bữa một ngày mỗi lần ăn
không quá 300 ml và cách nhau 3 – 4 giờ. Bơm từ từ tránh nôn, sặc, thức ăn dễ tiêu
hóa, dễ hấp thu nhiều chất dinh dưỡng, trước khi ăn cần hút dịch dạ dày kiểm tra
tình trạng tiêu hóa của người bệnh.
Tăng cường thêm các loại vitamin nhóm A, B, C bằng bơm nước hoa quả.
+ Ăn nhạt nếu tăng huyết áp, suy tim, suy thận …
+ Đảm bảo đủ nước: lượng nước đưa vào cơ thể (uống, truyền) ước tính bằng
số lượng nước tiểu của người bệnh có trong 24 giờ + (300 – 500 ml). Nếu người
bệnh có sốt, ra nhiều mồ hôi, thở máy cần cho thêm 500 ml.
+ Nếu người bệnh nhẹ, không rối loạn chức năng nuốt thì động viên bệnh
nhân ăn từ từ, ăn ít một, vừa ăn vừa theo dõi nếu có dấu hiệu sặc báo ngay bác sỹ.
- Phòng chống loét
+ Thay đổi tư thế cho người bệnh ít nhất 2 giờ/ lần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status