BÀI THU HOẠCH
Phục hồi chức năng
cho người bệnh liệt
nửa người do tai biến
mạch máu não.
Nhóm thực hiện: Nguyễn Quang Huyền Trân
Nguyễn Ngô Thị Thanh Hường
Lê Trọng Nhân
Tổ 1_YHCT06
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG NGƯỜI BỆNH LIỆT
NỬA NGƯỜI DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
A.Tai biến mạch máu não
I.Định nghĩa:
Theo tổ chức Y tế thế giới,tai biến mạch máu não (TBMMN) là một thiếu sót thần kinh
xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa.Các triệu chứng tồn tại quá 24h
hoặc tử vong trong 24h,loại trừ nguyên nhân sang chấn.
II.Phân loại:
TBMMN gồm 2 loại chính :
1.Nhồi máu não hay thiếu máu não cục bộ: là tình trạng khi một mạch máu bị tắc hoặc
nghẽn,khu vực nào mà mạch máu dó cung cấp bị thiếu máu và hội tử.Được phân làm 3 loại:
_Cơn thiếu máu não thoáng qua:tai biến phục hồi trong 24h.
_Thiếu máu não cục bộ hồi phục:tai biến phục hồi trên 24h và không để lại di chứng.
_Thiếu máu não cục bộ hình thành:thời gian phục hồi kéo dài,để lại di chứng hoặc tử
vong.
2.Chảy máu não(xuất huyết não)là máu thoát khỏi mạch máu chảy vào nhu mô não.Có
thể chảy máu ở nhiều vị trí trong não như vùng bao trong,nhân xám trung ương,thùy não,than
não,tiểu não.Căn cứ vào tiến triển trong 2-3 tuần đầu,chia chảy máu não thành 5 loại như sau:
_Khỏi hoàn toàn trước 24h:cơn thiếu máu não thoáng qua.
_Khỏi hoàn toàn trên 24h:TBMMN một phần hồi phục,hoặc thiếu máu não thoáng
qua kéo dài.
Sự bố trí mạch như trên giải thích các tai biến thiếu máu não cục bộ thuộc hệ cảnh cho
triệu chứng thần kinh một bên,tổn thương hệ sống nền thường cho triệu chứng lan tỏa cả 2
bên.
V.Chẩn đoán tai biến mạch máu não:
1.Chẩn đoán xác định tai biến mạch máu não:
Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng.Chẩn đoán TBMMN ở cộng đồng.Dựa theo tiêu
chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế Thế giới:
_Xảy ra đột ngột và nhanh,biểu hiện các thiếu sót chức năng thần kinh.
_Các rối loạn chức năng náy thường là khu trú,hiếm khi lan tỏa với các triệu chứng tồn tại
quá 24giờ hoặc tử vong trong vòng 24 giờ.
_Các khám xét và thăm dò đã loại trừ nguyên nhân sang chấn.Các tiêu chuẩn chẩn doán này
chủ yếu dựa vào lâm sang,đặc biệt là hỏi bệnh.
Chẩn đoán TBMMN trong bệnh viện:
_Để chản đoán có phải TBMMN hay không các tiêu chuẩn chẩn đoán như ở cộng đồng.
_Để phân biệt tai biến chảy máu não và thiếu máu não cục bộ,cần áp dụng thêm tiêu chuẩn
dựa váo sự tiến triển của bệnh trong 2-3 tuần đầu tiên và phân làm 5 loại như sau:
Loại 1: khỏi hoàn toàn trước 24 giờ:cơn thiếu máu não thoáng qua.
Loại 2: khỏi hoang toàn trên 24 giờ: thiếu máu cục bộ 1 phần hồi phục,hoặc thiếu
máu cục bộ thoáng qua kéo dài.
Loại 3: khỏi một phần với di chứng kéo dài.
Loại 4: không hồi phục và nặng lên liên tục.
Loại 5: tử vong.
Trong 5 loại trên,loại 1 và 2 thường là thiếu máu cục bộ,loại 4 và 5 hầu hết là tai biến
xuất huyết.Loại 3 khó chẩn đoán,cần dựa trên nhiều xét nghiệm cận lâm sang,chụp cắt
lớp.Chung cả 5 loại nếu đột ngột nặng lên trong 3-4 ngày đầu phải nghĩ đến chảy máu não và
chỉ định chụp não cắt lớp.
Căn cứ vào các xét nghiệm cận lâm sàng:
_Xét nghiệm máu:bilan lipid máu,cong thức máu,thời gian đông máu…
_Dịch não tủy.
_ECG,Siêu âm tim.
nề quanh ổ,dấu hiệu chèn
ép,máu trong não thất.
Dấu hiệu toàn thân Không sốt Sốt trong giai đoạn toàn
phát,bạch cầu ngoại vi tăng.
3.Chẩn đoán định khu tổn thương trong TBMMN:
Thiếu máu ở đâu và do động mạch nào?
_Nhồi máu động mạch não giữa:
+ Tổn thương nhánh nông.
+ Tổn thương nhánh sâu.
+ Tổn thương động mạch não giữa toàn bộ.
_Nhồi máu động mạch não trước.
_Nhồi máu động mạch màng mạch trước.
_Nhồi máu động mạch cột sống_thân nền.
_Nhồi máu động mạch não sau.
_Nhồi máu tiểu não.
Chảy máu(xuất huyêt) ở đâu:
_Xuất huyết bao trong_nhân đậu.
_Xuất huyết đồi thị.
_Xuất huyết não thùy.
_ Xuất huyết dưới lều.
_ Xuất huyết dưới nhện.
_ Xuất huyết não thất.
4.Chẩn đoán nguyên nhân:
Theo Tổ chức Y tế thế giới nguyên nhân TNMMN đứng đầu là xơ vữa động mạch
sau đó là tăng huyết áp,tiếp là nghẽn ,ạch do cục máu từ tim lên não như trong hẹp van 2
4
lá,rối loạn nhịp tim,viêm nội tâm mạc nhiễm trùng,các bệnh gây rối loạn đông máu và một số
bệnh nội khoa khác.
5.Chẩn đoán phân biệt:
Với một số bệnh:Động kinh cục bộ,glocom,ngất do bệnh tim,migren có biến chứng,máu tụ
_Đứng lên khi đang ngồi trên ghế.giường hoặc xe lăn?
_Giữ thang bằng khi đứng?(tĩnh và động)?
_Vận động tay chân khi đứng?
_Đứng dồn trọng lượng lên chân liệt?
_Đi lại có người dìu?
_Đi lại với dụng cụ trợ giúp?
_Tự đi lại không cần trợ giúp?
5
_Đi lại trên bờ mặt bằng phẳng?
_Đi lại trên bờ mặt gồ ghề?
_Đi lên,xuống dốc,lên xuống cầu thang?
_Tự chăm sóc bản thân ăn uống,tắm rửa,vệ sinh cá nhân?
3.Tình trạng cảm giác:
_Cảm giác nông?
_Cảm giác sâu?
4.Tình trạng trương lực cơ:
_ trương lực cơ giảm(liệt mềm)?
_ trương lực cơ tăng(liệt cứng)?
_Phối hợp cả liệt mềm và liệt cứng?
II.Phân loại giai đoạn bệnh nhân liệt nửa người:
Theo Gowland và cộng sự(1990) đã chia quá trình phục hồi của bệnh nhân liệt nửa
người làm 7 giai đoạn có những biểu hiện lâm sàng khác nhau về trương lực cơ,chức năng
vận động chung,khả năng vận động của tay và chân.Tác giả đề xuất nguyên tắc và kĩ thuật tập
luện bao gồm kiểm soát tue thế,tập vận động tay,vận động chân,phối hợp vân động toàn thân
cho phù hợp:
Giai đoạn 1:Liệt mềm,giảm hoặc mất phản xạ căng giãn biểu hiện bằng giảm hoặc mất sức
kháng của vận động thụ động,chưa có vận động chủ động.
Giai đoạn 2:Xuất hiện co cứng,biểu hiện bằng kháng cản lại vận động thụ động,chưa có vận
động chủ động nhưng nếu kích thích và tạo thuận sẽ xuất hiện vận động theo mẫu vận động
nguyên thủy.mẫu vận động nguyên thủy này là rập khuôn mẫu vận động gấp và duỗi,liên
giúp người bệnh độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp.
Chương trình tập luyện phục hồi chung cho người bệnh liệt nửa người do TBMMN
bao gồm:
1.Vị trí đặt giường bệnh trong phòng:
Giường bệnh được kê ở trong phòng. Sao cho, phía thân bị liệt của người bệnh được
hướng ra giữa phòng,không để người bệnh nằm bên liệt xác tường. Như vậy, mọi tiếp xúc,
tác động tới người bệnh đều đến từ phía bên liệt. Điều này khiến họ vận động bên đó nhiều
hơn và đỡ bỏ quên nửa thân bị liệT.
2.Đặt tư thế người TBMMN:
Người bệnh cần được đặt ở tư thế đúng để giảm bớt mẫu co cứng, đề phòng biến dạng
khớp. Có các tư thế đặt bệnh nhân sau:
_Nằm ngửa:Vai và hông bên liệt được kê gối mềm, khớp gối gập nhẹ; cổ chân được kê vuông
góc với cẳng chân để tránh biến dạng gập bàn chân về phía lòng bàn chân.
_Nằm nghiêng sang bên liệt: Vai bên liệt gập, cánh tay duỗi vuông góc với thân, thân mình
nửa ngửa, chân liệt duỗi. Tay lành để trên thân hoặc gối đỡ phía lưng. Chân lành gập ở háng
và gối.
_Nằm nghiêng sang bên lành:vai và cánh tay bên lành để tự do.Chân lành để duỗi.Thân mình
vuông góc với mặt giường.Tay liệt có gối đỡ để vuông góc với thân.Chân liệt có gối đỡ ở tư
thế gập háng và gối.
3. Cách lăn trở người bị TBMMN
Nên hướng dẫn để người bệnh tự lăn trở, nếu khó khăn trong giai đoạn đầu
người nhà có thể hỗ trợ người bệnh lăn trở, cách hỗ trợ như sau:
_Lăn sang bên liệt:Nâng tay và chân lành lên.Đưa chân và tay lành về phía bên liệt. Xoay
thân mình sang bên liệt.
_Lăn sang bên lành: làm các động tác theo trình tự sau đây:Cài tay lành vào tay liệt.Giúp
người bệnh, gập gối và háng bên liệt.Dùng tay lành kéo tay liệt sang phía tay lành.Đẩy hông
người bệnh xoay sang bên lành.
_Ngồi dậy từ tư thế nằm ngửa:Người nhà ngồi bên cạnh người bệnh.Người bệnh bám hai tay
vào cánh tay của người thân.Một tay người nhà quàng và đỡ vai người bệnh.Đỡ người bệnh
ngồi dậy từ từ.
_Khớp gối: : gấp,duỗi.
_Khớp cổ chân: gập mặt long,gập mặt mu, nghiêng vào trong,nghiêng ra ngoài.
Người bệnh tự làm hoặc có người nhà giúp. Bài tập này nên làm hàng ngày.
2.Các bài tập vận động ở tư thế nằm:
Các bài tập chung toàn thân:
_Lăn nghiêng sang phía bên liệt.
_ Lăn nghiêng sang phía bên lành.
_Làm dài thân mình phía bên liệt để làm giảm co cứng.
Các bài tập cho tay liệt:
_Vận động đưa vai ra phía trước.
_Vận động tay liệt với sự trợ giúp của tay lành.
_Gấp,duỗi vai bên liệt ở các vị trí khác nhau.
Các bài tập với hông và chân:
_Tập dồn trọng lượng lên chân lành.
_Tập làm cầu với hai chân,sau đó là riêng cho chân liệt.
_Tập gấp duỗi chân liệt.
_Tập gấp duỗi riêng khớp hang bên liệt trong khi khớp gối gấp.
_Tập dạng,khép khớp hang bên liệt trong khi khớp gối gấp.
_Tập gấp khớp cổ chân bên liệt về phía mu.
_Tập kiểm soát vận động chân liệt.
Các dụng cụ hỗ trợ người bệnh ở vị thế nằm:
• Các dụng cụ giúp người bệnh nằm ở vị thế đúng:
8
Phòng ngừa các thương tật thứ cấp và các di chứng cho bệnh nhân ngay sau khi đột
quỵ.Một trong các di chứng thường gặp nhất là bàn chân “thuổng”,cứng khớp cổ tay,khớp
vai,khớp háng,khớp các ngón tay…Ngoài gối còn có các dụng cụ dễ làm,sử dụng,thuận tiện
như túi cát,ván đễ bàn chân,đệm chống loét toàn thân và cho vùng gót chân.
- Đặt tư thế đúng
Nếu hầu hết thời gian người bệnh được đặt đúng tư thế sẽ hạn chế rất tốt chuyện dính khớp
bên liệt. Các tư thế tốt đã được mô tả ở phần trên.Nếu người bệnh cử động thường xuyên và
gối kê đỡ.Cho dù ngồi trên giường hay trên xe lăn hay trên ghế,tay liệt của người bệnh luôn
được đỡ ở tư thế nâng lên ở phía trước hay ở bên cạnh thân mình,không để cho vai bên liệt bị
kéo xuống trong tình trạng bán trật khớp ở trong giai đoạn đấu sau đột quỵ hay ở giai đoạn co
cứng sau này.
Người bệnh tập di chuyển từ giường ra ghế,hoặc xe lăn và ngược lại.Một trong những điều
quan trọng trong phần tập luyện ở vị thế ngồi và di chuyển này là các dụng cụ đó phải có
chiều cao như nhau và phù hợp với chiều cao của người bệnh,nghĩa là khi người bệnh ngồi
9
trên giường,ghế,hoặc xe lăn thì hai chân phải đặt xát trên sàn nhà,khớp cổ chân,khơp
gối,khớp háng vuông góc.
• Dụng cụ trợ giúp người bệnh tập luyện ở tư thế ngồi:
Động tác cần tập đầu tiên là tự điều chỉnh thân mình để giữ thăng bằng,chỉ sau khi
người bệnh đã ngồi được chắc chắn mới tiến hành các vận động khác.Người bệnh nên được
bắt đầu tập ở trên giường,hoặc ghế tựa có kê đỡ cẩn thận,sau đó tập trên ghế đẩu có tay
vịn.Dụng cụ thích hợp nhất để thực hiện động tác vận động chuyển trọng lượng lần lượt sang
hai bên mông là ghế bập bênh.Điều chỉnh thân mình nghĩa là khi người bệnh dồn trọng lượng
lên mông bên nào thì thân mình bên đó được kéo dài ra,vai được nhô cao lên.Điều chỉnh thân
mình qua hai bên và ra trước ra sau.
3.Các bài tập vận động tư thế ngồi:
_Tập ngồi dậy từ tư thế nằm nghiêng phía bên liệt.
_ Tập ngồi dậy từ tư thế nằm nghiêng phía bên lành.
_Tập thăng bằng khi ngồi(tĩnh và động).
_Tập ngồi chuyển trọng lượng lần lượt sang hai bên mông kết hợp với điều chỉnh thân
mình phù hợp.
_Tập di chuyển ở tư thế ngồi.
_Tập ngồi dồn trọng lượng lên tay liệt.
_Tập vân động tay liệt ở tư thế ngồi.
_Tập các động tác khéo léo cho bàn tay và ngón tay bên liệt bao gồm
gấp,duỗi,dạng,khép,đối chiếu các ngón.
• Các dụng cụ luyện tập phục hồi chức năng của tay,bàn tay ở tư thế ngồi:
động chân liệt,tập dồn trọng luownhj lần lượt lên hai chân….Sử dụng các dụng cụ đơn
giản như:khúc gỗ,viên gạch,ghế ngồi,bậc thang,tập leo núi.Tùy trường hợp từng người
bệnh mà sử dụng nhiều hay ít dụng cụ.Nếu chân bên liệt còn quá yếu hoặc co cứng quá
mức mà không kiểm soát được vận động khớp gối thì phải dùng nẹp gối.Nếu khớp cổ
chân bên liệt không gập được về phía mu bàn chân trong khi tập đi phải nẹp khớp cổ chân
hoặc đai nâng bàn chân.
Đầu tiên nên có người trợ giúp,sau đó tập với các dụng cụ có hỗ trợ nhiều,sau đó tập
với các dụng cụ đơn giản hơn và cuối cùng là tự đi không cần dụng cụ.
Các dụng cụ tập đi thông thường:
_Thanh song song và các bước tập đi trong thanh song song:
1.Người bệnh đứng thẳng,hai tay nắm vào 2 thanh.
2.Đưa một tay ở một bên lên phía trước.
3.Đưa tay kia lên phía trước.
4.Bước chân liệt lên phía trước.
5.Bước chân kia lên theo.
_Thanh ngang và các bước tập đi trong thanh ngang:
1.Người bệnh đứng thẳng,tay bên lành nắm lên thanh ngang.
2.Đưa tay lành nắm lên đoạn thanh ngang ở phía trước.
3.Bước chân liệt lên phía trước.
4.Bước chân kia lên theo.
_Khung tập đi và cách đi:
1.Người bệnh đẩy hoặc nâng khung đưa lên phía trước.
2.Sau đó bước chân liệt lên phía trước.
3.Rồi bước chân lành lên theo.
_Nạng nách và cách tập đi với hai nạng:
1.Người bệnh đưa một nạng lên phía trước.
2.Đưa tiếp nạng kia lên.
3.Sau đó bước chân liệt lên trước.
4.Rồi bước chân lành lên theo.
_Gậy và cách tập đi bằng hai gậy:
Tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của từng gia đình có thể bố trí phòng nằm
cho bn rộng hay hẹp, nhiều hay ít tiện nghi… Nói chung, phòng nằm cho người bệnh
càng rộng càng tốt để có thể tập luyện ngay trong phòng. Giường nằm của bn nên có
chiều cao bằng chiều cao của xe lăn và ghế đẩu để tiện cho việc di chuyển. Giường nằm
nên có đệm để chống loét, tốt nhất là đệm cao su xốp. Với các gia đình ở nông thôn kinh
tế khó khăn có thể sử dụng đệm cỏ, đệm lau hoặc chăn cũ giặt sạch … để làm đệm cho
người bệnh. Cần phải có 1 số gối kê cho bn trong khi nằm và tập luyện
2. Các vị thế nằm đúng trên giường gồm :
_Nằm nghiêng về bên liệt
_Nằm nghiêng về bên lành
_Nằm ngửa
3. Tập vận động thụ động các khớp ở tư thế nằm bao gồm:
_Gấp, duỗi, dạng, khép, xoay trong và xoay ngoài khớp tay
_Gấp, duỗi khớp khuỷu
_Quay sấp, xoay ngửa cẳng tay
_Gấp, duỗi, nghiêng khớp cổ tay
_Gấp, duỗi, dạng, khép, xoay trong, xoay ngoài khớp háng
_Gấp, duỗi khớp gối
_Gấp, duỗi, nghiêng trong, nghiêng ngoài khớp cổ chân và bàn chân
_Gấp, duỗi các ngón chân
4. Các bài tập vận động ở tư thế nằm gồm:
_Lăn nghiêng sang bên liệt
_Lăn nghiêng sang bên lành
12
_Vận động tay liệt có sự trợ giúp của tay lành
_Tập kiểm soát vận động của tay liệt
_Tập kiểm soát vận động của tay lành
_Tập ngồi dậy
5. Các bài tập vận động ở tư thế ngồi gồm:
_Tập ngồi thăng bằng