MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
A. Cơ sở khoa học 1
B. Thực trạng 2
C. Nội dung 2
1. Bản đồ giáo khoa địa lí 3
2. Các tranh ảnh, hình vẽ có sẵn 5
3. Hình vẽ của giáo viên trên bảng 6
4. Biểu đồ 8
5. Sơ đồ 8
6. Mô hình, khối đồ 12
7. Sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy 14
D. Hiệu quả 20
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN NHẰM
PHÁT TRIỂN TƯ DUY CHO HỌC SINH
TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ 6
MỞ ĐẦU
Đồ dùng trực quan là một trong những phương tiện cần thiết khi giảng
dạy địa lí. Học sinh lớp 6 sẽ rất bỡ ngỡ khi làm quen với các khái niệm trừu
tượng của môn địa lí lớp 6 như: “Bình Nguyên” “Cao Nguyên” “Hệ Mặt
Trời”…Nếu chỉ dùng lời nói để thuyết trình thì học sinh sẽ học vẹt các khái
niệm, rất ít tác dụng trong việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
Trong kho tàng ca dao, tục ngữ của nước ta có câu “Trăm nghe không bằng
mắt thấy” do đó nếu dùng đồ dùng trực quan trong tất cả các bài học địa lí 6
thì các em sẽ khắc sâu hơn các khái niệm, hiểu rõ hơn và tạo nhiều hứng thú
cho các em trong học tập. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài này.
NỘI DUNG
A. Cơ sở khoa học:
Nghị quyết trung ương 2 ( khoá VIII) nêu rõ : “Đổi mới mạnh mẽ
Các thuyết bị dạy học bộ môn địa lí tập trung vào các loại hình chủ yếu
sau: bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ, mẫu vật, mô hình và các phương tiện kỹ thuật
nghe nhìn.
B. Thực trạng:
Thuận lợi:
SGK cải cách của môn địa 6 có hệ thống kênh hình có nhiều màu sắc
hiện đại đẹp mắt, vừa giúp học sinh dễ quan sát và đọc hiểu.
Khó khăn:
- Với tâm lý của một số phụ huynh chỉ muốn cho con học toán, tiếng
Anh, nên học sinh học chỉ để đối phó.
- Do có giới hạn nên SGK không thể đưa hết tất cả mọi loại phương tiện
trực quan vào SGK do đó khi dạy giáo viên phải tự tìm tòi thêm để bài dạy
thêm sinh động, để học sinh hứng thú với môn địa lí 6.
C. Nội dung:
Trong các phương tiện trực quan trong dạy học gồm: Bản đồ giáo khoa
địa lí, các tranh ảnh hình vẽ có sẵn, biểu đồ, sơ đồ, mô hình, khối đồ.
1. Bản đồ giáo khoa địa lí:
- Bản đồ giáo khoa địa lí là những bản đồ được qui định sử dụng trong
dạy và học ở tất cả các cấp. Bản đồ giáo khoa còn phải đảm bảo tính khoa
học, tính trực quan và tính sư phạm. Tính trực quan đòi hỏi bản đồ giáo khoa
phải khái quát hóa cao, dùng nhiều hình ảnh và phương pháp biểu thị trực
quan, đảm bảo cho học sinh nhận biết và hiểu nội dung bản đồ tốt hơn.
- Theo hình thức sử dụng trong quá trình học tập có nhiều loại bản đồ
khác nhau.
+ Bản đồ treo tường chủ yếu sử dụng trên lớp với số đông học sinh,
chúng được quan sát ở cự li tương đối xa vì vậy kích thước lớn.
Ví dụ: Bản đồ tự nhiên thế giới để dạy bài thực hành: Bài 11 để học
sinh Xác định được các lục địa và đại dương trên thế giới.
+ Bản đồ trong SGK (lược đồ) biểu hiện một số nội dung tương ứng
với bài viết SGK, nội dung về sự phân bố không gian của đối tượng địa lí.
- Để nâng cao hiệu quả sử dụng bản đồ cần lưu ý một số điểm: sử dụng
thường xuyên trong giờ học, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp, sử dụng hợp lí, trong cả dạy bài mới, kiểm tra bài cũ trong ôn tập,
bài tập về nhà, bài thực hành…, phù hợp với vài giảng tránh khập khiễng.
2. Các tranh ảnh, hình vẽ có sẵn:
Có trong SGK, trong các tập tranh ảnh được sản xuất phục vụ cho dạy
học, hoặc do giáo viên và học sinh sưu tầm ở các nguồn xuất bản khác nhau
phục vụ cho dạy học. Chúng gần gũi với bài học, có thể dùng để mở đầu bài
học, nghiên cứu bài mới, củng cố, kiểm tra, cho học sinh làm bài tập.
Hình 42 Hình 43
Hình 47
SGK cho học sinh quan sát h.quặng sắt, h.quặng đồng, h.lều khí tượng.
Quan sát hình 48 SGK để tính độ cao giữa hai địa điểm
Cách thức hoạt động phổ biến với tranh ảnh hình vẽ có sẵn là đàm thoại.
Trong quá trình đó, giáo viên hướng dẫn học sinh vào việc tìm tòi, liệt kê các
dấu hiệu độc đáo, các mối liên hệ của các sự vật với nhau.
Cho biết rìa lục địa gồm những bộ phận nào? Nêu được độ sâu của các
bộ phận từ đó giúp các em phân biệt được thế nào là thềm lục địa và sườn
lục địa.
3. Hình vẽ của giáo viên trên bảng.
- Hình vẽ của giáo viên trên bảng cũng được xem là một đồ dùng trực
quan quan trọng, vì nó làm cho học sinh dễ hiểu bài, dễ ghi nhớ hình thánh
được các biểu tượng và khái niệm địa lí. Việc vẽ trên bảng sẽ kéo theo hoạt
động của học sinh: vẽ lại vào vở; thị giác, sự phân tích và liên kết được huy
động làm việc, học sinh suy nghĩ sâu hơn trên hình vẽ và h ọc cách biểu thị
suy nghĩ của mình bằng hình vẽ.
Ví dụ: : Giáo viên vẽ hình các hướng chính lên bảng sau đó cho học
sinh vẽ lại vào vở. Trong khi dạy bìa 17 lớp vỏ khí ở phần 3. Các khối khí có
thể vẽ:
Có nhiều loại sơ đồ phổ biến trong giảng dạy địa línhưng ở lớp 6 phhổ
biến nhất là sơ đồ cấu trúc và sơ đồ quá trình
- Sơ đồ cấu trúc biểu hiện các thành phần, yếu tố trong một chỉnh thể và
mối quan hệ giữa chúng.
Ví dụ: Như hình 35: Sơ đồ các bộ phận của núi
Hình 29: Các bộ phận rìa lục địa
Sơ đồ biểu hiện vị trí các thành phần, yếu tố và mối quan hệ giữa chúng
trong quá trình vận động.
Ví dụ: : như hình 23 SGK sơ đồ về sự vận động của Trái Đất quanh Mặt
Trời và các mùa ở nửa cầu Bắc
- Các sơ đồ được dùng trong giảng dạy, có thể có sẵn trong SGK hoặc
do giáo viên xây dựng từ nội dung bài học. Để sử dụng có hiệu quả các sơ đồ
cần phải bám sát nội dung dạy học các mối liên hệ phải là bản chất, khách
quan, có tính khái quát cao, dễ học, dễ nhớ. Qua sơ đồ học sinh thấy được
quan hệ khách quan, biện chứng, bố cục hợp lí làm bật trọng tâm. Có thể
dùng để dạy bài mới hay kiểm tra bài cũ, dạy trong tiết ôn tập.
Ví dụ: : Để kiểm tra bài cũ về bài 8 “Sự chuyển động của Trái Đất
quanh Mặt Trời” của học sinh trước khi vào bài sau, có thể sử dụng hình 23
SGK kèm theo câu hỏi: sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời diễn ra
như thế nào? Và hệ quả là gì?
+ Sử dụng sơ đồ trong khâu giảng bài mới, giáo viên có thể dùng sơ đồ
có sẵn trong SGK, kết hợp với lời nói để học sinh dực vào đó phân tích, so
sánh và rút ra kết luận.
Ví dụ: : Dựa vào hình 35 các bộ phận của núi
Cho các em so sánh các bộ phận của núi già và núi trẻ từ đó rút ra kết
luận núi trẻ là gí? Núi già là gì?
+ Giáo viên vừa hướng dẫn học sinh khám phá, song song với việc
hoàn thành sơ đồ, đây là hình thức dậy học có sự tham gia tích cực của học
sinh. Bằng các phương pháp giảng giải kết hợp đàm thoại gợi mở, thảo luận
tọa độ địa lí
Cách việt
tọa độ
Kinh tuyến
Vĩ tuyến
KT gốc 0
o
Vĩ tuyến
gốc (xđ)
Tỉ lệ thước
Tỉ lệ số
8 hướng
chính
Khái niệm kinh
độ, vĩ độ
Diện tích
Điểm
Đường
Hình cầu
Rất lớn
Thứ 3 trong
hệ Mặt Trời
được tính phân bố không gian của đối tượng địa lý. Do đó khi sử dụng cần
kết hợp với lược đồ, bản đồ để học sinh thấy rõ sự phân bố và đặc điểm cụ
thể của các sự vật, hiện tượng địa lý.
6. Mô hình, khối đồ:
Là phương tiện dạy học có tính trực quan cao, được sử dụng nhiều trong
dạy địa lý 6. Các mô hình khối đồ đều có hình dạng tương tự và có mô hình
tương ứng với vật thật, thể hiện được cấu trúc, hình ảnh bên ngoài của các sự
vật địa. Các mô hình có lắp ráp các thiết bị chuyển động, có thể thể hiện
Hình 59: Hệ thống sông và lưu vực
Khi dùng khối đồ địa hình cao nguyên và bình nguyên (Hình 40 SGK).
Khi dùng khối đồ địa hình cao nguyên và bình nguyên.
Qua hình học sinh xác định được độ cao của bình nguyên, cao nguyên,
địa hình của cao nguyên, bình nguyên so sánh tìm hiểu khác nhau và
giống nhau của cao nguyên và bình nguyên, của núi và cao nguyên.
7. Sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy:
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật, các phương tiện kỹ thuật công nghệ thông tin được ứng dụng vào
giảng dạy, chúng góp phần mở rộng nguồn tri thức địa lí, giúp cho việc lĩnh
hội tri thức của các em nhanh chóng hơn với một khối lượng tri thức to lớn
như: phim video giáo khoa, phần mềm Power Point, máy tính, máy chiếu
Overhead…nhưng do điều kiện có hạn nên tôi chi sử dụng phần mềm Power
Point trong một số bài dạy địa lý vì nó có hình ảnh nhiều màu sắc, hiệu ứng
hình ảnh, có thể chèn ảnh, bản đồ, sơ đồ, lượt đồ lát cắt…giúp giáo viên
trong giải thích, mở rộng và liên kết kiến thức, cho phép tạo lập các biểu đồ,
sơ đồ một cách nhanh chống, cho phép phóng to thu nhỏ các hình ảnh phục
vụ cho ý tưởng dạy học của giáo viên.
Ví dụ: Trong bài 24 để học sinh khắc sâu hình ảnh của sóng, thủy triều,
các dòng biển, tôi sử dụng Power Point chèn hình ảnh sóng, thủy triều lên,
xuống và tạo cho các dòng biển nhấp nháy để các em nắm rõ hơn hoặc khi
dạy bài 9, hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa cho học sinh xem 1 số
tranh ảnh về đêm trắng ở LB Nga, Nauy để học sinh có thể hiểu sâu hơn. Có
thể chiếu một đoạn phim về sóng và thủy triều lên xuống để học sinh hiểu rõ
và sâu hơn.
Hình ảnh sóng biển
Hình ảnh đêm trắng
Thủy triều
Minh họa
Sau đây tôi xin trình bày quá trình giảng dạy sử dụng đồ dùng trực quan
lời được Trái Đất nhìn nghiêng so với mặt phẳng, khi chuyển động trục Trái
Đất luôn nghiêng và hướng tự quay là từ Đông sang Tây.
Hình 20. Các khu vực giờ trên Trái Đất.
Dựa vảo bản đồ học sinh xác định được trên bề mặt Trái Đất có mấy
khu vực giờ, giờ gốc đi qua đài thiên văn Grin – uyt (ngoại ô Luân Đôn –
nước Anh), Việt Nam ở khu vực giờ số mấy? Mỗi khu vực giờ (múi giờ)
chênh nhau bao nhiêu giờ, rộng bao nhiêu kinh tuyến?
Tính được giờ ở mỗi khu vực.
2. Hệ quả sự vận động tự quay quanh trục của Trái Đất.
Hình 21: Hiện tượng ngày đêm trên Trái Đất
- Nhìn hình học sinh sẽ xác định được đâu là ngày đâu là đêm, tại sao
lại có ngày và đêm kế tiếp nhau.
- Vừa giảng vừa vẽ sơ đồ để học sinh cùng tham gia làm.
- Dựa vào hình 22 và trả lời các câu hỏi trong SGK rồi vẽ sơ đồ
* Củng cố - Dựa vào bản đồ hình 20 tính giờ của 1 số nước và cho giờ
gốc.
- Yêu cầu học sinh vẽ lại sơ đồ của hệ quả tự quay quanh trục.
D. Hiệu quả:
Sau một năm giảng dạy với phương pháp này tôi nhân thấy học sinh có
hứng thú hơn trong học tập, cùng tham gia xây dựng bài học, làm cho tiết
học sinh động hơn và lượng học sinh các em đạt trung bình 85 – 90% trở lên.
KẾT LUẬN
Khi hết đề tài này tôi cũng mong sao những ý kiến nhỏ này góp phần
vào việc nâng cao tính tích cực của học sinh trong học tập, để phát triển tư
duy cho học sinh một cách toàn diện và thu hút sự chú ý của học sinh trong
giờ học, đề tiết học thêm sinh động và hấp dẫn.
Dĩ An, ngày 20 tháng 01 năm 2013
Người thực hiện
Nguyễn Thị Hồng Anh
Hệ quả tự quay quanh trục
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
TRƯỜNG THCS DĨ AN
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỊ XÃ DĨ AN