Đánh giá kết quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất vật liệu không nung và bãi tập kết nguyên vật liệu tại xứ đồng Giếng To – xã Cao Ngạn – thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương trâm “ học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực
tế”. Thực tập tốt nghiệp là thời gian để mỗi sinh viên sau khi học tập, nghiên
cứu tại trường có điều kiện củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế.
Đây là giai đoạn không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên các trường đại
nói chung và sinh viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng.
Đây là một khoảng thời gian rất quý báu, bổ ích và có ý nghĩa vô cùng
lớn đối với bản thân em. Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường em
đã được trang bị một lượng kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ và một lượng
kiến thức về xã hội nhất định để sau này khi ra trường em không còn phải bỡ
ngỡ và có thể đóng góp một phần sức lực nhỏ bé của mình để phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước và trở thành người công
dân có ích cho xã hội.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp được giao và hoàn
chỉnh các nội dung của khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự phấn đấu và nỗ
lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và rất tâm huyết của
các thầy giáo, cô giáo trong khoa Quản lý Tài Nguyên đặc biệt là sự chỉ đạo
sát sao của cô giáo TS.Nguyễn Thị Lợi. Đồng thời bản thân em còn nhận
được sự quan tâm và giúp đỡ của các bác, các chú, các cô, các anh, các chị
trong TT PT.QĐ TP.Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.
Với tấm lòng biết ơn của mình bản thân em xin bày tỏ sự biết ơn vô
cùng sâu sắc và chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Quản lý Tài
Nguyên, các thầy cô giáo của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng
các bác, các chú, các cô, các anh, các chị trong Trung tâm PT.QĐ TP.Thái
Nguyên đã giúp đỡ em hoàn thành tốt nghiệp vụ thực tập được giao và có
được kết quả thực tế rất tốt đó là bản khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Huệ
1

Quốc lộ
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
THCS
Trung học cơ sở
TDTT
Thể dục thể thao
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là nguồn tài nguyên vô cùng quan
trọng của con người và mọi sự sống trên trái đất, là tài sản quốc gia có giá trị
lớn, có vị trí quan trọng đối với đời sống của từng hộ gia đình,cá nhân, là tư
liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở
2
kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Đất đai có ý nghĩa chính trị,
kinh tế, xã hội sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Nước ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, nhiều dự án như các khu công nghiệp, nhà máy, các khu đô thị mới,
khu dân cư đang được triển khai một cách mạnh mẽ. Vậy, để thực hiện các dự
án phát triển kinh tế - xã hội Nhà nước phải thu hồi một phần đất của người
dân đang sử dụng. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng là một việc hết
sức khó khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm. Bởi công tác bồi
thường giải phóng mặt bằng liên quan đến một loại tài sản có giá trị rất lớn,
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
Thực tế, qua nhiều dự án đã cho thấy công tác giải phóng mặt bằng vẫn tồn tại
nhiều bất cập.
Cùng với sự phát triển của cả nước nói chung và Thành phố Thái
Nguyên nói riêng trong những năm gần đây đã có nhiều công trình, dự án
được triển khai nhằm mục đích đẩy mạnh nền kinh tế của tỉnh, nâng cao chất

phương án đưa ra phải có tính khả thi
- Phân tích và nhận xét công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Bổ sung những kiến
thức đã học trên lớp, học hỏi, tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm ngoài
thực tế và hiểu rõ hơn về công tác quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể là công
tác bồi thường giải phóng mặt bằng những thuận lợi khó khăn khi tiến hành
dự án.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Từ quá trình nghiên cứu đề tài giúp tìm ra
những thuận lợi, khó khăn của công tác bồi thường GPMB để từ đó đưa ra
những giải pháp có tính khả thi, rút ra những bài học kinh nghiệm cho công
tác bồi thường GPMB, để thực hiện công tác bồi thường GPMB tốt hơn.
4
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở lý luận
2.1.1.1. Khái quát chung về giải phóng mặt bằng
a, Khái niệm
5
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến
việc di rời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư
trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc
xây dựng một công trình mới.
Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội
đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư
mới. Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các
dự án và liên quan trực tiếp đến các bên tham gia và của toàn xã hội.
b, Ý nghĩa
Trong điều kiện nước ta hiện nay, “ Giải phóng mặt bằng ’’ là một trong

án này và ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án khác.
- Về mặt kinh tế của dự án: Giải phóng mặt bằng thực hiện tốt giảm tối
đa các chi phí cho việc giải tỏa đền bù, có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho
các công trình khác. Giải phóng mặt bằng kéo dài dẫn đến chi phí bồi thường
lớn, không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến sự quay vòng vốn chậm gây
khó khăn cho các nhà đầu tư. Đặc biệt các nhà đầu tư trong nước có nguồn
vốn hạn hẹp thì việc quay vòng vốn là rất cần thiết để đảm bảo tận dụng cơ
hội đấu thầu của các công trình khác.
 Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Nếu công tác giải phóng mặt bằng không được thực hiện tốt sẽ xảy ra
hiện tượng “ treo’’ công trình làm cho chất lượng công trình bị giảm, các mục
tiêu ban đầu không thực hiện được, từ đó gây lãng phí rất lớn cho ngân sách
Nhà nước. Mặt khác, khi giải quyết không thỏa đáng quyền, lợi ích hợp pháp của
người có đất bị thu hồi sẽ dễ ràng gây ra những khiếu kiện, đặc biệt là những
khiếu kiện tập thể, làm cho tình hình chính trị - xã hội mất ổn định (viện nghiên
cứu địa chính, 2002)[1].
2.1.1.2. Tổng quan về chính sách bồi thường
7
a, Cơ sở lý luận về bồi thường
Khi các công trình được xây dựng nhằm phuc vụ cho mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia được triển khai thì Nhà
nước cần phải có mặt bằng để thực hiện dự án. Thế nhưng đất đai thuộc sở
hữu toàn dân, với tư cách là người quản lý, nhằm đảm bảo được lợi ích của
Nhà nước, lợi ích của nhân dân, khi đó Nhà nước sẽ đưa ra quyết định thu hồi
quyền sử dụng đất của người dân hoặc Nhà nước giao quản lý.
Theo điều 4, Luật đất đai năm 2003 “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra
quyết định hành chính để thu hồi quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao
cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã,phường, thị trấn quản lý ’’
Việc xây dựng những khu công nghiệp cho mục tiêu phát triển kinh tế,
những con đường quốc gia để phục vụ lợi ích chung là rất cần thiết nhưng

những công sở nguy nga tráng lệ, những cao ốc trọc trời là những khu nhà “ ổ
chuột” của dân lao động – công bằng và dân chủ không thể chỉ thông qua việc
hô hào mà thực tế lại không thực hiện.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Chúng ta không thể chỉ có những đô thị đẹp, hiện đại, những khu chế
xuất khổng lồ, những công trình công cộng khang trang mà kèm theo đó chỗ
ở của người dân phải được nâng cấp tiện nghi hơn, rộng rãi hơn… Chính vì
vậy phải tính một cách toàn diện, không thể có hiện tượng một công trình mới
ra đời lại kéo theo những người dân không có chỗ ở hoặc chỗ ở kém hơn nơi
ở cũ.
Nếu không nhìn rõ bản chất vấn đề, mỗi năm chúng ta có hàng ngàn dự
án cần giải phóng mặt bằng, mỗi dự án chỉ kéo theo một gia đình không có
chỗ ở thì đã có hàng ngàn gia đình thiếu chỗ ở hoặc chỗ ở tạm bợ. Như vậy là
sự phát triển thiên lệch , lợi ích quốc qia, lợi ích công cộng không hài hòa với
lợi ích cá nhân, gia đình. Từ đó mục tiêu lớn của quốc gia sẽ không đạt được.
Từ những nhận thức trên có thể giúp chúng ta hiểu được bản chất quan
trọng của vấn đề, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng nói chung và chính
9
sách bồi thường giải phóng mặt bằng nói riêng cơ bản phù hợp với nguyện
vọng chính đáng của người dân, nhưng để chính sách đi vào cuộc sống cần có
sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp có liên quan. Đồng thời cần có
sự chỉ đạo kịp thời, sự quan tâm đúng mức của những người đứng đầu các cơ
quan, tổ chức trong việc xảy ra những vướng mắc, khó khăn nhằm có những
giải pháp phù hợp cho từng khu vực, từng dự án và cả từng hộ dân trong công
tác bồi thường giải phóng mặt bằng (viện nghiên cứu địa chính, 2002) [1].
2.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
* Xuất phát từ thực tiễn nhu cầu về đất đai để phát triển cơ sở hạ tầng
phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung và của tỉnh
Thái Nguyên nói riêng vì thế công tác bồi thường giải phóng mặt bằng là rất
quan trọng là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của dự án.

đất đai;
* Thông tư 06/2007/TT – BTNMT về việc hướng dẫn thực hiện một số
điều của nghị định số 84/2007/NĐ – CP;
* Nghi định 123/2007/NĐ – CP của Chính Phủ ngày 27/7/2007 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ – CP ngày 16/11/2004 về
phương pháp xác định giá và khung giá các loại đất;
* Nghị định số 69/2009/NĐ – CP ngày 13/08/2009 của Chính Phủ Quy
định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư;
* Thông tư số 14/2008/TTLB-BTC-BTNMT ngày 31/1/2008 của Bộ Tài
Chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất,
trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và
giải quyết khiếu nại về đất đai.
11
* Thông tư 14/2009/TT – BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi
đất, giao đất, cho thuê đất.
2.1.3.2. Các văn bản của tỉnh Thái Nguyên
* Quyết định 37/2009/QĐ –UBND ngày 29/12/2009 của UBND tỉnh Thái
Nguyên về việc phê duyệt giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2010.
* Quyết định 28/2011/QĐ – UBND ngày 20/06/2011 của UBND tỉnh
Thái Nguyên về việc ban hành đơn giá bồi thường cây cối, hoa màu gắn liền
với đất khi nhà nước thu đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
* Quyết định 01/2010/QĐ – UBND ngày 05/01/2010 của UBND tỉnh
Thái Nguyên về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
* Quyết định 15/2012/QĐ – UBND ngày 11/07/2012 của UBND tỉnh
Thái Nguyên về việc ban hành đơn giá bồi thường nhà, công trình kiến trúc

2.2.2. Đặc điểm công tác giải phóng mặt bằng
Bồi thường GPMB là quá trình đa dạng và phức tạp, nó thể hiện sự khác
nhau giữa các dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia
và lợi ích của toàn xã hội. Chính vì vậy, công tác bồi thường GPMB có các
đặc điểm sau:
- Tính đa dạng: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau
với điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và trình độ dân trí nhất định. Đối với
khu vực nội thành, nội thị, mức độ tập trung cao, ngành nghề của dân cư đa
dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến công tác GPMB có đặc trưng
nhất định. Đối với khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành
nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, thương mại, dịch vụ… quá trình GPMB cũng có những đặc
trưng riêng của nó. Đối với khu vực ngoại thành hoạt động sản xuất chủ yếu
của dân cư là sản xuất nông nghiệp, do đó GPMB cũng được tiến hành với
những đặc điểm riêng biệt.
13
- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân. Ở khu vực nông thôn
thì dân cư chủ yếu sống vào hoạt động nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu
sản xuất trong khi trình độ sản xuất lại thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp
lại rất khó khăn, do đó tâm lí của người dân vùng này là giữ đất để sản xuất,
thậm chí họ cho thuê đất còn thu được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ
vẫn không cho thuê. Mặt khác do tập quán canh tác và sinh hoạt nên đa phần
người dân đều không muốn mất đi mảnh đất cha ông để lại. Tình hình đó đã
dẫn đến công tác tuyên truyền vận động dân cư tham gia di chuyển là rất khó
khăn. Bên cạnh đó công tác kiểm kê, định giá để bồi thường, hỗ trợ gặp
nhiều khó khăn do các tài sản như công trình, vật kiến trúc gắn liền với đất rất
đa dạng. Chính vì vậy khi thực hiện công tác bồi thường GPMB cần có sự
phối hợp hài hòa giữa các cấp chính quyền, các ban ngành đoàn thể có liên
quan và người dân. Cần áp dụng kịp thời những chính sách của Nhà nước để

6. Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi bị thu hồi
đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp
luật thì phải trừ đi nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong giá được bồi
thường, hỗ trợ.
7. Chính phủ quy định việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu
hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất [2].
2.2.3. Những yếu tố tác động đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
Trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng có nhiều yếu tố tác
động, các yếu tố này có thể phần nào thúc đẩy công tác GPMB diễn ra thuận
lợi hoặc có thể gây cản trở tiến độ bồi thường GPMB, đó là những yếu tố sau:
- Tác động của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Tác động của công tác cho thuê đất, giao đất.
- Đăng kí đất đai lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý hợp đồng sử
dụng đất, thống kê kiểm kê đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra công tác quản lý nhà nước về đất đai và tổ chức
thực hiện.
- Giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử
dụng đất đai.
15
2.2.4. Đối tượng và điều kiện được đền bù
a, Đối tượng được đền bù theo quy định của pháp luật
Tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, cá nhân trong
nước, ngoài nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức đang sử
dụng đất bị Nhà nước thu hồi (gọi chung là người bị thu hồi đất) được đền bù
thiệt hại về đất khi bị thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng,
lợi ích công cộng phải là người có đủ điều kiện được đền bù thiệt hại về đất.
Người được đền bù thiệt hại về tài sản trên đất phải là người sử dụng hợp
pháp tài sản đó, phù hợp với quy định của pháp luật.
b, Điều kiện được đền bù thiệt hại.
* Điều kiện được đền bù thiệt hại về đất.

- Tài sản gắn liền với đất được tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất
được công bố thì không được bồi thường.
- Chủ sử dụng tài sản là người có tài sản trên đất hợp pháp khi Nhà nước thu
hồi đất mà bị thiệt hại thì được đền bù thiệt hại theo giá hiện có của tài sản [2].
2.3.Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên thế giới
2.3.1. Tình hình thực hiện cơ chế giải phóng mặt bằng ở trung quốc
Trung Quốc là một đất nước nông nghiệp. Sau cách mạng giải phóng dân
tộc (năm 1949), Trung Quốc tiến hành cải cách ruộng đất, đưa ruộng đất cho
nông dân, Trung Quốc tiến hành phong trào tập thể hoá nông nghiệp. Đất đai
và những tư liệu sản xuất chủ yếu ở nông thôn được tập thể hoá.
Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá mở cửa đặt ra hàng loạt vấn đề
mới mẻ về quản lí đất đai đô thị, xây dựng cơ sở đầu tư nước ngoài v.v…
Chính phủ Trung Quốc đã có những quy định mới về chính sách và pháp
luật để giải quyết các nhu cầu trên.
Do yêu cầu của đô thị hoá và mở mang công nghiệp dịch vụ, một phần
đất vốn được sử dụng vào kinh doanh nông nghiệp buộc phải chuyển mục
đích sử dụng. Vì lợi ích công cộng, Nhà nước có thể tiến hành trưng dụng
theo pháp luật đối với đất đai thuộc sở hữu tập thể. Tiết kiệm đất, sử dụng đất
17
đai hợp lí, bảo vệ thiết thực đất canh tác là quốc sách cơ bản của Trung Quốc,
khi trưng dụng đất Nhà nước bỏ ra một khoản tiền đền bù cho cá nhân, tập thể
có đất bị trưng dụng.
Với hình thức sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể về đất đai, mục tiêu
bao trùm của chính sách bồi thường và tái định cư ở Trung Quốc là hạn chế
tối đa việc thu hồi đất cũng như số người chịu ảnh hưởng bởi dự án. Trong
trường hợp không thể tránh khỏi việc tái định cư sẽ được chuẩn bị thành
chương trình cụ thể đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng được bồi
thường và hỗ trợ đầy đủ trong đó đã tính đến lợi ích của cả ba bên là Nhà
nước, tập thể, cá nhân.
Công tác bồi thường và tái định cư ở Trung Quốc những năm gần đây

đầy đủ, phù hợp, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất rất năng động,
khoa học cùng với một Nhà nước pháp quyền vững chắc, năng lực thể chế của
chính quyền địa phương theo thẩm quyền có hiệu lực cao, người dân có ý
thức pháp luật nghiêm minh, nhân dân tin tưởng vào chế độ tốt đẹp của Nhà
nước xã hội chủ nghĩa. (Viện nghiên cứu địa chính, 2002) [1].
2.3.2. Tình hình thực hiện cơ chế giải phóng mặt bằng ở úc
Từ khi người dân Châu Âu đến định cư tại Úc, Nữ Hoàng nắm giữ toàn
bộ đất đai. Quyền sở hữu đất phụ thuộc vào sự ban phát của Nữ Hoàng cho
người nắm giữ và người sử dụng. Trong khi ban phát Nữ Hoàng thường có
những điều khoản riêng, quyền lấy lại một phần đất cho các mục đích công
cộng. Mọi sự thu hồi đất của tư nhân cho Nữ Hoàng và cơ quan chức trách
tiến hành đều phải căn cứ theo luật định.
Quốc hội của bang và vùng lãnh thổ có quyền ban hành luật nhằm sung
công bất động sản.
Theo hiến pháp Úc chính quyền liên bang (Chính Phủ) có quyền ban
hành các luật từ việc thu hồi bất động sản theo những điều khoản chính đáng
từ bất kỳ bang hoặc cá nhân nào mà Quốc hội có quyền ban hành luật.
19
Cơ quan chức trách có thể thu hồi lại đất đai bằng hai cách: thỏa thuận tự
nguyện và cưỡng chế bắt buộc (Viện nghiên cứu địa chính, 2002) [1].
2.3.3. Tình hình thực hiện cơ chế giải phóng mặt bằng ở Thái Lan
Mặc dù chưa có chính sách bồi thường và tái định cư của mỗi quốc gia
nhưng Hiến pháp 1982 quy định việc trưng dụng đất cho xây dựng cơ sở hạ
tầng quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị,
cải tạo đất đai và các công trình công cộng khác phải theo thời giá thị trường
cho những người hợp pháp về tất cả các thiệt hại do việc trưng dụng đất gậy
ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và
người có quyền thừa kế tài sản đó. Dựa trên các quy định này, các ngành có
quy định chi tiết cho việc trưng dụng đất cho ngành mình.
Năm 1987, Thái Lan ban hành luật trưng dụng về bất động sản áp dụng cho

2.4.1.1. Công tác giải phóng mặt bằng ở Hà Nội
Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện đang có rất nhiều dự án liên quan
đến công tác bồi thường GPMB. Theo ban chỉ đạo GPMB thành phố Hà Nội,
năm 2012, trong tổng số 1.209 dự án liên quan đến GPMB, thành phố đã hoàn
thành GPMB hơn 1.961 ha đất tại 353 dự án chi trả hơn 14.296 tỷ đồng tiền
bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư cho 1.826 hộ dân (Viện nghiên cứu địa
chính, 2002)[1].
Hiện nay, hầu hết các dự án đều diễn ra chậm so với tiến độ với nhiều
nguyên nhân khác nhau: theo nhà đầu tư thì một trong những khó khăn vướng
mắc của công tác GPMB là chưa điều tra nguồn gốc đất để lập phương án bồi
thường.
Việc chậm tiến độ các dự án không chỉ do vướng mắc về cơ chế, chính
sách dẫn tới thắc mắc, khiếu kiện của người dân trong diện di dời mà còn có
nguyên nhân từ sự phối hợp giữa chủ đầu tư với sở, ngành và các chính quyền
địa phương chưa chặt chẽ, Cán bộ ở một số nơi vẫn chưa làm hết trách nhiệm.
2.4.1.2. Công tác giải phóng mặt bằng ở TP Hồ Chí Minh
21
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có nhiều dự án giao thông
trọng điểm như mở rộng xa lộ Hà Nội, tỉnh lộ 10, đường vành đai 2, … Theo
báo cáo tiến độ dự án trọng điểm của sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí
Minh trong quý 1 năm 2012, nhiều dự án đang thi công dở dang nằm ở cửa
ngõ thành phố bị vướng mặt bằng.
Công tác bồi thường GPMB tuyến đường mở rộng xa lộ Hà Nội , thành
phố Hồ Chí Minh:
- Dự án mở rộng xa lộ Hà Nội do Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng kỹ
thuật thành phố Hồ Chí minh làm chủ đầu tư. Xa lộ mở rộng có tổng chiều dài
là 15,7 km và tổng mức đầu tư là 2.268 tỷ đồng, với điểm đầu nối với dự án
cầu Sài Gòn 2, điểm cuối tại nút giao thông Tân Vạn, kết nối với dự án cầu
Đồng Nai mới. (nguồn:trang thông tin moitruongxanhhcm.org.vn)[19].
- Dự án mở rộng xa lộ Hà Nội đang gặp rất nhiều vướng mắc về GPMB,

phương tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, mỗi công trình xây dựng, mỗi dự án
muốn được triển khai nhanh chóng và có hiệu quả cao thì vấn đề đặc biệt cần
quan tâm giải quyết trước là công tác GPMB.
Xác định được nhiệm vụ đó, ngay từ ngày đầu thực hiện Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2010-2015, Đảng ủy tỉnh Vĩnh Phúc đã xác định: muốn
công tác GPMB có hiệu quả thì trước nhất phải phát huy được tinh thần tự giác
trong nhân dân, làm tốt quy chế dân chủ, tuyên truyền để nhân dân hiểu và tự
nguyện bàn giao mặt bằng cho các dự án. Đảng ủy tỉnh Vĩnh Phúc đã công
khai các Nghị quyết liên quan đến công tác GPMB, quy hoạch đất đai hàng
năm. Đồng thời thành lập Ban chỉ đạo thực hiện công tác GPMB ở địa phương.
Việc GPMB cho các dự án đầu tư vào địa phương nhiều lúc không thể
thực hiện được theo dự án nêu trên. Nguyên nhân chính là sự hạn chế trong
nhận thức của bộ phận một số người dân trong địa bàn xã. Họ cho rằng: mảnh
ruộng mà họ sống chung cả đời sẽ bị mất đi khi bàn giao cho dự án, cho nên
nhiều người mặc dù đã nhận tiền đền bù đất, không những không bàn giao đất
mà luôn đòi hỏi về chế độ hỗ trợ đất, dịch vụ, đòi tăng giá đền bù, tăng hạng
23
đất. Đó là những bất cập khó giải quyết mà công tác GPMB gặp phải khi tiếp
xúc người dân, trước tình hình đó lãnh đạo Đảng ủy, UBND cấp xã đã giải
quyết bằng cách xuống các thôn trực tiếp đối thoại với người dân, giải thích
rõ cho họ hiểu về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về
việc bảo vệ quyền, lợi ích của nhân dân trong tiến trình phát triển KT-XH ở
địa phương. Bằng nhiều hình chính sách tuyên truyền, vận động đã dần dần
thay đổi được nhận thức của người dân. Thực tế cho thấy người dân đã tự giác
bàn giao đất cho chủ đầu tư dân (Viện nghiên cứu địa chính, 2002)[1].
2.4.3. Tình hình bồi thường giải phóng mặt bằng ở Thái Nguyên.
Trong những năm qua Tỉnh ủy, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm đến công
tác bồi thường, GPMB các dự án; xác định nhiệm vụ GPMB được ưu tiên
hàng đầu để phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Kết quả thực
hiện GPMB trong thời gian qua được Tỉnh ủy và UBND tỉnh đánh giá cao.

chức. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khoảng 546.455.014 đồng;
Nhìn chung các dự án đều được triển khai đúng tiến độ thời gian. Các
nhà đầu tư cơ bản có năng lực, đáp ứng được yêu cầu theo quy định của
UBND tỉnh về quy chế quản lý các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.
25

Trích đoạn Đánh giá sự ảnh hưởng đến đời sống của người dân chịu sự tác động của dự án Đặc điểm điều kiện tự nhiên. Đặc điểm điều kiện kinh tế xã hội. Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Khái quát về dự án nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status