Tạp chí
Đại học Sài Gòn
Số 4 Nguyễn Trãi, Phường 3, Quận 5, TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.38321332 - 08.38321360 - Fax: 08.39381910
Email: - Website: www.sgu.edu.vn
Số 14
4/2013
ISSN 1859 - 3208 Tổng Biên tập
ThS.NB. Trịnh Viết Tồn
Phó Tổng Biên tập
PGS.TS. Võ Văn Lộc
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP
Chủ tòch
PGS.TS. Nguyễn Viết Ngoạn
Phó Chủ tòch
PGS.TS. Nguyễn Khắc Hùng
Thư kí
TS. Phạm Ngọc Hiền
Giấy phép hoạt động báo
chí
số:1120/GP- BTTTT,
ngày
12/8/2008 của Bộ trưởng
Bộ
Thơng tin và
Truyền
thơng
.
°
ĐINH VĂN SƠN °
HỒ THỊ THANH THUỶ °
NGUYỄN THỊ THUỲ LINH
LÊ NGỌC TUẤN
°
HỒ VĂN HẢI
NGUYỄN KIÊN QUYẾT°
LÊ KIÊN GIANG °
HOA ÁNH TƯỜNG
Hồ Chí Minh đến mơi trường, đề xuất
các biện pháp phát huy và giảm
thiểu
Đánh giá tác động nước dâng do
biến đổi khí hậu đến dải ven biển
tỉnh Khánh Hồ
Tiếp cận xây dựng chi phí xử lý chất
thải rắn cơng nghiệp ngành kim loại
và gia cơng cơ khí tại thành phố Hồ
Chí Minh
Học phí: một cơng cụ hỗ trợ cho cơng
tác đánh giá kết quả học tập của sinh
viên theo học chế tín chỉ
Đánh giá thể lực sinh viên đầu vào
Trường Đại học Sài Gòn theo Quyết
định 53/2008/QĐ-BGD&ĐT của Bộ
Giáo dục và Đào tạo
Bàn về “Đổi mới phương pháp dạy
học” nhìn từ góc độ nhà thực hành Vấn đề xác định thị trường liên
quan trong luật cạnh tranh tại
Việt Nam: những bất cập của
phương pháp SSNIP CONTENT
DINH VAN SON
Indefinite words in Vietnamese
language -
Meaning and Use
HO THI THANH THUY
On some significant motifs in Luu
PHAM HONG NHAT
LE VAN TAM
NGUYEN PHU BAO
Evaluate the impacts of the flood
control projects in the Ho Chi Minh
City on the environment and
propose some solutions to
enhance the positive impacts and
mitigate the negative ones
NGUYEN KY PHUNG
BUI CHI NAM Evaluate the impacts of sea level
rise caused by the climate change
on the coastal area of Khanh Hoa
Province
NGUYEN THI THUY LINH
LE NGOC TUAN
The approach of setting the charge
of the industrial solid waste
treatment in the mechanical
Executors
VO VAN TAN
VO QUANG MAI
NGUYEN TAN PHUOC
The research on preparing
Europium-doped TiO
2
and
experimenting its photo-catalytic
activity
HOANG THI NGHIEP The research on the biological
characteristics and the
experimental breeding of Enhydris
bocourti (Gray, 1842) in Dong Thap
Province
NGUYEN THUY LINH
Restructuring the electricity in the
electrical market of Vietnam
indefinite words such as indefinite determiner, indefinite pronoun, indefinite quantifier and
indefinite article.
Key words: indefinite word, determiner, pronoun, quantifier, article.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ phiếm định là “từ chỉ chung chung, không rõ ràng, cụ thể người nào, sự vật nào”
[7, tr. 752]. Lớp từ này xưa nay ít nhiều đã được đề cập đến trong hầu hết các sách ngữ pháp
tiếng Việt, nhưng công trình xem xét đầy đủ về nó thì từ trước tới nay chưa có. Do vậy, việc
nghiên cứu từ phiếm định trong tiếng Việt một cách đầy đủ và có hệ thống sẽ rất có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn. Điều đó không những góp phần vào việc nghiên cứu ngữ nghĩa và ngữ
pháp của một loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt mà còn đóng góp tích cực vào những
công việc mang tính thực tiễn sâu sắc hơn như: dịch thuật giữa các ngôn ngữ, biên soạn các
loại tự điển, sách giáo khoa, giáo trình
2. Ý NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG CỦA CHỈ ĐỊNH TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
Chỉ định từ phiếm định là một tiểu loại của chỉ định từ, là “từ dùng để chỉ định danh
từ, bằng cách thêm một ý về hoàn cảnh đặc biệt của những người hay sự vật do danh từ mệnh
danh” [10, tr. 256]. Do vậy, cách dùng này cũng không nằm ngoài cách dùng của chỉ định từ.
Thế nhưng chỉ định từ phiếm định cũng là một tiểu loại của từ phiếm định, mà từ phiếm định
là từ chỉ chung chung, không cụ thể. Do vậy, chỉ định từ phiếm định phải là từ được dùng để
“chỉ định một danh từ bằng cách thêm vào ý nghĩa của danh từ ấy một ý khái quát (để nói
trổng, không chỉ cái gì rõ rệt)”[10, tr. 266].
• BẤT CỨ (KÌ)
Hoàng Phê cho rằng bất cứ (kì) là từ “biểu thị ý không có điều kiện nào kèm theo cả,
không loại trừ trường hợp cụ thể nào cả” [7, tr. 48]. Khi nó chỉ định cho danh từ, nó làm cho
danh từ này mang tính khái quát. Ví dụ:
(*)
ThS, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
2
(1) Hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp để đập phá đốt nhà hay lăn ra kêu làng nước
186].
Từ kia trong câu này không phải là chỉ định từ phiếm định vì nó có một ý nghĩa về vị
trí trong không gian (cái bờ sông mà ta đang thấy trước mặt). Do vậy, nó phải là một chỉ định
từ chỉ định.
• NÀO
Giống như gì, nào cũng là chỉ định từ nghi vấn biến dị thành chỉ định từ phiếm định.
Nó được dùng để chỉ định cho danh từ đứng trước nhưng nó không cho biết cụ thể người nào,
vật nào Ví dụ:
(6) Chú nào biết thì tôi khen thưởng [6, tr. 85].
Từ nào trong câu này chỉ định cho từ chú, nhưng nó không xác định rõ là chú nào cả.
3
Cả gì và nào cùng chỉ định cho danh từ, nhưng cũng có sự khác biệt đôi chút giữa
chúng. Xét các ví dụ sau:
(7a) … nhà văn nào ưa cãi cọ với ông chủ báo, ưa tranh giành quyền lợi cấp thời vụn
vặt thì chẳng bao giờ tiến xa [6, tr. 77].
(7b)* … nhà văn gì ưa cãi cọ với ông chủ báo, ưa tranh giành quyền lợi cấp thời vụn
vặt thì chẳng bao giờ tiến xa.
(8a)* Tiếng nào như tiếng giặc tấn công
(8b) Tiếng gì như tiếng giặc tấn công [4, tr. 77].
Câu (7a) và (8b) là những câu chấp nhận được trong khi đó câu (7b) và (8a) thì không.
Vì sao lại có hiện tượng này? Trong câu (7a), danh từ nhà văn đã được hạn định. Đó là những
nhà văn ưa cãi cọ với ông chủ báo, ưa tranh giành quyền lợi cấp thời vụn vặt chứ không phải
chỉ hết tất cả những nhà văn. Do vậy, việc sử dụng từ nào chứ không phải từ gì trong câu này
là thoả đáng. Ở câu (8b), từ tiếng không hề bị giới hạn cho nên sử dụng từ gì sẽ hợp lí hơn từ
nào. Như vậy, phạm vi chỉ định của từ nào hẹp hơn phạm vi chỉ định của từ gì. Hay nói cách
khác, từ nào được dùng khi ta nói về sự không xác định trong những đối tượng đã biết. Còn
từ gì nói về tính không xác định hoàn toàn, tuyệt đối.
Trong phương ngữ Trung bộ, mô được dùng thay cho nào. Do đó, có thể thay thế nào
bằng mô trong những câu có sử dụng nào.
Mặt khác, ai cũng có thể được dùng ở ngôi thứ hai số ít lẫn số nhiều. Xét các ví dụ sau
đây:
(12) Ai ơi đợi với em cùng
Thân em nay Bắc mai Đông một mình. [Ca dao VN]
Ai trong câu ca dao này ở ngôi thứ hai số ít. Đó là từ mà người con gái dùng để gọi
người con trai: hãy cho em đi cùng vì thân gái một mình hiu quạnh và cô đơn lắm anh ơi,
nhưng chưa xác định rõ người con trai nào cả.
(13) Ai có dao dùng dao, có mác dùng mác, mỗi người dân là một người lính, mỗi
thước đất là một chiến hào, sẵn sàng hi sinh bảo vệ nền độc lập cho Tổ quốc! [4, tr. 24].
Ai trong câu này ở ngôi thứ hai số nhiều. Nó chỉ hết tất cả những người dân Việt Nam
yêu nước, những người với những vũ khí thô sơ nhưng vẫn sẵn sàng hi sinh tấm thân mình để
bảo vệ nền chủ quyền đất nước trước sự xâm lược của bọn giặc ngoại xâm. Truyền thống yêu
nước này của người Việt Nam cứ truyền mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác.
• KẺ
Bùi Đức Tịnh khẳng định rằng kẻ vốn là một danh từ. Khi được sử dụng như một đại
từ phiếm định, nó không chỉ cụ thể ai, người nào. Ví dụ:
(14) Thỉnh thoảng, cánh cửa sắt ngoài cổng như khua động, ngân lên, ông đoán chừng
gió thổi mạnh, bản lề cửa không khít khao, hoặc kẻ nào muốn tìm nơi ẩn núp qua cơn mưa đã
dựa lưng vào [6, tr. 197].
Đôi khi, kẻ cũng được dùng để chỉ người hoặc những người không cụ thể nhưng hàm
ý coi thường, khinh khi. Ví dụ:
(15) Thời buổi kim tiền này, người ta không thể quan niệm được một kẻ có tài nhưng
làm không ra tiền [6, tr. 91].
Kẻ có thể được đặt sau những từ vốn cũng là những từ phiếm định như: nhiều,
những Ví dụ:
(16) Có nhiều kẻ mừng thầm [1, tr. 47].
Kẻ có thể giữ vai trò làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trong câu. Ví dụ:
(17) Kẻ
1
mạnh chính là kẻ
3.2. Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định chỉ vật
• GÌ
Gì được dùng để chỉ “sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó không rõ.” [7, tr. 366].
Thường xuất hiện từ cũng theo sau gì trong câu trần thuật khẳng định. Ví dụ:
(22) Thấy tía nuôi tôi làm gì, tôi cũng bắt chước làm theo như vậy [4, tr. 217].
Từ gì trong câu này không chỉ một sự việc cụ thể nào cả.
Gì cũng xuất hiện trong câu trần thuật phủ định để chỉ một sự vật, một hiện tượng nào
đó không cụ thể.
(23) Trong hiện tại, rừng tràm chẳng còn gì [6, tr. 302].
Trong ngôn ngữ văn học cũng như trong sinh hoạt đời thường, từ cái thường hay xuất
hiện trước gì. Chẳng hạn:
(24) Con thì cái gì cũng hỏi [4, tr. 219].
Gì thường đảm nhận chức năng chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu. Ví dụ:
(25) Tôi bước đến gần, nhìn vào họ xem họ đang làm gì [4, tr. 97] (gì: bổ ngữ).
• NÀO
Hoàng Phê quan niệm rằng nào là từ được dùng để chỉ “bất cứ cái nào trong cùng một
tập hợp những cái cùng loại” [7, tr. 636]. Nó thường hay đi kèm với từ cũng.
(26) Thấy người, con nào cũng há họng ra, toan đớp [4, tr. 201].
→ Chưa xác định cụ thể con nào cả.
Không giống như gì có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ trong câu, nào chỉ làm định ngữ trong
câu mà thôi. Ví dụ:
(27) Gần khắp mặt biển Thái Bình Dương, cảng nào anh cũng có tới [4, tr. 92].
→ Chưa có một cái cảng cụ thể nào được xác định ở đây cả.
3.3. Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định chỉ người lẫn vật
Hoàng Phê chỉ ra rằng nấy thường được dùng kết hợp với các từ như: ai, gì, nào đứng
trước để chỉ chính cái vừa mới được đề cập trước đó. Thế nhưng những cái vừa mới được
nhắc đến đều là những cái phiếm định. Do vậy, nấy cũng được dùng để chỉ những cái phiếm
định. Theo khảo sát của chúng tôi, nấy có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ và định ngữ trong câu. Ví
dụ:
6
nó chỉ “khoảng thời gian nào đó không muốn nói rõ ra hoặc bất kì khoảng thời gian nào” [7,
tr. 34]. Nó thường được dùng trong các câu trần thuật và đảm nhận vai trò làm trạng ngữ
trong câu. Ví dụ:
(34) Bao giờ có một điều bất thường, một biến cố gì vừa xảy ra thì tức khắc bọn trẻ
con kéo đến đó ngay [4, tr. 234].
Từ bao giờ trong câu này chỉ một khoảng thời gian bất kì, không xác định.
Trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, bao giờ được dùng để chỉ một sự việc rất khó có thể
xảy ra hoặc không bao giờ xảy ra.
(35) Bao giờ rau diếp làm đình,
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta. [Ca dao VN]
→ Việc mình lấy ta là việc rất khó xảy ra nếu không muốn nói là không thể.
3.6. Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định chỉ sự tình
Sao được dùng để chỉ sự tình, phương thức, cách thức nào đấy mà chưa được xác định
rõ ràng. Với ý nghĩa phiếm định này, sao thường xuất hiện trong các câu trần thuật và làm
chức năng trạng ngữ. Chẳng hạn:
(36) Đời sao kì cục, khó nói quá, muốn nói thì cũng không biết sao mà nói [6, tr. 114].
7
Từ sao trong câu này được dùng để chỉ một cách thức nhưng đó là cách thức chung
chung, không cụ thể.
4. Ý NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG CỦA LƯỢNG TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê quan niệm rằng lượng từ phiếm định là loại
lượng từ được dùng để “trỏ lượng phiếm định, nhiều hay ít” [2, tr. 323]. Hay nói cụ thể hơn,
lượng từ phiếm định chỉ một cách khái quát về số lượng chứ nó không cho biết chính xác là
bao nhiêu. Trong tiếng Việt, lượng từ phiếm định có cách dùng hết sức đa dạng. Một số có
cách dùng của chỉ định từ phiếm định, số khác có thể được dùng như đại từ phiếm định và
cũng có một số được dùng như cả chỉ định từ phiếm định lẫn đại từ phiếm định.
4.1. Lượng từ phiếm định chỉ số lượng ít
• CHÚT
Chút là từ chỉ một lượng rất nhỏ, rất ít, gần như không đáng kể. Nó có chức năng của một
Ít nhiều là từ chỉ số lượng không nhiều thì ít nhưng chắc chắn là có. Nó thường được
dùng để chỉ định cho các danh từ trong câu. Ví dụ :
(42) nhưng nếu anh lại về sống hẳn ở Thủ đô, giao thiệp với ít nhiều nhà văn khác,
anh sẽ không phải là bạn anh Hoàng nữa [1, tr. 117].
Ít nhiều trong câu này chỉ định cho danh từ nhà văn nhưng nó cũng không cho biết số
lượng chính xác là bao nhiêu.
• MẤY
Mấy là từ chỉ số lượng nào đó không nhiều chỉ khoảng trên dưới năm ba và được
dùng để chỉ định cho các danh từ đếm được trong câu. Ví dụ:
(43) Chắc là nướng trọn mấy đồng bạc của người ta nhờ lão đưa trả cho tôi rồi [4, tr.
55].
→ Chưa ai biết chính xác là lão ta đã nướng hết bao nhiêu đồng bạc rồi.
Mấy còn có chức năng làm vị ngữ như một đại từ phiếm định. Ví dụ:
(44) Và năm chục đồng bạc với mình là mấy [1, tr. 23].
• MỘT CHÚT
Từ này chỉ một lượng nào đó thôi nhưng không đáng kể. Nó cũng được dùng để chỉ
định cho danh từ trong câu. Ví dụ:
(45) Không có lấy nhẹ cho đỡ bức [4, tr. 56].
Trong câu này, một chút chỉ định cho danh từ gió nhưng nó không cho biết số lượng
cụ thể.
• MỘT ÍT
Giống như một chút, một ít cũng chỉ một lượng rất nhỏ nào đó, không đáng kể. Nó
thường được dùng như chỉ định từ phiếm định trong câu. Ví dụ:
(46) có lần thị xin của hắn một ít rượu để về bóp chân [1, tr. 31].
→ Chưa ai biết chính xác lượng rượu mà bà ấy đã xin nhưng chắc hẳn là một lượng
rất nhỏ.
• MỘT SỐ
Một số là từ chỉ số lượng ít, phiếm định. Nó được dùng như chỉ định từ phiếm định để
chỉ định cho danh từ trong câu. Nó chỉ xuất hiện trước danh từ đếm được mà thôi.
(47) Tôi khó chịu chính vì thấy đến tận cùng lúc ấy mà vẫn còn một số nhà văn Việt
là bao nhiêu.
• TỪNG
Giống như mỗi, từng cũng được sử dụng như chỉ định từ phiếm định trong câu để chỉ
cá thể riêng lẻ nhưng không phải một cá thể cụ thể mà là một cá thể bất kì trong một tập hợp
đã được tiền giả định. Từng đi trước các danh từ đếm được. Ví dụ:
(53) Từng đàn cò bay vùn vụt theo mây, ngửa mặt trông theo gần như không trông kịp
[4, tr. 47].
Trong câu này, chưa có đàn cò cụ thể nào được xác định.
• VÀI
Vài là từ chỉ số lượng ít, không xác định, khoảng chừng hai, ba. Trong câu, nó được
dùng trước danh từ đếm được để chỉ định cho danh từ này.
(54) Cậu từng gặp ba tôi vài lần [6, tr. 183].
→ Chưa xác định được lần nào cả.
• Vài ba
Vài ba cũng chỉ số luợng không nhiều, khoảng chừng hai hoặc ba. Nó chỉ định cho
các danh từ đếm được trong câu .Ví dụ:
(55) Vài ba người mặc theo thời trang phổ biến ở Sài Gòn [6, tr. 303].
→ Chưa xác định được bao nhiêu người cả.
10
4.2. Lượng từ phiếm định chỉ số lượng nhiều
• CẢ
Cả là từ chỉ “số lượng thành phần ở mức tối đa, không sót một thành phần nào” [7, tr.
95]. Trong câu, cả được sử dụng như chỉ định từ phiếm định lẫn đại từ phiếm định. Ví dụ:
(56) Cả nhà nó ra ngoài Hòn Nghệ mua bán gì đó, buôn lậu lặt vặt không chừng [6, tr.
314]. (Cả: chỉ định từ phiếm định)
Từ cả trong câu này chỉ định cho danh từ nhà. Nó chỉ hết tất cả mọi thành viên trong
nhà này.
• ĐA SỐ
Đây là từ chỉ số đông phiếm định trong một tập hợp người. Nó có thể được sử dụng
Đây là từ chỉ số lượng lớn. Trong câu, nó có cách dùng tương tự như chỉ định từ
phiếm định. Không giống như mọi, nhiều có thể đi trước danh từ đếm được cũng như không
đếm được.
(62) Nhiều thằng bạn bây giờ tánh tình không như xưa [6, tr. 165] (Thằng bạn: danh
từ đếm được).
→ Chưa xác định được bao nhiêu người bạn cả.
• PHẦN ĐÔNG
Phần đông chỉ số lượng phiếm định, nhưng rõ ràng là đa số trong một tập hợp người.
Nó có thể làm chủ ngữ hoặc chỉ định cho danh từ trong câu. Ví dụ:
(63) Tôi gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn
nhục một cách đáng thương [1, tr. 124]. (phần đông: chủ ngữ)
Trong câu này, phần đông chỉ số lượng nhiều, nhưng nó không cho biết chính xác là
bao nhiêu.
• PHẦN LỚN
Đây là từ chỉ số lượng phiếm định, nhưng rõ là một số lượng lớn trong tổng số. Nó có
thể đứng trước những và có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ hay chỉ định cho danh từ đứng sau nó.
Ví dụ:
(64) Thân người quá cố chẳng còn mấy ai, phần lớn đã di tản [6, tr. 155] (phần lớn:
chủ ngữ).
→ Chưa xác định cụ thể có bao nhiêu người đã di tản.
• PHẦN NHIỀU
Giống như nhiều, phần nhiều cũng chỉ số lượng lớn phiếm định. Nó có thể được sử
dụng như một đại từ phiếm định trong câu. Ví dụ:
(65) những kẻ tự tử chẳng may phần nhiều không mấy ai thoát chết cả [8, tr. 95].
Trong câu này, chưa ai biết được có bao nhiêu người tự tử không thoát chết.
• Rất nhiều
Nếu như nhiều chỉ số lượng lớn thì rất nhiều lại chỉ số lượng lớn hơn. Rất nhiều
thường đi trước các danh từ để chỉ định cho các danh từ này. Ví dụ:
(66) Rất nhiều người bắt tay Văn Minh và nhân đó bắt tay Xuân Tóc Đỏ nữa [8, tr.
(71) Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn” [8, tr. 125].
→ Chưa biết được chính xác có bao nhiêu anh như thế.
4.3. Lượng từ phiếm định chỉ số lượng không rõ nhiều hay ít
• BAO NHIÊU
Bao nhiêu chỉ lượng nào đó không rõ nhiều hay ít. Nó có thể làm bổ ngữ cho động từ
hoặc chỉ định cho danh từ đứng sau nó. Chẳng hạn:
(72) ở xó nhà ấy, muốn rót bao nhiêu thì rót, để yên cho hắn ngủ [1, tr. 31] (bao
nhiêu: bổ ngữ).
→ Chưa xác định được số lượng rượu là bao nhiêu.
5. Ý NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG CỦA QUÁN TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
• CÁC
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê lí giải rằng các vốn có nghĩa là mỗi người,
mỗi vật. Từ nghĩa mỗi người, mỗi vật, các chuyển sang nghĩa mọi người, mọi vật, tức mang
nghĩa số nhiều. Ngoài ra, các còn có thuộc tính chỉ biệt nữa. Do vậy, các chỉ được sử dụng
như một quán từ phiếm định mà thôi.
(73) Đèn măng-sông trong các hiệu buôn, các tiệm ăn của người Hoa kiều thắp lên
sáng rực [4, tr. 4].
Trong câu này, các đi trước các danh từ hiệu buôn, tiệm ăn để chỉ định cho các danh
từ này một cách khái quát.
• MỘT
13
Một có đặc điểm là mang lại ý nghĩa khái quát, chung chung, không cụ thể, rõ ràng
cho danh từ đứng sau nó. Chẳng hạn:
(74) Một hôm má nuôi tôi thở dài, bàn với tía nuôi tôi như vậy [4, tr. 192].
Không có hôm nào cụ thể được xác định ở đây. Sở dĩ có hiện tượng này là do đặc
điểm của quán từ phiếm định một quy định.
• NHỮNG
Những là một từ định lượng số nhiều không chỉ biệt hay nói cách khác là một quán từ
phiếm định số nhiều. Nó thường hay xuất hiện trước các danh từ để chỉ định cho các danh từ
(*)
TÓM TẮT
Mô típ dùng để chỉ những yếu tố đơn giản nhất nhưng có ý nghĩa trong cấu tạo đề tài, cốt
truyện của tác phẩm nghệ thuật. Đó là những yếu tố, những bộ phận lớn hay nhỏ đã được hình
thành ổn định bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật. Trong văn
xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư thời kì trước 1945, mô típ khá đa dạng. Nhân vật của ông ngoái tìm
dĩ vãng để hướng đến tương lai tươi sáng; tìm đến tình yêu tự do, cao cả nhưng ái tình là bể khổ;
sống trong buổi giao thời để rồi nổi loạn nửa vời; cuối cùng họ tìm về thiên nhiên để ru dịu tâm
hồn.
Từ khoá: mô típ, văn xuôi, ngoái tìm dĩ vãng, ái tình là bể khổ, nổi loạn nửa vời, tìm về
thiên nhiên
ABSTRACT
Motif is all the simplest elements, but it makes sense in the structure of artwork’s subject
and plot. It’s the factors, large and small parts – they have been formed stably and sustainably,
and used more than once in composing Literary Art. Motifs in Luu Trong Lu’s pre-1945 narative
prose are diversity. His characters look back to the past and toward a bright future, find free and
great love. But love is miseries; living in converting period and taking half-hearted rebellion,
they finally turn back to the nature for sedating their souls.
Keywords: motif, prose, look back to the past, love is miseries, half-hearted rebellion,
turn back to the nature
1. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Lưu Trọng Lư là một trong những tác giả viết
thành công ở cả hai lĩnh vực thơ và văn xuôi. Những tác phẩm thơ của ông viết trong thời Thơ
mới đã được độc giả biết tới nhiều và bình phẩm ngay từ khi nó mới chào đời. Riêng với mảng
văn xuôi tự sự mà ông sáng tác sáng tác trước năm 1945 thì việc tìm hiểu, nghiên cứu mới chỉ
dừng ở mức độ sơ khởi. Không có tham vọng đánh giá bao quát, đầy đủ về bộ phận quan trọng
này trong văn nghiệp của ông, ở bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một số mô típ
nổi bật đã làm nên khuôn mặt riêng của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư. Đó là các mô típ: ngoái
tìm dĩ vãng, ái tình là bể khổ, nổi loạn nửa vời, tìm về thiên nhiên.
2. Trước hết, xin nói về mô típ ngoái tìm dĩ vãng. Tác phẩm của Lưu Trọng Lư thường
cũng đau xót nhường ấy” [11, 1116].
Tuổi thơ gắn với đất ruộng, với những lần đi bẫy chim sả, đi bắt cá, đi ăn năn, đi thả diều
của tác giả. Kí ức còn hiện về trong nỗi nhớ về những kiến trúc chạm trổ nơi đình làng: “Không
mấy đêm là tôi không nằm mê thấy kì lân hay cọp đuổi. Mà có lẽ là con cọp của bác thợ Nề. Đời
tôi sau này đã bao lần thấy cọp, những con cọp thật, nhưng chưa có con cọp nào hung dữ như
con cọp ấy của tuổi ấu thơ Mỗi khi ở Hà Nội về, đi qua đình tôi thường đứng lại ngắm nghía
con cọp ấy của tuổi trẻ, của bác thợ Nề. Nhưng con cọp ấy đã mờ hẳn, dưới lớp rêu xanh, đã trở
nên hiền lành dưới thời gian, nhưng mà nó vẫn còn linh động, vẫn hung dữ ở trong tưởng tượng
của tôi” [11, 1143].
Hồi ức của tác giả còn hướng về những ngày đến trường. Cậu bé Cọt hết học trường làng
lại lên trường tỉnh, thôi học chữ Hán sang học chữ Tây. Đó là nét riêng, nét trong sáng của nhân
vật trong truyện của ông.
Đó còn là nỗi tiếc thương ngậm ngùi pha chút lo sợ của thi sĩ Liên (Em là gái bên song
cửa) khi nghe tiếng gà gáy: “Đời tôi chỉ có hai lần buồn não nhất, ấy là hai lần được nghe tiếng
gà gáy Một lần vào giữa ban ngày, một lần vào gần nửa đêm.
Cái lần giữa ban ngày chính là cái lần cách đây đã bốn năm, vào một ngày giữa mùa
hạ… Tiếng gà ban trưa ấy làm cho tôi sực nhớ lại những cơn nắng xanh rờn trong thời niên
thiếu” [11, 1048].
Nhớ về dĩ vãng đầy ám ảnh nhưng nhân vật của Lưu Trọng Lư không “tiêu cực”. Quay
trở về quá khứ để hướng đến tương lai. Nỗi buồn quá khứ soi chiếu cho hiện thực nhiều đắng cay
cũng là một nỗi buồn trong sáng không bi lụy, bi thương.
3. Trong sáng tác văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư trước năm 1945, chúng tôi thống kê
được 34/54 tác phẩm viết về đề tài tình yêu. Con số 63% quả là tỉ lệ không nhỏ, điều này phù hợp
với xuất phát điểm của một thi sĩ lãng mạn viết văn xuôi. Tình yêu là một loại tình cảm rất đặc
biệt và khá phức tạp của cuộc sống con người. Diện mạo của tình yêu tuỳ vào quan điểm thẩm
mĩ, văn hoá, xã hội của từng thời kì, của từng tác giả mà hiện ra cũng rất khác nhau. Với Lưu
Trọng Lư, ông đã diễn tả tình yêu ở nhiều góc độ, các nhân vật trong tác phẩm của ông chìm đắm
trong bể tình. Nếu các nhà văn Tự Lực văn đoàn đặt ra một vấn đề rất mới mẻ trong tình yêu nam
nữ, đó là vấn đề đấu tranh cho luyến ái và hôn nhân tự do, họ có thể hi sinh hạnh phúc cá nhân
3
nào hoá ra bạc” [10, 147].
Một anh mù làm nghề hát xẩm và một cô gái đẹp, có tài thổi sáo con nhà quan đã tìm một
nơi hẻo lánh để có những ngày sống hạnh phúc trong tình yêu và âm nhạc. Nhưng, cô gái mắc
bệnh rồi qua đời để cho người xẩm sống những ngày còn lại trong cô đơn và thương tiếc. Đó là
câu chuyện tình vượt qua ranh giới của giai cấp trong tiểu thuyết Tàn một kiếp.
Đọc tác phẩm của Lưu Trọng Lư, hai tiếng Ái tình được tác giả nhắc đi nhắc lại như một nỗi
ám ảnh. Ái tình trong sạch, ái tình nồng nàn, ái tình rào rạt, ái tình vẩn vơ; vị ái tình, thiếu ái tình,
thần lực của ái tình; ái tình là sự siêu độ, ái tình mới là cái nguồn bất tận của ánh sáng, của tươi
vui Vấn đề tình yêu nam nữ trong sáng tác của Lưu Trọng Lư là một vấn đề khá mới mẻ, họ muốn
vươn đến một tình yêu tự do và cao cả, sẵn sàng hi sinh hạnh phúc của mình để cho người yêu được
hạnh phúc. Dù tình yêu đó có bị ngăn cản, không đến được với nhau nhưng nếu là một tình yêu thật
sự thì nó mãi là tình yêu.
4. Văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư đặc biệt phổ biến mô típ nổi loạn, nhưng đó là sự nổi
loạn nửa vời. Các nhân vật nổi loạn nửa vời này là những người chịu ảnh hưởng luồng gió mới từ
4
phương Tây, ảnh hưởng của văn hoá Pháp. Họ thường xuất thân trong gia đình quan lại, nhưng
được học trường Pháp Việt, biết tiếng Pháp, sớm hoà nhịp với văn minh phương Tây. Cô Nhung
thích tới rạp để xem cô đào Sydney nổi tiếng, Nhung càng xem kịch càng mê mẩn đến nỗi bản
thân cô như đang nhập hồn mình vào vai diễn: “Nhung đã bắt đầu quên mình, quên cảnh xung
quanh mình, và thấy phiêu lưu trong cảnh trời trong sáng nhí nhỏm của nước Nhật Bản” [10,
361]. Nhung thích viết nhật kí và có mối tình tuổi học trò trong sáng với Đông. Cô Nguyệt cũng
là gái tân thời, trọ học ở nhà cô dượng. Học ở trường Đồng Khánh, cô yêu Thanh, tình yêu tuổi
học trò.
Cô Nhung và Cô Nguyệt, ngỡ rằng sự tân thời của hai cô là động lực để hai người đấu
tranh cho một tình yêu tự do, nhưng Nhung đã lặng lẽ xa Đông để theo cha vào Huế làm vợ một
ông quan trẻ. Còn Nguyệt cũng chẳng hơn gì, cô nhắm mắt đưa chân làm vợ lẽ cho ông dượng là
chồng của cô mình. Từ hai cô gái hiền lành, sống sôi nổi, có cá tính khi trở thành những bà mệnh
phụ lại ngoan hiền hơn xưa.
Huy (Từ thiên đường đến địa ngục) là chàng trai đã cảm nhận được tư tưởng mới của thời đại
đó là chủ nhĩa Mã Khắc Tư. Chàng và vợ đều sống theo cách sống tân thời, thích đi xem phim rạp,
Hương, từ nhà mát trông xuống, trắng xoá và óng ánh như một dải lụa” [10, 684].
5
Sông Hương, núi Ngự, núi Thiên Thai, đất Cố Đô thơ mộng cũng được Lưu Trọng Lư
nhắc đến:“Xưa nay, núi Ngự và sông Hương đã làm nên danh tiếng cho đất đế đô
Thiên Thai! Tuy rằng chốn thắng cảnh ấy mượn cái tên đầy thi vị của một cái động tiên,
nhưng mà nó vẫn có cái phong cốt của một ông võ tướng lẫm liệt ở trên mình ngựa, tay múa
ngọn gươm sáng quắc” [10, 161 - 162]. Động Phong Nha lộng lẫy: “Động chính là một hòn núi
trổ ra một dòng nước Ở đây không còn là cái động nữa: ta có cái cảm giác là lạc bước vào cái
cung điện nguy nga lộng lẫy của các hàng vua chúa giàu sang nhất trong thiên hạ” [10, 423].
Thiên nhiên là một trong những nguồn cảm hứng lớn nhất của chủ nghĩa lãng mạn. Vì thế,
hầu hết nghệ sĩ lãng mạn đều say sưa kiếm tìm vẻ đẹp ở trong đó. Thiên nhiên như một khoảng
trời trong trẻo, thanh sạch ru dịu những tâm hồn lãng mạn đang bất hoà sâu sắc với cuộc sống
ngột ngạt, tù túng. Họ coi nó là người bạn để sẻ chia tâm sự. Lưu Trọng Lư là nhà văn nằm trong
dòng chảy đó.
6. Lưu Trọng Lư là tác giả đóng góp nhiều trong phong trào Thơ mới và ông cũng thành
công ở lĩnh vực văn xuôi. Khi khảo sát mảng văn xuôi của ông sáng tác trước 1945, người đọc ít
nhiều nhận thấy một đặc thù góp phần quan trọng tạo nên phong cách văn xuôi của tác giả này,
đó là ông tập trung vào một số mô típ. Những mô típ chúng tôi khảo sát nêu trên góp phần tạo
nên nét riêng, độc đáo trong phong cách Lưu Trọng Lư với vai trò là nhà văn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
2. Lại Nguyên Ân (2011), “Văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư”, Lưu Trọng Lư Tác phẩm - truyện
ngắn, tiểu thuyết, tập 1, Nxb Lao động - Trung tâm Văn hoá - Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.
3. Huy Cận - Hà Minh Đức (chủ biên, 1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
4. Nguyễn Đình Chú (1987), Cần nhận thức đúng thời kì văn học 1930 - 1945, Nxb Văn học,
Hà Nội.
5. Phan Cự Đệ (1997), Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
6. Hà Minh Đức - Nguyễn Văn Thành (sưu tầm, biên soạn - 2007), Lưu Trọng Lư Về tác gia và
tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
ABSTRACT
Song that luc bat (STLB) and ngam khuc is pure Vietnamese two basic categories of
medieval poetry Vietnam. During its campaign and development, STLB and ngam khuc has been
interacted together and created a magic "marriage". The STLB combined with ngam khuc has
contributed to Vietnam medieval literary Forum a unique genre for the next generation of the
classic works of merit as both content scope, functions and enforcement
Keywords: Song that luc bat, ngam khuc, poetry, Forum, content, functions, enforcement
1. “Thể loại văn học là nơi thể hiện rõ nhất đặc trưng loại hình văn học. Mỗi một loại hình
văn học có một hệ thống thể loại riêng. Có thể thấy đây chính là phương diện phân biệt rõ nhất
hai loại hình văn học trung đại và hiện đại. Lịch sử văn học về một phương diện quan trọng là
lịch sử của loại và thể loại văn học. Văn học trung đại Việt Nam hiện diện qua một hệ thống thể
loại bề bộn, chồng chéo, ngổn ngang, độc đáo, phong phú, ” [1, 38 – 39]. Thể trong loại, loại
trong thể là những hiện tượng trong văn học. Và hai thể loại song thất lục bát và ngâm khúc trong
văn học Việt Nam trung đại là một hiện tượng như thế.
Song thất lục bát (STLB) là thể thơ thuần tuý dân tộc, bắt nguồn từ ca dao, dân ca. Cho
đến nay, chưa có một tài liệu nào khẳng định STLB ra đời chính xác vào thời gian nào. Qua khảo
sát, chúng tôi nhận thấy vào khoảng cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, trong lịch sử phát triển của
văn học Việt Nam trung đại xuất hiện một hiện tượng lạ. Đó là sự góp mặt lần đầu của hai thể thơ
lục bát và thể thơ STLB trên thi đàn, mà vốn dĩ trong một thời gian dài trước đó là sự chiếm lĩnh
độc tôn của một số thể loại du nhập từ Trung Hoa. Ngay từ lúc manh nha, STLB hiện diện trong
tác phẩm Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào của Lê Đức Mao (1462-1529):
Rồi từ đó nhờ ơn cấp túc
Tiếng quản huyền nô nức nhân gia
Năm năm mở tiệc xướng ca
Đào dâng hai chữ “Tam đa” mừng làng.
Có thể xem đó là những dòng STLB thành văn cổ nhất. Trong thơ ca Việt Nam trung đại,
thể loại này tiếp tục phát triển cho đến những thập niên đầu của thế kỉ XX.
(*)
ThS, Đại học Lâm nghiệp cơ sở 2, Thị trấn Trảng Bom – Đồng Nai.
như: Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân, Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh
Nhật Thận, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến, Hải ngoại
huyết thư – bản dịch của Lê Đại (nguyên tác bằng chữ Hán của Phan Bội Châu)…
3. Trong quá trình vận động và phát triển, STLB luôn tìm kiếm và khẳng định những chức
năng và nội dung riêng làm nên nét đặc thù của thể loại. Từ thế kỉ XVII-XVIII, khi lục bát đang
phát huy vai trò tự sự trong các truyện Nôm, STLB cũng thực sự tìm được mảnh đất màu mỡ mà
ở đó, nó có thể phát huy một cách tốt nhất khả năng trữ tình, đó là ngâm khúc. Theo Bùi Văn
Nguyên, “nếu thể lục bát được áp dụng một cách thích đáng vào truyện thơ thì STLB với sắc thái
riêng của nó, lại được chọn cho lối ngâm khúc” [3, 235]. Lục bát lợi dụng cấu trúc để kéo dãn bài
thơ đến vô cùng nhằm thích ứng với vai trò kể chuyện, còn STLB lại khai thác ưu thế về các yếu
tố vần, điệu, cũng như tổ hợp các dòng để thể hiện nội dung của ngâm khúc.
Những tác phẩm ngâm khúc thuộc loại hình trữ tình phần lớn cũng giống như các bài thơ
Đường luật. Nhưng các bài thơ Đường luật chỉ diễn tả một khoảnh khắc của tâm trạng, một cảm
xúc trước thiên nhiên, một nỗi buồn thoáng qua nhưng thấm thía, một mối u hoài mơ hồ, mênh
mông… Còn ngâm khúc thì diễn tả cả một tâm trạng phong phú, phức tạp, nhưng nói chung là