CONTENT
BUI KHANH THE Hue dialect during the language contact in
Vietnam
LUU THI HONG VIET Artistic Space in Kim Dong In’s short
Stories
LE THI NGAN TRANG
Southern spiritual Culture in Son Nam’s
Prose
NGUYEN THI PHUONG LAN
The dynamics of Poetry in the Tri tan
Magazine
LE CUNG International communities and the
buddhist movement in south Vietnam in
1963
Study and evaluation of reptile resources
(reptilia) in dong thap muoi region
TRINH PHI HOANH
LA THUY HUONG
Study of the riverbank erosion of the Tien
river in Dong Thap Province on the
Viewpoints of General, Natural geography Tạp chí
Đại học Sài Gòn
Số 4 Nguyễn Trãi, Phường 3, Quận 5, TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.38321332 - 08.38321360 - Fax: 08.39381910
Email: [email protected] - Website: www.sgu.edu.vn
Số 18
TS. Hồ Văn Hải
TS. Phan Thị Xn Yến
TS. Phạm Thị Thu Nga
TS. Nguyễn Thị Diệu Thảo
TS. Phạm Nguyễn Kim Tuyến
ThS. Lê Văn Việt
ThS. Hồng Hữu Lượng
ThS. Phan Anh Tài
ThS. Cao Thái Phương Thanh
ThS. Đỗ Xn Tịnh
ThS. Hồ Văn Bình Thư kí
TS. Nguyễn Thị Kim Ngân
Giấy phép hoạt động báo
chí
số:1120/GP-BTTTT,
ngày
12/8/2008 của Bộ
trưởng
Bộ
Thơng tin và
Truyền
thơng
.
° TRỊNH DUY ỐNH
PHẠM THỊ BẠCH TUYẾT ° ĐINH HUY HỒNG
LÊ THỊ DUNG
° HỒNG THỊ NGHIỆP
NGƠ ĐẮC CHỨNG
HỒ THỊ NGUYỆT
° TRỊNH PHI HỒNH
LÃ TH HƯỜNG MỤC LỤC Tiếng Huế trong q trình tiếp
xúc ngơn ngữ ở Việt Nam
Khơng gian nghệ thuật trong
truyện ngắn của nhà văn Kim
Dong In
Văn hố tinh thần Nam Bộ trong
(*)
TÓM TẮT
Hiện nay, tiếng Việt được giới khoa học trên thế giới xếp vào số 52 ngôn ngữ
quan trọng trên thế giới. Tiếng Việt đã trải qua quá trình tiếp xúc nhiều thiên niên kỉ, bao
gồm sự tiếp xúc, tiếp biến ngôn ngữ của các dân tộc bản địa và với một số thứ tiếng
ngoại nhập như tiếng Hán, tiếng Pháp. Quá trình đó diễn ra theo quy luật quy tụ, lan tỏa
để rồi một số biến thể mới lại hình thành làm phong phú, đa dạng hơn cho bức tranh
tiếng Việt. Trong những biến thể đó, TIẾNG HUẾ với điều kiện rất riêng của quá trình
hình thành và tồn tại nên đã đóng góp những nét đặc thù của mình vào tiếng Việt với
cương vị là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam hiện nay. Bài viết nhằm giới thiệu những
nét đặc thù của tiếng Huế đóng góp vào quá trình tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam.
Từ khoá: Tiếng Huế, quá trính tiếp xúc, tiếp biến ngôn ngữ, tiếng Việt
ABSTRACT
Vietnamese is currently ranked among the 52 important languages in the world.
Vietnamese has undergone the language contact for many millennia, including the
contact and accumulation of the languages of the indigenous peoples and some foreign
languages such as Chinese and French. The process has taken place in accordance with
the law of convergence and pervasion, then a number of new variants have formed and
enriched Vietnamese. In these variants, HUE DIALECT with its own conditions of the
formation and existence has contributed to the peculiarities of Vietnamese in the position
of the official language of Vietnam today. This paper attempts to introduce Hue
DIALECT peculiarities which have contributed to the process of the language contact in
Vietnam.
Keywords: Hue Dialect, contact process, language accumulation, Vietnamese
Tiếp xúc ngôn ngữ (TXNN) ở Việt Nam là một chủ đề rộng lớn. Thảo luận về
tiếng Huế, người viết bài này xem đây là cách tiếp cận bộ phận về TXNN ở Việt Nam.
1. Trong bài Language Contact trình bày tại Đại hội quốc tế lần thứ 8 về ngôn ngữ
học họp tại Oslo, 5-9, August, 1957, Einar Haugen viết: “Mỗi một nhà ngôn ngữ học sớm
theo con đường xâm lược, bành trướng (Hán từ phương Bắc) hay tôn giáo, thương mại
(Ấn từ phía Tây hay đường biển) sự TXNN ở Việt Nam xuất hiện thêm một hình thái
mới: tiếp xúc giữa ngôn ngữ bản địa và các thứ tiếng ngoại nhập – các ngoại ngữ . Mỗi
hình thái TXNN này diễn ra dĩ nhiên theo các quy luật chung như giao tiếp, song ngữ/đa
ngữ, giao thoa (interference), vay mượn, biến đổi cấu trúc ngôn ngữ. TXNN đồng thời
cũng là tác nhân kéo theo sự tiếp xúc văn hoá. Kết quả của TXNN và tiếp xúc văn hoá
dẫn đến những hệ quả nhất định, tích cực hoặc tiêu cực, tùy theo cảm thức và sự điều
chỉnh của thành tố tiếp nhận (recipient) là chủ nhân của ngôn ngữ và văn hoá tiếp nhận
trong thế đối ứng với thành tố cấp (donor). Tiến trình lịch sử Việt Nam cho thấy người
Việt Nam với tư cách là chủ thể của thành tố tiếp nhận đã lái quá trình tiếp xúc này phát
triển theo con đường có lợi đối với việc giữ gìn và làm phong phú cho bản sắc ngôn ngữ,
bản sắc văn hoá của mình
(3)
. Do đó bên cạnh các quy luật chung, quá trình TXNN, tiếp
xúc văn hoá ở Việt Nam tùy theo hình thái tiếp xúc ta còn thấy các nét (hay cũng có thể
gọi là quy luật) đặc thù của mình.
Một cách tổng quát mà không phân tích chi tiết, có thể dùng biểu thức: ở Việt
Nam sự tiếp nhận các yếu tố ngôn ngữ và văn hoá ngoại lai diễn ra theo quá trình tinh
tuyển(distillation), còn quá trình TXNN tiếp xúc văn hoá diễn ra giữa các tộc người, các
dân tộc trong nội bộ cộng đồng nhân dân Việt Nam diễn ra theo quy luật quy tụ và lan tỏa
(convergence and pervasion).
2. Thảo luận về tiếng Huế, người viết bài này không làm công việc xác định đường
viền về địa lí, tuyến đẳng ngữ (isogloss) về phương ngữ, mà đặt tiếng Huế với tương
quan về cách gọi các khu vực ngôn ngữ - văn hoá khác (tiếng Hà Nội, tiếng Bắc Ninh,
tiếng Sài Gòn, tiếng Quảng Nam…) trong cách tiếp cận TXNN, tiếp xúc văn hoá đa
dạng, đa chiều
(4)
.
2.1. Có thể thấy tính đa dạng, đa chiều của tiếng Huế bắt đầu từ cách giải thích tên
gọi của địa danh này. Theo Từ điển A.deRhôdes Hoá < Kẻ Hoá, Thuận Hoá: Kinh đô xứ
cần nhắc đến vai trò của trường học như Quốc học Huế
(5)
, trường nữ Đồng Khánh và sau
1954 là Viện Đại học Huế. Nhiều học sinh trường Quốc học Huế và về sau nhiều sinh
viên Viện Đại học Huế đã tham gia tích cực vào các phong trào đấu tranh cách mạng
hoặc tham gia kháng chiến.
2.4. Trong giới tri thức Huế cả cựu học lẫn tân học đều có những nhà văn, nhà
thơ, nhà báo nổi tiếng, tiêu biểu đã góp ngôn ngữ văn thơ, báo chí vào lịch sử văn học,
lịch sử báo chí đất nước. Giới văn học sử Việt Nam đã và vẫn tiếp tục viết về Tùng Thiện
Vương Miên Thẩm (1819-1897), Tuy Lí Vương Miên Trinh (1820-1897) – những tác giả
nổi tiếng đã cùng sáng lập Thi Xã Tùng Văn mà mỗi người đều có những tác phẩm để
đời. Quê ở Quảng Nam, nhưng dành phần lớn cuộc đời hoạt động trước 1945 ở Huế, Tiến
sĩ cựu học Huỳnh Thúc Kháng (1875-1947) đắc cử Viện trưởng Viện dân biểu Trung Kì,
nhưng sau đó do bất đồng với Khâm Sứ Trung kì năm 1927 đã từ chức lập tờ báo Tiếng
Dân, làm chủ bút báo này 16 năm liền. Cụ Huỳnh cũng là tác giả của các sách nổi tiếng:
Thi tù tùng thoai, Thi văn với thời đại, Phan Tây Hồ lịch sử, Trung Kì cự sưu thuế.
Hải Triều (tên thật: Nguyễn Khoa Văn, 1908-1954) cây bút cách mạng gắn tên
tuổi với Huế qua các cuộc bút chiến về Duy vật và duy tâm với Phan Khôi, về Văn học vị
nghệ thuật hay vị nhân sinh với Thiếu Sơn, viết và ấn hành các sách chủ nghĩa Mác phổ
thông, Văn sĩ và xã hội trong đó giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam các nhà văn thế giới
Romain Roland, Henri Barbusse, Maxime Gorki.
Được mệnh danh là nhà thơ cách mạng của Huế, Tố Hữu phản ánh trong thơ trước
và sau cách mạng tháng Tám 1945 ngôn ngữ của các giới đồng bào Huế, nhất là lớp
4
người chịu nhiều cơ cực dưới chế độ thực dân phong kiến: Cô gái Sông Hương, Hai đứa
bé…trong tập thơ Từ ấy. Trong những ngày sục sôi cách mạng, mặc dù gánh vác trọng
trách của một nhà lãnh đạo cách mạng ở thành phố, nhưng ánh nhìn và ngôn từ của Tố
Hữu vẫn giữ phong thái Huế bình dị, giàu sức biểu cảm:
Huế trầm mặc hôm nay sao khác khác
Những mắt huyền ngơ ngác hỏi thầm nhau
Bình Thúc Gia, Nguyễn Khoa Vi, Tô Kiều Ngân…(Bùi Minh Đức, 2008. Chữ nghĩa
tiếng Huế, tr.59-71). Đây là sự giao thoa và quy tụ trong tiếng Huế ngôn ngữ thi ca dòng
bác học và lời ca, tiếng hò dân gian. Ngôn từ thi ca Huế còn cho thấy sự giao thoa và quy
tụ ngôn từ Hán và Việt đồng thời cũng là nơi lưu giữ vẹn toàn đặc tính uyển chuyển của
tiếng địa phương:
“Họa hổ họa bì nan họa cốt
5
Tri nhân tri diện bất tri tâm
May mô may chút nữa em lầm
Khoai khô xắt lát, tưởng cao ly sâm bên Tàu”. (bổ sung nguồn dẫn)
Có những từ địa phương mang sắc thái cổ, ta chỉ có thể hiểu được khi đặt trong
ngữ cảnh: của ca từ hò hát dân dã:
“Hai tay cầm bốn tao nôi,
Tao thẳng tao dùi, tao nhớ tao thương…”
(Lời hò có xuất xứ là thơ Kiều Ngân)
Những ngôn từ Huế khó lẫn với nơi đâu khác như vậy không chỉ có ở các nhà thơ,
ở những lời hò đối đáp, câu ca dao Huế, mà ta cùng còn có thể bắt gặp trong các bài hồi
ký, câu thơ, lời nhạc của những trí thức tân học hiện đã luống tuổi vốn là cựu học sinh
Quốc học Huế, cựu sinh viên đại học Huế một thời đã qua có thể nay đang sống xa quê:
“Ba năm rồi tôi rời xa xứ mẹ
Nhớ nhung về Bến Cát mờ sương
Bóng nước mây đưa Đồi Vọng Cảnh
Thuyền về trôi dạt Bãi Dâu xưa…” (Lê Thị Hàn, Quê mẹ)
Đọc lời trong nhạc phẩm Huế mãi trong tim (tg: Nguyễn Phú Yên, Phạm Việt
Hoà): “Xa thì nhớ gần chưa hiểu hết. Huế bây giờ còn mãi trong tim” bất giác tôi liên
tưởng câu nói của nhà thơ Đức Theodore Fontane: “Chỉ có nơi tha hương mới dạy ta
càng biết trân trọng hơn những gì quý báu ở chốn quê nhà”.
Thực ra, không chỉ người Huế xa quê, mà cả người vẫn đang sinh sống tại quê
nhà, và cả những người ít nhiều biết về Huế cũng đều có tình cảm sâu lắng về Huế mỗi
khi có dịp nhắc đến. Bởi vì Huế chẳng những là chốn thần kinh một thủa, nơi vương triều
các trang sách cổ vũ lòng yêu nước của mọi người dân Việt. Đó là cụ Huỳnh Thúc Kháng
được người dân Huế và nhân dân cả nước biết đến với việc thành lập, xuất bản báo Tiếng
Dân suốt 16 năm liền làm chủ bút sau khi từ chức Viện trưởng Viện dân biểu Trung kì vì
bất đồng với khâm sứ Trung kì.
Huế còn là nơi lưu những hiện vật đã phát hiện được hoặc đang còn ẩn mình đâu
đó dưới mặt đất hoặc trong lòng sông Hương về văn hoá Sa Huỳnh thời tiền sử và sơ sử,
các giai đoạn Chăm sớm những thế kỉ 1,2,3, giai đoạn Champa từ thế kỉ 4, 5 đến thế kỉ
11, 12) và giai đoạn Champa – Đại việt (thế kỉ 13,14) giai đoạn Đại Việt (thế kỉ 14 trở về
sau). Nhiều hiện vật trong số đó đã được nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan sưu tập và gìn giữ.
Từ hạt nhân đầu tiên thời đại Văn Lang – Âu Lạc đến nay tiếng Việt được xếp vào
hàng những ngôn ngữ quan trọng trên thế giới (Bernard Comrie, 2009.P.12) và được viện
dẫn như trường hợp “ngôn ngữ của quốc gia đa dân tộc, làm chuyển ngữ trong giáo dục”
(M.Clyne) ngay sau khi đất nước giành lại quyền độc lập (Bùi Khánh Thế, 2012., tr.386).
Bước chuyển kì diệu đó đã trải qua khoảng thời gian nhiều thiên kỉ, qua không gian trải
dọc đất nước đến vài nghìn cây số theo chiều dài từ bắc đến nam. Trong quá trình đó, cứ
mỗi giai đoạn phát triển tiếng Việt lại tiếp xúc với những nhân tố ngôn ngữ, văn hoá mới,
bồi đắp thêm cho nền tảng vốn có cũng như ngày càng biến đổi phong phú dần lên bởi
các nét đặc sắc của mỗi vùng đất nước. Vùng ngôn ngữ - văn hoá Huế với sự hình thành
và phát triển đặc thù của mình đã và đang góp phần riêng xứng đáng của mình vào di sản,
tài sản ngôn ngữ - văn hoá chung của cộng đồng nhân dân Việt Nam. Thiết nghĩ việc khai
thác báu vật ấy không chỉ là nhiệm vụ của các nhà khoa học xứ Huế, mà cũng là nghĩa vụ
của tất cả các nhà khoa học của cả nước xem Huế là đối tượng nghiên cứu của mình.
Chú thích:
1. Hiện nay, theo Phan Huy Lê, có ba văn bản khác nhau về danh sách 15 bộ của nước
Văn Lang. Danh sách dưới đây chép theo Đại Việt sử lược: 1) Giao chỉ, 2) Việt thường
thị, 3) Vũ Ninh, 4) Quân Ninh, 5) Gia Ninh, 6) Ninh Hải, 7) Lục Hải, 8) Thang Tuyền, 9)
Tân Xương, 10) Bình Văn, 11) Văn Lang, 12) Cửu Châu, 13) Nhật Nam, 14) Hoài Nam,
15) Cửu Đức (Sđd, tr.24)
2. Thuật ngữ tộc người trong bài này được dùng theo quan điểm của các nhà dân tộc học
7. Einar Haugen (1957), Language Contact, “Report for the Eighth International
Congress of Linguistics”, Oslo, 5- 9 August, 1957. III Pp. 253 – 267. Bản dịch tiếng
Nga trong sách Novoe Lingvistike, VI, Jazykovye Kontakty, Nxb Progress, Moskva,
1972.
8. Bùi Khánh Thế (2005), “Lí thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ ở
Việt Nam (Trường hợp thành phố Hồ Chí Minh)”, trong sách: Tiếp xúc ngôn ngữ ở
Việt Nam, 2005 Nguyễn Kiên Trường (chủ biên), Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 11 – 37.
9. Bùi Khánh Thế (2012), Tiếng Việt – tiếng nói thống nhất của dân tộc Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8
* Nhận bài ngày: 20/5/2013. Biên tập xong: 20/12/2013. Duyệt đăng: 24/12/2013.
1 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NHÀ VĂN KIM DONG IN
LƯU THỊ HỒNG VIỆT
(*)
TÓM TẮT
Trong nền văn học hiện đại Hàn Quốc, nhà văn Kim Dong In đã có thành tựu lớn
trên văn đàn. Để ghi nhận cống hiến của nhà văn Kim Dong In, từ năm 1955, Nhà xuất
bản Sasang, một nhà xuất bản lớn ở Hàn Quốc, đã lập ra giải thưởng Văn học Dong In.
Trong truyện ngắn của ông có các loại không gian như: không gian ngột ngạt tù túng,
không gian thiên nhiên vũ trụ, không gian kỳ ảo, không gian sinh hoạt đời thường. Các
loại không gian này góp phần làm sáng tỏ những diễn biến tâm lí của nhân vật trong tác
phẩm. Tìm hiểu về không gian nghệ thuật, chúng ta hiểu rõ hơn về tài năng và sự đổi mới
trong sáng tác của nhà văn Kim Dong In.
Từ khoá: không gian nghệ thuật, nhà văn Kim Dong In, giải thưởng, văn học Kim
Không gian ngột ngạt tù túng xuất hiện trong tác phẩm của Kim Dong In qua
hình ảnh khu ổ chuột, nhà tù chật hẹp. Không gian này lấn át sự tồn tại của con người.
Thái hình là những trang viết chủ yếu về cuộc sống của con người nơi nhà tù chật hẹp,
bẩn thỉu, bệnh tật. Con người không được hít thở không khí trong lành của vũ trụ bao la,
hàng ngày phải đối mặt với nỗi thống khổ không chỉ vì những hình phạt, sự tra tấn mà
còn phải đối mặt với sự ngột ngạt của phòng giam khoảng 15 mét vuông có tới 40 tù
nhân. Không gian này không khác gì “địa ngục trần gian” vượt quá giới hạn chịu đựng
của con người: “Tôi cảm thấy hai mắt cay cay và một mùi hôi xộc lên khiến tôi muốn
ói”[8, 169]. Con người quá nhỏ bé trước thế giới. Sự tồn tại của con người là không thực,
tồn tại mà như không tồn tại, sống mà dường như đã chết: “Nóng như đốt vào cái lưng
đưa ra cửa sổ của tôi, còn phía trước bức tường phản xạ cái nóng vào ngực tôi, xung
quanh chằng chịt đầy hơi người làm cho toàn thân như bị nhũn ra. Trong lúc đó mùi
phân và nước tiểu, mùi khét của da và mùi thuốc xức ghẻ, trộn lẫn với mùi mồ hôi làm
nên một mùi khí độc lắng xuống đáy phòng mà không thể hoán khí được ”[8, 180]. Con
người bị tách biệt với thế giới bên ngoài. Họ thèm những cơn gió mát trong lành để xua
tan đi cái nóng khó chịu, thèm được uống nước để xoa dịu cơn khát đến cháy họng
nhưng tất cả chỉ là viễn tưởng, sự sống đối với họ quá mong manh: “Trong phòng không
thấy đầu và thân người đâu mà chỉ toàn là chân chất chồng thành nhiều lớp ( ) Nó trông
như những cái chân của người chết.”[8, 175]. Không gian nhà tù buổi tối gắn với cái
nóng hầm hập như thiêu như đốt: “Cái nóng làm toàn thân sưng lên và các bộ phận gần
như không còn cảm giác.”[8, 170]. Ngoài ra, các tù nhân luôn phải đối mặt với những
hình phạt dã man. Người tù già chỉ vì không kịp trả lời khi trưởng ban canh tù gọi đến số
của mình đã bị ban canh tù đánh đập không thương tiếc. Truyện đưa chi tiết những kẻ
canh tù ít tuổi hơn hai người con trai của người tù già bị tra tấn tưởng như đơn giản là kể
về tuổi tác của ban canh tù nhưng đó chính là chi tiết khẳng định rõ hơn, minh chứng rõ
hơn về tội ác của những tên canh tù bất lương, tàn ác. Không gian ngột ngạt, tù túng này
mang tính khái quát cao, phản ánh thân phận của người dân Hàn phải vật lộn với cuộc
sống đầy tăm tối, bó buộc trong xã hội đầu thế kỉ XX - một xã hội chịu sự thống trị của
Nhật Bản.
Ngoài ra, không gian ngột ngạt, tù túng cũng là nơi mà những tệ nạn xã hội, những
“Khi những làn gió thổi nhẹ làm cho những ngọn lúa mì cứ như những đợt sóng lúc nằm
xuống lúc đứng lên ( ) Và những con diều hâu lượn thành những vòng tròn trên trời cao
làm gợi lên nỗi nhớ về ngày xưa.”[8, 11]. Không gian thiên nhiên cũng mang tâm trạng
của con người: “Hoàng Hải buồn man mác vào buổi tối ( ) Một mặt trời to lớn đỏ chói
như đống lửa đang dần chìm xuống dưới mặt biển bồng bềnh, rồi lại trồi lên như đang
nhảy múa.”[8, 13-14]. Hiện tượng thiên nhiên: trời, đất, gió, mây, biển, sông núi, cây cỏ
xuất hiện trong truyện làm thành khung cảnh rộng lớn, đa dạng, thay đổi theo bốn mùa
khác nhau và trong một ngày cũng mang những màu sắc khác nhau. Thiên nhiên đa dạng
qua cái nhìn của người kể chuyện cho thấy người kể chuyện có một tâm hồn lãng mạn,
bay bổng, nhạy cảm: “ Khi những chồi liễu mọc lên từ đất thì mới biết được xuân đến.
Tuy chưa phải hoàn toàn là mùa xuân, nhưng nhìn sang xung quanh đỉnh Moran và sông
Daedong là một dãy rừng sâu, có thể cảm thấy một mùa xuân đang đến.”[8, 11]. Trong
cảnh sắc của thiên nhiên đất trời, con người cảm nhận mọi sự luân chuyển và biến đổi của
tự nhiên và muốn gửi gắm tâm hồn, những điều tâm sự thầm kín của mình vào thế giới
bao la. Cảnh và người dường như có sự giao hoà. Mỗi biến đổi của cỏ cây hoa lá cũng
để lại những thổn thức trong tâm hồn nhân vật: “Chừng mười triệu lá thông ở mộ Cơ Tử
hướng lên trời và chừng mười triệu ngọn cỏ, tất cả như cùng nhau hát lên bài Baetaragi
buồn ( ) Nơi anh ta ngồi năm ngoái cỏ đã mọc thẳng lại và nở hoa màu đỏ tía, nhưng sự
ân hận của anh ta có lẽ vẫn không bao giờ hết.”[8, 33]. Cảnh vật thiên nhiên cũng giống
như người thuỷ thủ đang ở trong cơn bão lòng với tâm trạng biến động không ngừng. Nó
trào lên, cuộn xuống, khoét sâu vào tâm hồn khiến người thuỷ thủ khổ đau, day dứt, ân
hận, dằn vặt và mơ hồ về tương lai.
Giống như truyện Baetaragi, truyện Họa sĩ cuồng cũng mở đầu bằng một không
gian thiên nhiên vũ trụ được kiến tạo thông qua tầm nhìn của nhân vật. Mọi biểu hiện của
không gian ngoại cảnh chủ yếu được khúc xạ qua lăng kính chủ quan, qua sự cảm nhận
của tâm hồn nhân vật và đó cũng chính là cái cớ để tác giả mở rộng những cảm xúc, kích
thích những suy nghĩ của độc giả: “Núi Inwang. Những cây thông con mọc trên phiến đá,
ở dưới thì rêu phong tự khoe sắc của mình. Nhìn xuống dưới phiến đá mấy cụm lan đang
nở hoa vàng. Mấy lá lan đung đưa trước làn gió mát va vào tảng đá.( ) Toàn bộ thung
lũng trước mặt đều phủ bằng những ngọn lá thông. Vẫn thấy rải rác những phiến đá xám
về nơi đó. Mỗi lần như vậy, đôi mắt cô gái ánh lên niềm vui, sự ngạc nhiên, khuôn mặt cô
rạng ngời, tập trung toàn bộ vào nụ cười tuyệt trần khiến người họa sĩ phát hiện ra vẻ đẹp
mà bao năm trời đi tìm giờ mới gặp. Khao khát hoàn thành một bức tranh về con người
có khuôn mặt sống động làm cho Solgeo lảng tránh thế giới hiện thực bởi nhìn vào thế
giới hiện thực, anh chỉ thấy sự giả dối, tàn ác và lạnh lùng, vô hồn. Anh bước vào thế giới
của những giấc mơ, những khung cảnh lâm li lãng mạn để có được cái đẹp tuyệt đối trong
bức tranh anh vẽ. Người con gái mù chưa bao giờ được nhìn thấy vạn vật xung quanh mà
chỉ hình dung qua lời kể của chàng hoạ sĩ về một thế giới lung linh, huyền diệu: “Ở long
cung có ngọc trai gọi là ngọc nữ, ngọc trai này là báu vật nếu có tấm lòng có thể sờ được,
nếu ngọc trai kia lăn trên đôi mắt cô một lần thì cô sẽ nhìn thấy được ánh sáng nhật
thực.”[8, 88]. Cô gái mù tràn đầy khát khao, mơ ước được một lần tới đó. Nét mặt cô đẹp
đến ngạc nhiên khi thả hồn mình vào không gian - nơi có phép màu nhiệm. Người họa sĩ
đã chuyển tất cả nét đẹp trên gương mặt không gì sánh bằng của cô gái sang bức tranh.
Chỉ còn vẽ con ngươi là bức tranh tuyệt mĩ sẽ hoàn thành. Khi không gian kì ảo là niềm
hạnh phúc thì trong ánh mắt, nét mặt cô gái mù luôn ánh lên vẻ đẹp không một người
bình thường nào có được nhưng khi không gian ấy không còn ý nghĩa lớn lao đối với cô
thì tất cả những thần thái trên gương mặt đều biến mất. Sau một đêm hạnh phúc với
người hoạ sĩ, đôi mắt ấy là “đôi mắt của người đàn bà tìm tình yêu của chàng trai ( )
đôi mắt của sự ái dục.”[8, 90-91]. Tâm hồn cô không còn rung động khi nghĩ về long
5
cung. Điều ấy khiến người hoạ sĩ thất vọng, phẫn nộ và gây nên tội ác. Trong truyện ngắn
Bản Sonata cuồng nhiệt, không gian kì ảo luôn tồn tại, bao trùm trong tâm trí người nhạc
sĩ Baik Seong-su. Sự điên loạn đã đưa anh tới một thế giới khác. Chỉ có thế giới ấy mới
khơi dậy được những rung cảm nghệ thuật, chứng tỏ anh là một thiên tài. Luôn sống
trong thế giới ảo nên Baik Seong-su làm những việc ma quái, tâm thần: anh gây hoả hoạn,
làm nhục thi thể, cưỡng hiếp thi thể, sát nhân Và âm nhạc của anh cũng là một thế giới
mang tính ma quái được tạo ra trong sự điên loạn: “Mưa rào, biển động, sấm chớp, tiếng
gió gào, sấm sét, thuyền bị lật, con mòng biển mệt mỏi rơi xuống nước, tiếng la hét của
người dân trong làng bị lật nhào một lần rồi bị sóng thần cuốn đi ( ) Từ hoang dã đến
thần phong phú, đa dạng cùng được miêu tả: “Anh đi chợ luôn tiện mua gương mà người
vợ thích và mua đồ dùng cho mấy ngày Tết.”[8, 18]. Còn ngôi nhà là nơi nhân vật bộc lộ
tất cả những cảm xúc và bản chất thực: “Anh không ghé vào quán rượu như thường ngày
mà đi thẳng về nhà nhưng khi anh ta bước vào phòng khách thì một quang cảnh làm anh
ta không vừa lòng.”[8, 25]. Từ không gian nhỏ, hẹp: căn phòng, ngôi nhà, quán rượu, chợ,
ngôi làng đến không gian rộng lớn như biển cả tạo cho người đọc nhiều cảm xúc, tâm
6
trạng: “Cuối cùng anh ta trở thành thủy thủ, suốt ngày lênh đênh trên biển, nơi đã cướp
đi người vợ của anh.”[8, 29]. Từ khi người vợ tự vẫn, không gian sinh hoạt của người
thủy thủ luôn gắn với con thuyền lênh đênh trên biển cả bao la. Trong các truyện ngắn
khác, không gian sinh hoạt đời thường được miêu tả là đô thị. Đối với người nông dân thì
đây là không gian còn lạ lẫm, không thích hợp (Khoai tây). Vợ chồng Bok-nhơ từ bỏ ngôi
làng vì lười biếng, không muốn lao động, họ vào thành Bình Nhưỡng mong đổi thay cuộc
sống nhưng nơi đây không có chỗ dành cho họ. Họ không chịu được khổ cực khi đi làm
thuê, khuân vác. Không còn nơi nương thân, bị đẩy ra khu ổ chuột bên ngoài Chilseong.
Khu ổ chuột là không gian nhấn mạnh cuộc sống tăm tối của nhân vật. Trước đây, hai vợ
chồng Bok-nhơ đã nhận được nhiều sự quan tâm, đùm bọc, chia sẻ từ những người dân
trong ngôi làng bé nhỏ, yên tĩnh: “là một nông dân có khoảng vài công đất rẫy, nhưng
lão bắt đầu xuống dốc ( ) Các bô lão trong làng giúp cho lão miếng rẫy nhỏ, lão chỉ
quẳng vào đấy vài hạt giống mà chẳng màng đến cày xới hay bón phân rồi bỏ mặc.”[8,
35]. Nhưng họ đã tự đánh mất tất cả niềm tin, sự quan tâm của mọi người. Khi ra thành
thị, họ nhanh chóng bị tha hoá, trở thành những người mưu mô, trụy lạc, vô nhân tính.
Không gian đời thường gắn với sinh hoạt giản dị, đơn sơ của người nông dân cần
cù, chịu khó đã giúp nhân vật Hwang trong “Chàng Hwang nhà quê” nhận ra ý nghĩa của
cuộc sống: “ Một ngôi làng mà sinh hoạt như người nguyên thủy thì cũng đủ sống.”[8,
156]. Người dân làng quê thật thà, mến khách. Dù không biết rõ người lạ từ đâu đến, tên
tuổi, nghề nghiệp ra sao nhưng họ vẫn đón tiếp nhiệt tình. Tất cả mọi người thấy vui, tự
hào mỗi khi làng có người nơi khác tới. Đối lập với làng quê bình an và thắm tình người
là không gian đô thị nhiều xe hơi, xe lôi, xe điện, đèn điện “Thành thị ban đêm và mùa
1. Huh Nam-jin (chủ biên) (2005), Lịch sử Hàn Quốc, Nxb Đại học Quốc gia Seoul.
2. Nguyễn Long Châu (1997), Nhập môn văn học Hàn Quốc, Nxb Giáo dục.
3. Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học KHXH&NV, Khoa Đông Phương học
(2006), Tập hợp các bài giảng chuyên đề Hàn Quốc học, Hà Nội.
4. Huỳnh Văn Giáp (2004), Địa lí Đông Bắc Á: Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật bản
(môi trường tự nhiên và các đặc điểm nhân văn, kinh tế - xã hội), Nxb Đại học Quốc
gia TP.HCM.
5. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục.
6. Nhiều tác giả (Hoàng Hải Vân dịch) (2009), Tìm hiểu văn học Hàn Quốc thế kỉ 20,
Nxb Văn nghệ.
7. Hwang Gwi Yeon & Trịnh Cẩm Lan (2002), Tra cứu văn hoá Hàn Quốc, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội.
8. Ahn Kyong Hwan và Phạm Quang Vinh (dịch) (2008), Truyện ngắn Kim Dong In,
Nxb Trẻ.
9. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2010), “Hiện đại hoá văn học đầu thế kỉ XX: nghiên cứu so
sánh trường hợp Hàn Quốc và Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7.
10. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2010), Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, Số 9 (115)
tháng 9 năm 2010.
* Ngày nhận bài: 1/11/2012. Biên tập xong: 18/12/2013. Duyệt đăng: 24/12/2013.
1
VĂN HOÁ TINH THẦN NAM BỘ
TRONG VĂN XUÔI CỦA SƠN NAM
LÊ THỊ NGÂN TRANG
(*)
rất tự nhiên. Sơn Nam từng học trung học ở Cần Thơ – thủ phủ miền Tây. Ở đó, ông lại
có thêm cơ hội mở rộng tầm nhìn để từ đó phát hiện ra những bản sắc của quê hương
mình. Sau Cách mạng tháng Tám, Sơn Nam tham gia kháng chiến, đi nhiều nơi, lượm lặt
thêm vô số chuyện lạ để sau này sáng tác. Sau 1955, Sơn Nam lên Sài Gòn, chính thức
(*)
ThS, Trường Đại học Đà Lạt.
2
gia nhập làng báo. Ông trở thành một trong những cây bút chủ lực của văn học miền
Nam.
Sơn Nam tự đánh giá mình là "một tay viết lì lợm, không giống ai, chịu thiếu thốn
vật chất rất giỏi mà vẫn đi theo con đường đã chọn: Quay về cội nguồn văn hoá dân tộc
mà chính xác là đặc trưng của Nam Bộ, bằng lối văn mộc mạc, chữ nghĩa gần gũi đời
sống thực tế" [3, tr. 67]. Sơn Nam viết rất sung sức, để lại cho đời nhiều tác phẩm viết về
miền Nam.
Về khảo cứu có các sách: Nói về Miền Nam (1967); Gốc cây, cục đá và ngôi
sao (1969); Văn minh miệt vườn (1970); Miền Nam đầu thế kỉ XX: Thiên Địa hội và cuộc
Minh Tân (1971); Lịch sử khẩn hoang Miền Nam (1973); Cá tính Miền Nam (1974); Tìm
hiểu đất Hậu Giang (1974); Gia Định xưa (1984); Lịch sử An Giang (1988); Đình miếu
và lễ hội dân gian (1992); Bến Nghé xưa (1992); Đồng bằng sông Cửu Long-Nét sinh
hoạt xưa (1993); Người Sài Gòn (1994); Sài Gòn lục tỉnh xưa (1998); Ấn tượng 300
năm (1998) v.v
Về văn xuôi, ông viết khoảng 10 tiểu thuyết và rất nhiều truyện ngắn. Tiêu biểu
như: Chuyện xưa tình cũ (1958), Hương rừng Cà Mau (1962) Chim quyên xuống đất
(1963), Hình bóng cũ (1964), Vọc nước giỡn trăng (1965), Hai cõi U Minh (1965), Vạch
một chân trời (1968), Ngôi nhà mặt tiền (1992), Biển cỏ Miền Tây (1993), Âm dương
cách trở (1993)…Văn Sơn Nam thường viết về đề tài phong tục Nam Bộ, nhất là miền
Tây. Cách hành văn giản dị, đôi lúc hóm hỉnh rất trí tuệ. Văn Sơn Nam mang đậm bản
sắc phương ngữ Nam Bộ. Chính những yếu tố này đã tạo cho tác phẩm của ông có một
DÂN NAM BỘ
2.1. Văn hoá ứng xử
Một trong những biểu hiện quan trọng của văn hoá tinh thần là cung cách ứng xử
của con người với môi trường sống. Đó là cách cư xử giữa con người với con người, con
người với thiên nhiên. Văn hoá ứng xử thể hiện trong ngôn ngữ, giọng điệu, nét mặt, cử
chỉ, hành động… Truyện của Sơn Nam đã giúp cho bạn đọc có những kiến thức khá thú
vị về văn hoá ứng xử của người bình dân Nam Bộ thuở trước.
Trong văn hoá cư xử giữa người với người, cung cách của người Nam Bộ có sự
thống nhất trong đa đạng. Nét chung của họ là bộc trực, nghĩ sao nói vậy, kiệm lời, không
hoa hoè, giả tạo, không quá quỵ lụy… Đôi lúc, ta cũng gặp những kiểu cách ăn nói riêng,
như lối ăn nói ngạo mạn của Hai Điền, thằng Cẩu (Bà Chúa Hòn), Bảy Tiểu (Cậu Bảy
Tiểu), lão Henri (Hình bóng cũ)… Hoặc giọng điệu ngang tàng, nghĩa hiệp như tướng
cướp Tư Hiền thủ lĩnh Đảng Cánh buồm đen. Các nhân vật thuộc hàng có chữ nghĩa
thường có phong thái giao tiếp điềm đạm, thích triết lí về Phật giáo như Lục cụ Tăng
Liên (Chiếc ghe ngo) hoặc có vẻ cao đạo như ông kiểm lâm “Rốp” (Sông Gành Hào)…
Trong văn xuôi của Sơn Nam, ta cũng gặp kiểu cách ăn nói của người Khmer, người Hoa,
người Pháp, người Mỹ… và đủ mọi thành phần khác nhau trong xã hội Nam Bộ nửa đầu
thế kỉ XX. Điều đó cho thấy có sự lai tạp văn hoá rất lớn diễn ra trên vùng đất năng động
này.
Thuở mới mở đất, người Nam Bộ gặp rất nhiều khó khăn, sông nước hoang vu, đi lại
khó khăn nên họ rất “thèm người”. Vì họ có tính hiếu khách nên bất cứ ai tới làng, dù
chưa rõ gốc tích cũng đều được dân làng đón tiếp chu đáo. Trong Ruộng Lò Bom, nhân
vật Tư Cồ từ xa mới đến đã được dân làng đón tiếp niềm nở: “Mới đây, trong xóm lại
xuất hiện một tay“anh hùng mới,” gọi nôm na là Tư Cồ, vì hắn to lớn xác, vai u thịt bắp.
Tư Cồ khoe khoang rằng đã phiêu bạt khắp Nam Kì lục tỉnh, biết làm đủ thứ nghề. Hắn
ta còn nói thêm: - Tôi nghèo vì muốn sống ngang dọc chớ nếu cần làm giàu như thiên hạ
thì mấy hồi Và tôi làm mướn qua tháng qua ngày chỉ vì tôi không muốn làm chủ. Người
làm mướn sung sướng trăm bề: không lo xa, có nhà ở, cơm ăn. Khi chán ông chủ này thì
mình giựt nợ, làm tôi tớ cho ông chủ khác” [11, tr.167-168]. Những người như Tư Cồ
không phải là hiếm ở Nam Bộ thuở trước. Họ sống giang hồ, phiêu bạt, chán chỗ này,
Trải qua một quá trình đấu tranh sinh tồn rất gian nan, bền bỉ, người dân Nam Bộ đã
hình thành mối quan hệ gắn bó thân thiết giữa con người với con người và con người với
thiên nhiên. Họ sống gần gũi với thiên nhiên và thuận theo lẽ tự nhiên để mong có cuộc
sống bình yên giữa chốn cùng trời cuối đất này. Có thể thấy triết lí đó trong truyện Cao
khỉ U Minh. Chủ nhà Tư Huỳnh nài ép nhân vật “tôi” phải ăn thật nhiều cá. Ông triết lí
theo kiểu miệt vườn: cá ăn lăng quăng - muỗi để sống, con người ăn cá để sống, rồi muỗi
đốt lại con người để sống. Muỗi sinh sốt rét, muốn chữa thì phải ăn nhiều cá: “Bịnh ở đâu
thì thuốc ở đó” [9, tr.164]. Nhân vật Hai Khị cũng đúc kết nên một quy luật tự nhiên
khác trong rừng U Minh: “Xưa kia, thiên địa tuần hoàn theo luật riêng. Hết cọp, khỉ sống
hoài thành… chúa sơn lâm” [9, tr.165]. Ông Cai Thoại giết cọp nhiều quá nên làm khỉ
sinh đẻ nhiều, “làm thay đổi luật trời đất” (Hai cõi U Minh) [8]. Bởi vậy, nhiệm vụ của
ông Hai Khị là giết bớt khỉ để cân bằng sinh thái. Tóm lại, họ quan niệm vạn vật nhất thể,
có chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau nên từ đó sinh ra cách cư xử hài hoà giữa ba yếu tố
Thiên – Địa – Nhân.
2.2. Sinh hoạt tín ngưỡng
Văn xuôi của Sơn Nam cũng phản ánh hình thức sinh hoạt tín ngưỡng của người dân
Nam Bộ trong quá trình đi mở cõi. Họ là những con người ít học và đa số chưa thấm
nhuần các triết lí tôn giáo nhưng vẫn thành thật tin ở thần thánh. Có thể thấy niềm tin
chất phác của họ qua lời của nhân vật chú Tư Đức trong truyện Sông Gành Hào: “Tôi
5
chưa hiểu hai tiếng tín ngưỡng là gì. Tôi tin Trời, tin Phật, thờ cha kính mẹ, quý mến ông
già bà cả” [11, tr.187]. Hình như họ tin tất cả các loại thần thánh. Điều đó cho thấy khả
năng dung hợp văn hoá rất lớn của con người Nam Bộ.
Con người Nam Bộ sống trong địa bàn sông nước nên cũng có nhiều sinh hoạt văn
hoá liên quan tới sông nước. Mỗi năm khi mãn mùa lúa, người Khmer Nam Bộ thường
làm lễ tạ ơn nước, vì nhờ nước mà lúa được xanh tươi, con người no ấm. Trong lễ hội
này, người ta tổ chức đua thuyền. “Chiếc ghe ngo” “là hiện thân của rắn thần Naga, linh
hiển lắm. Hồi đức Thích Ca ngồi thiền bên bờ hồ giữa rừng, rắn Naga là thần ác. Hôm
ấy mưa to gió lớn, đức Thích Ca cảm hoá được rắn. Rắn bèn quấn tròn chung quanh và
Sống trên một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, người dân Nam Bộ không phải lo
lắng nhiều về vấn đề cơm áo. Cái nghèo của họ là cái nghèo phong lưu, thời gian nhàn rỗi
nhiều, ăn chơi thoả sức. Một số vùng đất đai phì nhiêu, không cần bón phân, mãn mùa
lúa, đến mùa dưa hấu trồng ngay trên ruộng, một vốn bốn lời nên "họ tha hồ ăn xài suốt
6
tháng giêng cờ bạc, đờn ca vọng cổ lai rai đến lúc tháng ba sa mưa" [10, tr.11]. "Mấy tay
khá giả" thì thường "đánh ghe ra chợ Rạch Giá đánh me, đánh vổ. Hết tiền thì ngồi nhà
đờn ca vọng cổ hoặc nói chuyện tiếu lâm" [11, tr.155]. Hát hò trở thành một hình thức
vui chơi giải trí những lúc nhàn rỗi và “cốt để khuây khoả nỗi nhớ nhà". Ở vùng đất này,
có nhiều hình thức sinh hoạt văn nghệ, nhưng phổ biến nhất là ca vọng cổ, hát huê tình,
hát bội – cải lương…
Người dân Nam Bộ thường hát vọng cổ trong các buổi nhậu nhẹt tiệc tùng, "ban
đêm họ đốt đuốc ngoài sân để ăn uống, ca hát". Rượu vào, lời ra, khí thế hát hò tưng
bừng. Vọng cổ có âm điệu buồn, thích hợp cho việc bộc lộ nỗi nhớ nhà của những người
tha phương. Đó cũng cách thức để họ bộc lộ những nỗi lòng thầm kín trong tình yêu,
chuyện riêng tư gia đình đến chuyện nhân tình thế thái. Khán giả của họ cũng là những
bạn nhậu hoặc đàn bà, trẻ con: "Cả bọn vỗ tay rôm rốp. Tiếng ca vọng cổ bắt đầu. Anh tài
tử nọ hớp miếng rượu, gỡ con khô cá sặc nướng, vừa nhai vừa nghĩ ngợi. Khi câu rao
đờn ghi - ta vừa dứt, nhạc sĩ gõ vào thùng đàn một tiếng "cốp" thì anh tài tử nọ cũng vừa
nuốt xong một miếng khô. Anh ta ca một câu khá dài, đại khái nói về tâm sự bi hùng của
tráng sĩ Kinh Kha" [11, tr. 50].
Đi kèm với lời ca vọng cổ là phần đệm nhạc, họ có gì đệm nấy, có khi gõ đũa vào
thùng thiếc, vào mâm chén cũng thành ra nhạc hẳn hoi. Có khi sang trọng hơn, nhạc cụ là
đàn kìm, đàn ghi ta. Truyện ngắn Ông già xay lúa miêu tả một khung cảnh khá điển hình
cho hình thức sinh hoạt văn nghệ của người dân Nam Bộ. Ông Năm đang xay lúa, bên
cạnh ông là tiệc rượu. Ai làm cứ làm, ai hát cứ hát, ai đánh đàn cứ đánh: "Kế bên ông
Năm, đờn Kìm trỗi giọng không, na ná như tiếng gà mổ vào nia. Đờn "ghi ta" hoà theo,
tuy nhanh nhưng buông rõ rệt từng giọng đồng, kém dồn dập hơn giọng đờn ở bên Tây
Ban Nha tuyệt vời" [11, tr.157].
xong bây giờ đến lợp lá, lót sàn. Đêm hát ra mắt vui quá là vui " [10, tr.20].
Ngoài các hình thức hát hò nêu trên, ta còn thấy có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá
khác nữa trong truyện của Sơn Nam. Đó là lối kể chuyện hài kiểu bác Ba Phi, lối nói thơ,
ra thai đố, hội đua thuyền… Một số truyện viết về đô thị Sài Gòn có hình thức sinh hoạt
văn hoá đa dạng hơn nhưng đã bị lai tạp nền văn minh phương Tây khá nhiều.
3. KẾT LUẬN
C.G. Jung đã có lí khi cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật như một cái cây mọc lên từ
mảnh đất nuôi dưỡng nó”. Mảnh đất Nam Bộ bạt ngàn, màu mỡ đã ươm mầm, nuôi
dưỡng những trang văn của Sơn Nam. Và ngày nay, đọc lại những trang văn ấy, ta vẫn
cảm nhận được những sinh thể quá khứ đang cựa quậy, nói cho ta biết rất nhiều điều về
nếp sống văn hoá của cha ông. Trong thời buổi hội nhập thế giới ngày nay, nhiều giá trị
văn hoá thay đổi rất nhanh, nhưng những giá trị văn hoá Nam Bộ sẽ được bảo tồn nếu
như chúng ta có ý thức gìn giữ nó.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Hạnh (2007), “Văn hoá như nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn
chương”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 01.
2. Trần Thị Hạnh (2010), “Sự hướng thiện của các nhân vật trong tiểu thuyết Sơn Nam”,
Tạp chí Khoa học Công nghệ - Đại học Đà Nẵng, số 6 (41).
3. Phan Hoàng (1998), “Sơn Nam - nhà văn, nhà Nam Bộ học”, sách Phỏng vấn người
Sài Gòn, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
4. Hoàng Lâm (1991), “Trò chuyện với nhà văn Sơn Nam”, báo Văn nghệ, số 16 (02).
5. Sơn Nam (2006), Vạch một chân trời - Chim quyên xuống đất, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí
Minh.
6. Sơn Nam (2007), Bà Chúa Hòn, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
7. Sơn Nam (2007), Sài Gòn xưa - Ấn tượng 300 năm - Tiếp cận với Đồng bằng sông
Cửu Long, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
8. Sơn Nam (2009), Biển cỏ miền Tây và Hình bóng cũ, Nxb Trẻ
9. Sơn Nam (2011), Hương rừng Cà Mau, tập 1, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
10. Sơn Nam (2012), Hương rừng Cà Mau, tập 2, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh