Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƢỜ
ĐỒNG VĂN LƢU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI,
SỨC SẢN XUẤT CỦA ĐÀ ĐIỂU NUÔI THỊT
VÀ SINH SẢN TẠI BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực do chúng tôi, cũng nhƣ sự hợp tác
tập thể trong và ngoài cơ quan khảo sát nghiên cứu và chƣa đƣợc công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đƣợc ghi rõ nguồn gốc.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này.
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Tác giả Đồng Văn Lưu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
1
1. Sự cần thiết phải tiến hành đề tài nghiên cứu 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Tính mới của đề tài 3
ọc 3
ực tiễn 3
Chƣơng 1. 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Nguồn gốc và phân loại đà điểu 4
t Nam 6
1.1.3. Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội của Bắc Kạn 9
,
gia cầm 11
14
20
, lông, da…) 27
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 29
29
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
32
3.3.4. Sinh trƣởng tƣơng đối 60
3.3.5. Thu nhận và chuyển hóa thức ăn 61
3.3.6. Tiêu tốn thức ăn qua các giai đoạn tuổi 63
3.3.7. Chi phí thức ăn trên 1 kg khối lƣợng sống 64
3.3.8. Kết quả ả năng cho thịt 65
3.3.9. Đánh giá khả năng thích nghi của đà điểu nuôi thịt tại Bắc Kạn 67
Ề 69
1. Kết luận 69
2. Tồn tại 69
3. Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 76
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
cs : cộng sự
ĐĐ : Đà điểu
ĐVT : Đơn vị tính
KL : Khối lƣợng
LTĂTN : Lô thức ăn thí nghiệm
MN : Mới nở
NS : Năng suất
PTNT : Phát triển nông thôn
TĂ : Thức ăn
TBKT : Thiết bị kỹ thuật
T.C.V.N : Tiêu chuẩn Việt nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Ống dẫn trứng đƣờng sinh sản của đà điểu mái 16
Hình 3.1: Đồ thị khối lƣợng tích lũy qua các giai đoạn tuổi 47
Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ đẻ của đà điểu mái theo tuổi 50
Hình 3.3: Một số chỉ tiêu trứng ấp theo tuổi đẻ của đà điểu 52
Hình 3.4: Sinh trƣởng tích lũy của đà điểu trống và mái 57
Hình 3.5: Sinh trƣởng tuyệt đối của đà điểu từ mới nở đến 12 tháng tuổi 59 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1
1. Sự cần thiết phải tiến hành đề tài nghiên cứu
Đà điểu là loại gia cầm có khả năng thích ứng cao, đề kháng tốt với một
số bệnh nguy hiểm của gia cầm, tạp ăn, chúng có thể tiêu hóa đƣợc 38-60%
chất xơ trong khẩu phần và cung cấp đến 70% tổng năng lƣợng trao đổi
(Chamber J.R., 1990) [29], dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao, yêu cầu chuồng trại
đơn giản, thích hợp với chăn nuôi gia đình và trang trại. Về thƣơng phẩm, thịt
đà điểu màu đỏ gần giống nhƣ thịt bò, nhƣng đặc biệt hầu nhƣ không có mỡ
và gân, giàu protein, hàm lƣợng cholesterol rất thấp, vì thế thịt đà điểu đƣợc
coi là thịt sạch của thế kỷ XXI. Các sản phẩm da, lông, trứng đà điểu đều có
giá trị kinh tế cao, nhất là sản phẩm da. Nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm chế
, trong đó đất nông lâm nghiệp là
3.323,3 km
2
, dân số 294.660 ngƣời. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Bắc
Kạn từ 21- 23
0
C thấp hơn nhiều so với các khu vực khác. Lƣợng mƣa trung
bình hàng năm của Bắc Kạn khoảng 1.400 - 1.800 mm, ẩm độ trung bình/năm
của Bắc Kạn thuộc loại cao (trên 80%). Bên cạnh đó, Bắc Kạn còn có tiềm
năng lớn về diện tích đất trồng cỏ. Nhằm phát huy đƣợc tiềm năng lợi thế của
tỉnh Bắc Kạn, năm 2007 và 2008 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy
Phƣơng đã chuyển giao 110 con đà điểu nuôi sinh sản và nuôi thịt tại hai
huyện Ngân Sơn và Bạch Thông.
Bắc Kạn hiện đang là tỉnh nghèo, đời sống của ngƣời dân còn gặp
nhiều khó khăn; Bắc Kạn có khí hậu tƣơng đối phù hợp với điều kiện sống
của đà điểu. Nếu đánh giá đúng khả năng thích nghi của đà điểu tại khu vực
này sẽ mang lại cho ngƣời dân Bắc Kạn một nghề chăn nuôi đặc sản mới, góp
phần quan trọng vào sự nghiệp xoá đói, giảm nghèo tại địa phƣơng.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài "Đánh giá khả năng
thích nghi, sức sản xuất của đà điểu nuôi thịt và sinh sản tại Bắc Kạn".
2. Mục tiêu của đề tài
- bƣớc đầu về
tỷ lệ .
- sinh trƣở .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
3. Tính mới của đề tài
ợ , tỷ lệ
mảnh vỏ trứng có thể thấy các loài đà điểu này lớn hơn so với các loài hiện
nay. Theo Horbanczuk J.O. (2002) [49] cho rằng loài đà điểu có nguồn gốc từ
đại lục địa trƣớc khi bị đứt gãy. Theo giả thuyết của ông thì trung tâm phát tán
chính ở Nam Mỹ; tổ tiên loài Kiwi và Moa di chuyển qua vùng mà ngày nay
chính là Nam cực vào New Zealand rồi sau đó New Zealand bắt đầu tách khỏi
Nam cực. Aepyornithidae, loài chim quái bạc (gần đây mới bị tuyệt chủng) đã
di chuyển qua châu Phi rồi vào vùng mà nay chính là Madagasca sau đó mới
tách ra khỏi châu Phi vào nửa sau kỷ Phấn trắng. Các mẫu hóa thạch của các
loài liên quan đã đƣợc tìm thấy tại quần đảo Canary càng làm phong phú hơn
ý tƣởng trung tâm phát tán từ Nam Mỹ. Tổ tiên loài Emu và Cassowary di
chuyển qua Bắc Nam cực vào Australia ở thời điểm cuối thời kỳ Eocene khi
Australia tách rời khỏi Nam cực. Cuối cùng sau khi Nam Mỹ và châu Phi rạn
nứt vào cuối kỷ Phấn trắng (Turonian) thì loài đà điểu phân thành Rhea ở
Nam Mỹ và đà điểu ở châu Phi hiện nay.
Ngày nay chỉ còn lại duy nhất 1 loài Struthio camelus và đƣợc chia làm
4 phân loài chính gồm đà điểu Massai, đà điểu Bắc Phi, đà điểu Nam Phi và
đà điểu Somali.
Đà điểu Massai (Struthio camelus massaicus) - trải dài từ Kenya và một
phần Tanzania. Đầu có lông màu trắng, tròng mắt nâu. Cổ có lông tơ mọc
ngƣợc màu hồng nhạt hơn, lông con trống có màu nâu đen (Kreibich và
Summer, 1995) [50].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
Đà điểu Bắc Phi (Struthio camelus camelus) - trải dài phía Nam dãy
Atlas bao gồm Senegal, Nigeria, Sudan và Ethiopia. Trên đầu có lông tơ bao
phủ, tròng mắt nâu. Cổ có 1 ít lông phủ phía dƣới và màu đỏ tƣơi. Bắp đùi
con trống có màu đỏ tƣơi đến hồng xẫm với bộ lông màu đen xẫm (Kreibich
và Summer, 1995) [50].
1.1.2.1. Trên thế giới
Hiện nay ở các nƣớc châu Phi nhƣ Nam Phi, Zimbabwe, Namibia,
Châu Đại Dƣơng nhƣ Australia, là những nƣớc dẫn đầu về số lƣợng đà
điểu. Phát triển chăn nuôi đà điểu mạnh nhất cho đến nay thì Nam Phi vẫn
dẫn đầu trong sản xuất đà điểu. Số lƣợng đà điểu nhìn chung có xu hƣớng
tăng lên và tăng nhanh từ những năm 1990 trở lại đây ở khắp các châu lục
trong đó có Việt Nam.
Bảng 1.1: Số lƣợng đà điểu nuôi trên thế giới qua các giai đoạn
Năm
Số lƣợng đà điểu nuôi
Năm
Số lƣợng đà điểu nuôi
1860
Chỉ có chim hoang
1910
747.000
1865
80
1920
284.000
1870
10.000
1930
33.000
1875
32.274
1940
40.000
1880
cho biết số lƣợng đà điểu đƣợc nuôi ở một số nƣớc chủ yếu trên thế giới năm
1996 đƣợc thể hiện qua bảng 1.2:
Bảng 1.2: Số lƣợng đà điểu ở một số nƣớc trên thế giới năm 1996
Tên nƣớc
Đà điểu giống
Đà điểu nuôi thịt
Số trang trại
Nam Phi
30.000-35.000
300.000
400- 450
Mỹ
20.000
120.000
-
Zimbabwe
4.500
45.000
100
Israel
2.500-3.000
30.000
240
Australia
4.000
28.000
-
Canada
200-3.000
15.000
Nhƣ vậy, châu Âu trƣớc đây không những là thị trƣờng chính tiêu thụ
thịt đà điểu từ châu Phi mà ngày nay nhiều nƣớc đã tổ chức phát triển trang
trại nuôi đà điểu tiêu thụ ngay trên đất nƣớc mình.
Bắc Mỹ: Ngƣời Mỹ với sự nhận thức tiềm năng to lớn đối với loại thịt
đỏ có hàm lƣợng cholesteron và mỡ thấp sẽ thay thế đƣợc thịt bò vì vậy họ đã
tiến vào chăn nuôi đà điểu công nghiệp vào giữa những năm 1980. Một mốc
tiến quan trọng trong phát triển ngành chăn nuôi đà điểu ở Mỹ là sự ra đời của
hiệp hội đà điểu ở Hoa Kỳ (AOA) vào năm 1988. Với những đợt chọn lọc lai
tạo nghiêm ngặt ngƣời Mỹ đã tạo đƣợc dòng đà điểu mới đó là Black Nam
Phi. Cuối năm 2007, ở châu Mỹ các trang trại chăn nuôi đà điểu đã lên đến
830 trang trại lớn nhỏ và số lƣợng đà điểu giống ƣớc tính khoảng 4.500.
Châu Úc: Có khoảng vài trăm trang trại tại Australia với quy mô lớn
và chuyên môn hóa cao với số lƣợng đà điểu tăng lên nhanh chóng. Năm
2006 có 195 trang trại với tổng số đầu con giống đạt trên 190.000 con
Châu Á: Hiện nay các nƣớc có nền chăn nuôi đà điểu phát triển mạnh
mẽ nhƣ: Israel, Trung Quốc, Đài Loan… Israel có khoảng 50 trang trại
Ostrich và là nƣớc dẫn đầu về giết mổ đà điểu trên thế giới sau Nam Phi.
Đặc biệt những năm gần đây, đà điểu phát triển mạnh ở Trung Quốc.
Năm 2000, có khoảng 60.000 con nhƣng đến năm 2003 có 400 trang trại với
số đầu con đạt 80.000 tăng 2,5 lần so với những năm 1990. Hiện nay, ở Trung
Quốc có những trang trại sản xuất giống với quy mô tới 5.000 con và giao con
giống cho ngƣời dân để nuôi thƣơng phẩm. Chăn nuôi đà điểu đƣợc khép kín
liên hoàn từ sản xuất con giống, nuôi thịt giết mổ, chế biến sản phẩm, thịt, da,
trứng và thị trƣờng.
Nhật Bản có 60 trang trại nhƣng do đất đắt không có khả năng xây
dựng các trang trại lớn mà chỉ là thị trƣờng nhập khẩu thịt lớn. Gần đây, các
nƣớc nhƣ Ấn Độ, Hàn Quốc, Syria, Tiểu vƣơng quốc Ảrập thống nhất, Iran,
Iraq đang xúc tiến phát triển chăn nuôi đà điểu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
Tỉnh Bắc Kạn đƣợc tái lập vào ngày 01/01/1997, trên cơ sở tách 04
huyện, thị xã thuộc tỉnh Bắc Thái cũ và 02 huyện thuộc tỉnh Cao Bằng. Bắc
Kạn có tổng diện tích tự nhiên là 4.868,41 km
2
và dân số là 294.660 ngƣời,
với 07 dân tộc anh em cùng sinh sống. Là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa
vùng Đông Bắc. Phía Đông giáp Lạng Sơn. Phía Tây giáp Tuyên Quang. Phía
Nam giáp Thái Nguyên. Phía Bắc giáp Cao Bằng. Tỉnh có vị trí quan trọng về
mặt kinh tế và an ninh quốc phòng.
Bắc Kạn là tỉnh nằm trên quốc lộ 3 đi từ Hà Nội lên Cao Bằng - trục
quốc lộ quan trọng của vùng Đông Bắc, đồng thời nằm giữa các tỉnh có
tiềm năng phát triển kinh tế lớn. Chính quốc lộ 3 chia lãnh thổ thành 2
phần bằng nhau theo hƣớng Nam - Bắc, là vị trí thuận lợi để Bắc Kạn có
thể dễ dàng giao lƣu với tỉnh Cao Bằng và các tỉnh của Trung Quốc ở phía
Bắc, với tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội cũng nhƣ các tỉnh của vùng Đồng bằng
sông Hồng ở phía Nam.
Nhiệt độ trung bình hàng năm của Bắc Kạn từ 21 - 23
0
C. Nhƣng không
mang tính chất đồng nhất, mà có sự phân hóa thành hai mùa trong năm và
phân hóa giữa các vùng. Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa lạnh từ
tháng 11 đến tháng 03. Càng lên phía Bắc mùa lạnh càng kéo dài và lạnh hơn.
Lƣợng mƣa trung bình hàng năm của Bắc Kạn khoảng 1.400 - 1800
mm và đƣợc chia làm hai mùa rõ rệt mùa mƣa trùng với mùa nắng kéo dài từ
tháng 4 đến tháng 10 với 85 - 90% lƣợng mƣa cả năm. Thời gian còn lại là
mùa ít mƣa. Mùa ít mƣa với số ngày mƣa trong tháng là dƣới 10 ngày với
lƣợng mƣa không đáng kể. Độ ẩm cao (trên 85%) tạo ra nguồn đất đai màu
của con ngƣời để điều chỉnh phản ứng đó. Nghiên cứu thích nghi cũng là nghiên
cứu thay đổi những chỉ tiêu về ngoại hình, sinh lý, sinh sản, khả năng sản xuất,
khả năng chống chịu của con vật trong điều kiện sống mới so với môi trƣờng cũ
của nó và tác động của con ngƣời làm cho con vật thích ứng với điều kiện sống
mới, duy trì và nâng cao đƣợc sức sản xuất.
1.1.4.2. Mức độ thích nghi của vật nuôi
Đánh giá sự thích nghi của vật nuôi đƣợc xét theo ba mức độ thích nghi:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
Thích nghi ngắn hạn
Con vật chịu đựng đƣợc trong một thời gian ngắn, trong một giai đoạn
của đời sống, khi đƣợc đƣa từ một vùng này sang vùng khác có những điều
kiện tự nhiên hay nhân tạo khác với vùng cũ. Thời gian này giới hạn trong
vòng sinh sản của vật nuôi (một thế hệ).
Thích nghi trung bình
Là khoảng thời gian thích nghi chỉ giới hạn trong vài thế hệ của vật nuôi.
Thích nghi dài hạn
Qua nhiều thế hệ sau khi đƣợc đƣa sang vùng mới, giống vật nuôi đó
vẫn có kết quả sản xuất tốt, năng suất cao nhƣ nơi ở cũ, ta nói vật nuôi thích
nghi dài hạn.
Lưu ý: Nếu vật nuôi không thích nghi đƣợc khi thay đổi điều kiện sống,
có thể do bản thân không thích nghi và cũng có thể do ngƣời chăn nuôi không
tạo điều kiện thích hợp cho chúng sống hoặc do quản lý giống kém.
1.1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích nghi
Yếu tố di truyền (Đặc tính phẩm giống)
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Mỗi loài vật nuôi thích nghi ở
những vùng, mà tổ tiên của chúng đã sống lâu đời. Những giống địa phƣơng
là giống vật nuôi hình thành ở địa phƣơng đó, nó có tính di truyền ổn định.
nghi của vật nuôi. Do đó cần phải giới thiệu sản phẩm, tuyên truyền và ứng
dụng kỹ thuật chăn nuôi phù hợp với những giống vật nuôi mới.
Công tác giống
Trong một quần thể gia súc đều xảy ra các hiện tƣợng biến dị để thích
nghi với môi trƣờng sống mới và có thể di truyền những biến di này cho các
thế hệ sau. Ngƣời chăn nuôi sẽ chọn lọc những cá thể có biến dị tốt, thích
nghi với điều kiện sống mới và ghép đôi những cá thể tốt này hoặc ghép đôi
với con giống địa phƣơng để có thể tạo ra một quần thể mới có năng suất cao
hơn, thích nghi tốt hơn với điều kiện ngoại cảnh.
Cơ sở đánh giá khả năng thích nghi của vật nuôi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
Dựa trên sự thay đổi về sinh lý: Nhƣ thân nhiệt, mạch đập, tần số hô hấp…
Dựa trên sự thay đổi về khả năng tiếp nhận thức ăn, tiêu hóa hấp thu.
Dựa vào sự thay đổi về quá trình trao đổi chất, quá trình đồng hóa hay
dị hóa diễn ra mạnh hơn.
Dựa vào sự thay đổi về các chỉ tiêu sinh trƣởng, sinh sản, bệnh tật
* Mức độ thích nghi của vật nuôi đƣợc chia làm 3 loại:
Giống thích nghi với điều kiện sống mới thì sinh lý và phát dục bình thƣờng.
Giống thích nghi chƣa hoàn toàn với điều kiện sống mới thì phải trải
qua một số đời thuần chủng mới thích nghi đƣợc.
Giống không thích nghi đƣợc với điều kiện sống mới thì sẽ bị thoái hóa
qua một vài đời.
Ứng dụng thích nghi trong công tác giống
Khi nhập giống vật nuôi để nuôi thích nghi, thì việc đầu tiên cần hiểu
biết những đặc tính sinh học của giống đó, nhất là những tính trạng kinh tế
quan trọng nhƣ: Sinh trƣởng và phát dục theo giai đoạn, khối lƣợng cơ thể lúc
sơ sinh, lúc cai sữa, tuổi động dục lần đầu, tuổi cho sản phẩm đầu tiên, tuổi
tại buồng trứng trong quá trình phát triển phôi của con mái. Hầu hết trong số
chúng giảm đi và chỉ có một số cá thể khỏe mạnh mới tới đƣợc đích đến. Trong
mùa sinh sản, buồng trứng phát triển từ màng mỏng thành một ổ gồm nhiều kén
khác nhau về kích cỡ, từ rất nhỏ đến khi trứng chín với chu vi trên 10 cm.
Vòi trứng mang trứng và có một số chức năng bài tiết gắn với việc sản
sinh ra màng trứng. Nó có thể đƣợc chia ra làm 5 phần: miệng phễu, đoạn
phình, đoạn thắt, tử cung và âm đạo. Miệng phễu là phần trƣớc của vòi trứng
nằm gần nhất buồng trứng trong đó trứng đƣợc tập chung lại và xảy ra quá
trình thụ tinh. Trứng đƣợc thụ tinh di chuyển đến phần dài nhất của vòi trứng
“đoạn phình” tại đây chúng đƣợc lòng trắng bao bọc do quá trình kích thích