Tiểu luận môn Quản lý ngân sách nhà nước (khủng hoảng tài chính) - Pdf 24

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TIỂU LUẬN MÔN HỌC
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Tên tiểu luận:
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH NĂM 2008 VÀ CÁC CÔNG CỤ
TÀI CHÍNH CỦA CHÍNH PHỦ
HỌC VIÊN THỰC HIỆN:
LỚP CAO HỌC:
Cần Thơ, tháng 9 năm 2014
1
Contents
MỤC LỤC
2
I. LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế Mỹ diễn ra từ giữa năm 2008 dù đã
đi qua tuy nhiên hậu quả mà nó để lại cho nền kinh tế nhiều nước là hết sức
nặng nề, thậm chí đến lúc này nhiều nước vẫn đang gồng mình vật lộn với
những khó khăn mà nó để lại. Đây là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực,
bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp và bản thân nó lại là nguồn
gốc trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 - 2010. Khủng
hoảng Mỹ xảy ra với sự bất ngờ lớn của thế giới. Không ai có thể ngờ rằng một
tượng đài, một đầu tàu Thế giới lại có thể suy sụp nhanh đến như vậy và kéo
theo nó là bao nhiêu khó khăn mà cả Thế giới phải gánh chịu. Phạm vi ảnh
hưởng và mức độ thiệt hại về kinh tế của cuộc khủng hoảng này là rất lớn, đặc
biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng như hiện nay.
Nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng không thể tránh khỏi những ảnh hưởng
trực tiếp và gián tiếp của nó.
Vậy, khủng hoảng tài chính là gì? Cuộc khủng hoảng tại Mỹ bắt nguồn từ
đâu? Tại sao một cuộc khủng hoảng tại Mỹ lại có thể tạo ra làn sóng ảnh hưởng
lớn như vậy và như các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam đã ứng phó với

trữ ngoại tệ của Nhà nước sẽ cạn dần, Nhà nước buộc phải từ bỏ tỷ giá cố
định và tỷ giá sẽ tăng. Thêm vào đó, trên thị trường lại luôn tồn tại những
“bong bóng” đầu cơ, ẩn chứa nguy cơ đổ vỡ. Khi hầu hết những người tham
gia thị trường đều đổ xô đi mua một loại hàng hóa nào đó trên thị trường tài
4
chính (chẳng hạn như cổ phiếu, bất động sản), nhưng không nhằm mục đích
đầu tư lâu dài, mà chỉ mua với mục đích đầu cơ, với hi vọng sẽ bán ra với giá
cao hơn và thu lợi nhuận, điều này đẩy giá trị của các hàng hóa này lên cao,
vượt quá giá trị thực của nó. Tình trạng này xảy ra sẽ kéo theo những nguy cơ
đổ vỡ trên thị trường tài chính, do các nhà đầu tư ngắn hạn kiểu trên luôn
mua và bán theo xu hướng chung trên thị trường: họ mua vào khi thấy nhiều
người cùng mua, tạo những cơn sốt ảo trên thị trường và bán ra khi có nhiều
người cùng bán, gây tình trạng rớt giá, họ không cần hiểu biết nguyên do khi
nào cần mua vào, khi nào cần bán ra nên gọi là “tâm lý bầy, đàn”.
1.3. Khủng hoảng tài chính thế giới
Khi một quốc gia có đồng tiền mạnh đột ngột phá giá đồng tiền của mình
hoặc khi một nước mất đi khả năng hoàn trả các khoản nợ quốc gia, gây khủng
hoảng tiền tệ.
Khủng hoảng tài chính trong các tập đoàn Kinh tế: Các tập đoàn thường
vướng vào khủng hoảng tài chính do 2 lý do chủ yếu: do các kế hoạch đầu tư
không đúng đắn, không thu hồi được vốn đầu tư, dẫn tới việc không thanh toán
được các khoản vay đế đầu tư dẫn tới phá sản. Do bị hiệu ứng dây chuyền từ
khủng hoảng chung, khi đó các doanh nghiệp không vay được vốn đế đầu tư
hoặc các dự án đầu tư không thu hồi được vốn do tình trạng khủng hoảng.
Một số hướng giải quyết: Giải toả được những hoảng sợ về thanh khoản,
về tính lỏng bằng 2 chiến lược là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết
phục các thành viên thị trường rằng họ không cần phải ngay lập tức bán đi các
tài sản của mình. Để thị trường yên tâm thì cần có một cơ chế bảo hiếm tiền gửi
hoạt động tốt. Người đóng vai trò là cho vay cuối cùng là Ngân hàng trung ương
sẽ cung cấp thanh khoản cho thị trường và để thị trường tự phân bổ, điều tiết

cũng không thể ngăn cản Nhật, EU, Mỹ, Nga và nhiều quốc gia khác trên thế
giới rơi vào suy thoái trong quý IV năm đó. Theo cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên
bang Mỹ (FED) - Alan Greenspan, đây là cuộc khủng hoảng "hàng trăm năm
mới có một lần".
6
Sau nhiều động thái, đến tận cuối năm 2009, khu vực đồng tiền chung châu
Âu tuyên bố EU, trừ Hy Lạp và Tây Ban Nha, đã thoát khỏi suy thoái. Các nền
kinh tế khác như Nhật Bản, Singapore, Hong Kong (Trung Quốc), Đức, Pháp
cũng cho biết đã ra khỏi thời kỳ đen tối nhất. Với tăng trưởng quý III đạt 2,2%,
nền kinh tế lớn nhất thế giới - Mỹ cũng đã qua đáy sau 4 quý tăng trưởng âm
liên tiếp.
Với kết quả như vậy, "suy thoái kép" - cụm từ ám ảnh các nhà quản lý
cũng như chuyên gia kinh tế suốt vài năm đã không trở thành sự thật. Tuy nhiên,
thay vào đó lại là hàng loạt những cuộc khủng hoảng mang tầm quốc gia hoặc
khu vực diễn ra trên khắp thế giới khi điểm yếu của mỗi nền kinh tế bộc lộ và bị
khoét sâu. 5 năm khủng hoảng, người ta đã chứng kiến một nước Mỹ với những
cuộc chơi tài chính rủi ro, lấn át cả kinh tế thực, một châu Âu ì ạch với những
khoản nợ công khổng lồ, Trung Quốc phát triển nóng và khó có khả năng "hạ
cánh mềm", trong khi Nhật Bản vốn đã chật vật với bài toán tiêu dùng trong
nước lại không may khi phải hứng chịu thảm họa kép động đất - sóng thần Với
những nghịch lý như vậy, theo Kinh tế trưởng của IMF - Olivier Blanchard cho
rằng dù đã qua khỏi giai đoạn tồi tệ nhất nhưng thế giới vẫn sẽ phải mất ít nhất
10 năm để lấy lại đà phục hồi như giai đoạn trước khủng hoảng. Nhận định này
không phải là quá bi quan nếu nhìn vào bức tranh kinh tế toàn cầu hiện nay.
Tại Mỹ, 5 năm sau khủng hoảng tài chính, nền kinh tế số một thế giới vẫn
chưa hoàn toàn hồi phục. Theo AP, đây là cuộc khủng hoảng có đà phục hồi
chậm chạp nhất kể từ Đại suy thoái những năm 1930. Riêng năm 2009, 140
ngân hàng Mỹ bị xóa sổ, GDP nước này cũng tăng trưởng âm 2,8%. Hai đại gia
sản xuất ôtô General Motors (GM) và Chrysler nộp đơn xin bảo hộ phá sản
trong cùng năm đó. Cuộc chiến nâng trần nợ công năm 2011 còn khiến Mỹ lần

Trái ngược với tình cảnh tại Mỹ và châu Âu, trong những năm đầu của
cuộc khủng hoảng, khu vực Đông Á – Thái Bình Dương lại là điểm sáng khi
đóng góp tới 40% tăng trưởng GDP thế giới. Những nền kinh tế châu Á, như
8
Nhật Bản, Singapore hay Hong Kong (Trung Quốc) cũng thoát khỏi suy thoái
tương đối sớm, hầu hết vào nửa cuối năm 2009.
Những bài học rút ra
Cho đến giờ, giới quan sát đưa ra kết luận là tài chính toàn cầu phải được
kiểm soát chặt chẽ hơn, chính sách tài chính của thế giới không còn là độc
quyền của một nhóm những cường quốc công nghiệp phát triển nhất hành tinh,
mà phải được mở rộng đến những nước ngày càng có trọng lượng lớn trên nền
kinh tế của toàn cầu, trong số này phải kể đến Trung Quốc, Brazil
Riêng đối với các nước nhỏ đang phát triển, đặc biệt là ở khu vực Đông
Nam Á, Giáo sư Trần Nam Bình, Đại học New South Wales, nhận định: "Những
nước nhỏ không thể chỉ trông chờ vào xuất khẩu và coi đây là một yếu tố tăng
trưởng lâu dài. Những nước này phải dần dần chuyển đổi để đẩy mạnh tiêu thụ
nội địa, chuyển đổi từ sản xuất để xuất khẩu qua các dịch vụ". Theo ông, bài học
chính chúng ta có thể rút ra được là: một nền kinh tế uyển chuyển, linh động có
nhiều khả năng cạnh tranh vẫn là mô hình tối ưu trong mọi tình huống.
Tóm lại khủng khoảng kinh tế thế giới năm 2008 là cuộc khủng khoảng
kinh tế đầu tiên của thế kỷ 21 nhưng không giống các cuộc khủng khoảng kinh
tế trước nó. Có thể gọi đây là cuộc khủng khoảng của các nhà băng, khủng
khoảng tín dụng hay cuộc khủng khoảng "phi vật chất" Có những ngày, những
tuần, hàng loạt ngân hàng tuyên bố phá sản, bị mua lại hoặc bị kiếm soát đặc
biệt. Thế giới đã thực sự chao đảo, nghiêng ngả bởi làn sóng sụp đổ của các nhà
băng. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã và sẽ ảnh
hưởng đến một số hoạt động của kinh tế nước ta, nhưng mức độ tác động không
lớn như các nước đang phát triển khác.
III. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM:

Cuộc khủng hoảng đã bước đầu có ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước
10
ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA). Số dự án FDI đăng ký mới
có xu hướng chững lại, trong tháng 10-2008, tổng số dự án đăng ký mới là 68
dự án với tổng vốn đăng ký là 2.02 tỉ USD, thấp hơn nhiều so với các tháng đầu
năm (9 tháng đầu năm có 885 dự án đăng ký với tổng số vốn đăng ký là 56,27 tỉ
USD). Khả năng giải ngân vốn FDI và ODA trong năm 2008 cũng đang chịu
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Về ngắn hạn, khủng hoảng ở Mỹ chưa có tác
động lớn đến Việt Nam do dòng vốn đầu tư vào Việt Nam hầu hết bắt nguồn từ
các nước và vùng lãnh thố trong khu vực như Xin-ga- po, Hàn Quốc, Nhật Bản,
Đài Loan, Mỹ chỉ đứng thứ 11 trong hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt
động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính đã không chỉ dừng lại ở Mỹ mà đã
lan sang các nước phát triển khác, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc
gia có đầu tư trục tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Các nước châu Á, nơi chiếm tới
80% dòng vốn đầu tư vào Việt Nam, cũng đang chịu tác động lớn của cuộc
khủng hoảng. Việc huy động vốn trên thế giới sẽ gặp nhiều khó khăn do chi phí
vốn trở nên đắt đỏ hơn. Hậu quả là các nhà đầu tư sẽ hạn chế tăng thêm đầu tư
mới và thực hiện các dự án đã cam kết. Đã có xu hướng một số công ty mẹ ở
chính quốc yêu cầu các chi nhánh tại Việt Nam phải giảm đầu tư để rút vốn về
tháo gỡ khó khăn cho các công ty mẹ. Do vậy, trong dài hạn, nếu khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế thế giới không bị chặn lại thì chắc chắn nó sẽ tác
động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
Giải ngân vốn FDI cũng có thể sẽ giảm, khi mà trong tình hình khó khăn
hiện nay, các công ty đầu tư vào Việt Nam sẽ thận trọng hơn trong kế hoạch tài
chính và đầu tư. Thêm vào đó, hầu hết các dự án đầu tư nói chung, dự án FDI
nói riêng, phần nợ vay thường chiếm một tỷ phần rất lớn trong tổng vốn đầu tư,
nên khi các tổ chức tài chính đang gặp khó khăn sẽ làm cho nhiều hợp đồng vay
vốn sẽ không được ký kết hoặc không thể giải ngân. Ngay cả các dự án FDI
đang triển khai cũng có thế bị chững lại, vì rất có thể, các công ty sẽ phải cân

nhất định và sẽ được khắc phục trong thời gian
12
Một điểm thuận lợi nữa của chúng ta là các nhà đầu tư lớn như Nhật Bản,
EU đã hướng vào khu vực Đông - Nam Á và có chiến lược đầu tư dài hạn trong
10 năm tới. Tại khu vực Đông - Nam Á, Nhật Bản hướng nhiều nhất vào Việt
Nam với chiến lược đầu tư nhất quán tư2 Chính phủ cho đến các tập đoàn lớn.
Các động thái gần đây của Nhật Bản đã rất rõ ràng và kiên quyết, cho dù trong
bất cứ hoàn cảnh nào, Việt Nam vẫn sẽ là nơi Nhật Bản phân bổ lại sản xuất của
họ. Nhật Bản cũng đã sáp nhập JICA và JBIC thành một quỹ viện trợ ODA
khổng lồ. Mục tiêu của quỹ này cũng hướng vào Đông - Nam Á, trong đó có
Việt Nam.
4. Về tăng trưởng kinh tế
Những tác động trực tiếp và gián tiếp nêu trên của khủng hoảng tài chính
thế giới đang và sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
của nước ta. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, biến động của kinh tế toàn
cầu sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng GDP của Việt Nam. Khi kinh tế toàn cầu suy
giảm, những thị trường xuất khẩu lớn của chúng ta như Mỹ, Nhật Bản, EƯ và
một số khu vực có nguy cơ bị thu hẹp, đồng thời thu hút đầu tư, cả gián tiếp và
trực tiếp của chúng ta cũng sẽ bị giảm sút. Kim ngạch xuất khẩu. Nhiều doanh
nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp khó khăn do tiêu
thụ hàng hóa giảm và thiếu vốn đầu tư.
IV. CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH CHÍNH PHỦ SỬ DỤNG SAU
KHỦNG HOẢNG:
1. Các công cụ tài chính của Chính phủ
Trước những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, ngay từ quý
1/2008 Chính phủ Việt Nam đưa ra một loạt giải pháp đế ngăn chặn, phòng
ngừa những hậu quả khôn lường của “cơn bão tài chính”. Rất may là Việt Nam
đã kịp thời áp dụng các biện pháp hợp lý để phòng vệ, chống bão ngay từ đầu
năm. Các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô đã phát huy tác dụng, lạm phát giảm,
tính thanh khoản giữa các ngân hàng được tăng cường, thanh khoản của thị

đó tạo điều kiện phát trien sản xuất trong nước góp phần giảm bội chi cán cân
14
thương mại. Mặc dù sau đó NHNN đã thực hiện nghiệp vụ thị trường mở đế hút
tiền trở lại nhưng chỉ thu lại được khoảng 82.000 tỉ. Tuy nhiên, việc làm này
vẫn làm gia tăng áp lực lớn về lạm phát vì với một lượng tiền quá lớn đã được
NHNN cung vào nền kinh tế. Thời kỳ này, NHNN thực hiện một loạt các biện
pháp quyết liệt phối hợp cùng chính sách tài khóa của chính phủ nhằm kiềm chế
lạm phát. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện quyết tâm của
Chính phủ chống lạm phát bằng câu nói nổi tiếng “hy sinh tăng trưởng để kiềm
chế lạm phát”. Chính sách tiền tệ thắt chặt cùng hàng loạt động thái quyết liệt
trên đã tạo ra một lực hút mạnh thu hút tiền từ lưu thông đồng thời làm giảm
mạnh việc cấp tín dụng của các NHTM ra thị trường. Và kết quả là lạm phát đã
được chặn đứng và bị đẩy lùi. Đồng thời Chính phủ cũng thực hiện chính sách
tài khóa “thắt lưng buộc bụng” nhằm hạn chế lượng tiền trong lưu thông như
tạm hoãn, giãn tiến độ các dự án đầu tư xây dựng cơ bản kém hiệu quả (tiết
kiệm hơn 40.000 tỉ VNĐ). Dồn vốn cho các dự án đầu tư mang lại hiệu quả tức
thời cho nền kinh tế như các dự án nhà máy lọc dầu, nhà máy điện, xi măng
.Chính phủ còn giao cho các đơn vị hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp nhà
nước phải tiết kiệm cho thường xuyên 10%, tăng cường chống thất thu thuế và
nuôi dưỡng nguồn thu, cơ cấu lại các khoản nợ và rà soát lại các khoản vay của
các doanh nghiệp nhà nước, tố chức đánh giá hiệu quả hoạt động của các tập
đoàn, tổng công ty thuộc sở hữu nhà nước.
• Giai đoạn thực thi chính sách tiền tệ mở rộng (từ cuối năm 2008-2009)
Chính sách tiền tệ bao giờ cũng có độ trễ thời gian nhất định. Việc “thắt
chặt” tiền tệ mạnh tay của Chính phủ đã có tác dụng làm giảm lạm phát nhanh
nhưng cũng làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại vì luồng tiền dành cho
nhu cầu đầu tư, tiêu dung giảm, lãi suất vay vốn quá cao làm cho các doanh
nghiệp không thể tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng, hàng loạt doanh nghiệp
vừa và nhỏ rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí phá sản. Nền kinh tế thế giới
rơi vào suy thoái, nhu cầu nhập hàng hóa giảm, chu chuyến vốn đầu tư FDI

NHNN đã chào mua qua kênh nghiệp vụ thị trường mở với khối lượng xấp xỉ
16
15.000 tỉ đồng/phiên để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD do nhu cầu thanh
toán tăng cao trong dịp tết dương lịch. Kỳ hạn chào mua được thực hiện linh
hoạt 7 ngày và 14 ngày với lãi suất chào mua tương ứng là 7%/năm và 7%-
8%/năm. Đồng thời để chủ động kiểm soát lạm phát và điều tiết linh hoạt vốn
khả dụng của các TCTD trong hệ thống, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu
NHNN với định kỳ 3 phiên/ tuần, kỳ hạn 3 và 6 tháng, phương thức đấu thầu lãi
suất, xét thầu thống nhất, nhưng trong số 68 phiên đấu thầu bán tín phiếu
NHNN có 2 phiên trúng thầu với doanh số đạt 102 tỉ đồng; mặt khác, NHNN
thực hiện hoán đổi ngoại tệ với các TCTD gặp khó khăn tam thời về nguồn vốn
bằng VNĐ, tạo điều kiện cho các TCTD cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn
VNĐ và ngoại tệ, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và tăng dự trữ ngoại hối
nhà nước. Kỳ hạn giao dịch hoán đối ngoại tệ được thực hiện là 3 tháng, 6
tháng, 12 tháng với lãi suất tương ứng là 6%/năm, 6.25%/năm, 6.5%/năm. Đến
cuối năm 2009, NHNN chỉ thực hiện giao dịch đổi với các kỳ hạn 3 tháng và 6
tháng với lãi suất được điều chỉnh tăng tương ứng lên mức 7.75%/năm và
8%/năm. Bên cạnh đó NHNN còn cho phép các TCTD xin chiết khấu, tái chiết
khấu và thanh toán trước hạn 20.300 tỉ tín phiếu bắt buộc đã mua trước hạn.
Hỗ trợ lãi suất: Đầu năm 2009, Chính phủ đã đưa ra gói kích cầu bao gồm
các nhóm giải pháp cơ bản:
- Với doanh nghiệp: giảm, giãn thuế TNDN, hỗ trợ lãi suất ở mức 4;
- Với dân cư: trợ cấp người nghèo, giãn/miễn thuế TNCN, giảm VAT, đào
tạo lao động;
- Về phía Chính phủ: tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng chi tiêu công, đẩy
mạnh xúc tiến thương mại để tăng xuất khẩu.
Nổi bật và có tác động rõ rệt nhất là chính sách hỗ trợ lãi suất mà ở đó vai
trò của hệ thống ngân hàng và các công cụ chính sách tiền tệ một lần nữa lại
được phát huy mạnh mẽ. Đen hết tháng 7/2009, tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi
suất của toàn hệ thống ngân hàng đã đạt 389.107 tỉ đồng, trong đó dư nợ đối với

- Giải pháp đẩy mạnh, kích cầu đầu tư và tiêu dùng;
18
- Thực hiện chính sách tài chính tiền tệ linh hoạt;
- Thực hiện sâu rộng chính sách an sinh và xã hội;
- Phối hợp tốt trong tổ chức chỉ đạo, điều hành
* Bài học rút ra từ khủng hoảng thực tế đã cho thấy, Trí tuệ và bản lĩnh
Việt Nam đã, đang và sẽ bị thử thách, kết quả chống lạm phát, vượt qua khủng
hoảng và triển vọng phát triển kinh tế bền vững ở nước ta sẽ còn tùy thuộc rất
lớn vào quyết tâm chính trị, nhận thức và cách thức giải quyết các điểm mấu
chốt sau: Phối hợp hài hòa bàn tay Nhà nước pháp quyền và bàn tay thị trường
Những cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính - tiền tệ khu vực và thế giới đã,
đang và sẽ còn chứng tỏ, khi “bàn tay hữu hình” của Nhà nước hoặc nắm quá
chặt, hoặc bị buông lỏng quá mức, và cả khi “bàn tay vô hình” của thị trường bị
lạm dụng và đề cao thái quá, thì đều có nguy cơ dẫn đến những cực đoan, ảnh
hưởng xấu đến nền kinh tế và thậm chí dẫn đến khủng hoảng nếu có những bất
đồng quá mức giữa nhà nước và thị trường. Các khiếm khuyết của thị trường tự
do phải được sửa chữa bằng sự can thiệp chủ động và tích cực của Nhà nước
kiểu mới, mang tính pháp quyền và đại diện cao hơn. Đặc biệt, cần sớm khắc
phục những bất cập về nhận thức và lạm dụng trong thực tế về quyền lực chủ
quan của nhà nước, về sức mạnh thị trường khách quan, về tính đa mục tiêu của
chính sách, cần nâng cao chất lượng xây dựng các quy hoạch, dự án; thực hiện
nghiêm túc các quy định về đấu thầu thực chất, chống thông thầu, ép thầu và các
gian lận thầu khác gây tổn hại lợi ích chung và dài hạn; tăng cường kiểm toán
độc lập, xây dựng và áp dụng rộng rãi hệ thống chỉ tiêu hiệu quả Về dài hạn, cần
chuyển nhanh từ mô hình “nhà nước – nhà đầu tư lớn nhất” và phát triển chủ
yếu theo bề rộng hiện nay, sang mô hình “nhà nước – nhà quản lý công” và phát
triển theo bề sâu, đi đôi với việc chuyển dịch nguồn động lực chính trong đầu tư
phát triển kinh tế từ khu vực kinh tế nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài nhà
nước; yêu cầu về tổ chức lại nền kinh tế và các doanh nghiệp trong nước sẽ cấp
thiết hơn nhằm tăng cường sự hợp tác, gắn kết, sức cạnh tranh và hiệu quả sản

vậy, phòng, chống tham nhũng đang là bài toán khó mà vẫn chưa có lời giải triệt
20
để. Nền kinh tế trong sạch vững mạnh không thể có hiện tượng tham nhũng.
Đảng và Nhà nước ta cần mạnh tay hơn nữa, đấu tranh không khoan nhượng với
nạn tham nhũng. Tất cả vì một Việt Nam tươi sang và vững mạnh hơn.
V. KẾT LUẬN
Mặc dù gần đây kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng
đã có những dấu hiệu phục hồi, nhưng khó khăn ở phía trước còn rất lớn. Để
ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới,
chúng ta vẫn cần tập trung thực hiện tốt một số giãi pháp sau đây:
1. Tiếp tục thực hiện 09 nhóm giải pháp về tài chính theo Nghị quyết
30/2008/NĐ-CP của Chính phủ, đồng thời tích cực chủ động triến khai các biện
pháp tài chính bổ sung theo tình hình mới gồm: Rà soát lại nhiệm vụ chi và sắp
xếp lại cho phù hợp. Có phương án tìm nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách, tăng
cường các biện pháp chống thất thu. Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành, địa
phương đẩy nhanh chủ trương xây nhà ở xã hội. cần chuẩn bị các phương án
kích cầu dự phòng trong trường hợp các giải pháp hiện nay chưa đủ liều lượng
để kích thích quá trình phục hồi kinh tế.
2. Chính sách tiền tệ hiện nay về cơ bản là đúng hướng. Tuy nhiên, do
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu chưa có hồi kết, tình hình sẽ
biến động liên tục nên về mặt liều lượng, phải bám sát diễn biến của thị trường.
Trong trường hợp cần thiết phải hạ lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu cho
phù hợp với tình hình lạm phát để thúc đẩy sản xuất trong nước. Bám sát tình
hình thị trường để điều chỉnh dần tỷ giá theo hướng có lợi cho xuất khẩu. Nâng
cao khả năng giám sát hệ thống để tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng. NHNN
chủ động giám sát các NHTM, tăng cường kiếm tra, kiếm toán nội bộ, khuyến
khích các NHTM tăng vốn đế đảm bảo an toàn hệ thống.
3. Tăng cường chỉ đạo, giám sát chặt chẽ tình hình thực hiện các giải pháp
kích cầu bù lãi suất, đảm bảo yêu cầu: đúng mục đích, thủ tục cho vay nhanh, có
sự kiểm tra, kiểm soát thường xuyên, liên tục các dự án cho vay.

bài học và kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng này hy vọng sẽ giúp cho nền
kinh tế Việt Nam nói riêng và Thế giới nói chung sẽ phát triển vững chắc trong
tương lai.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status