1. Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan thuộc chính phủ
Các cơ quan thuộc Chính phủ như trên đã đều không được quy định là cơ
quan tạo nên Chính phủ (Nội các). Và tương đồng với các nước, đây là
những cơ quan thuộc bộ máy hành pháp trung ương. Hiến pháp không
quy định cụ thể về cơ quan thuộc Chính phủ, mặc dù như trên đã nêu có
lúc quy định việc thành lập đòi hỏi sự phê chuẩn của Ủy ban thường vụ
Quốc hội. Nhưng càng ngày, thành lập các cơ quan này hoàn toàn mang
tính đặc trưng riêng của Chính phủ và cũng không đưa vào trong Luật tổ
chức Chính phủ.
Cơ cấu tổ chức của các cơ quan thuộc Chính phủ, cũng theo nguyên tắc
chung phân chia thành các bộ phận. Tuy nhiên, các cơ quan thuộc Chính
phủ không có chức năng quản lý nhà nước nên không có Cục và Tổng
cục. Các đầu mối của các cơ quan thuộc Chính phủ do từng cơ quan đó
đặt trên và Chính phủ phê duyệt.
Học viện Hành chính Quốc gia trước đây là cơ quan thuộc Chính phủ.
Và do đó, các đầu mối chính của Học viện Hành chính Quốc Gia đều
tương được với Vụ của các Bộ[]. Sau khi sáp nhập với Học viện Chính trị
- Hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh, cơ cấu tổ chức bộ máy của Học
viện Hành chính Quốc Gia không thay đổi cả về mức độ tương đương
phụ cấp.
Hiện nay, Học viện Hành chính trở lại tên Học viện Hành chính Quốc
Gia và là một cơ quan thuộc Bộ Nội vụ. Và nếu xem xét ý nghĩa đó, Học
viện Hành chính Quốc Gia sẽ là đầu mối tương đương với Tổng cục.
Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam là một trong tám cơ quan thuộc
chính phủ hiện nay (2014). Cơ cấu tổ chức bộ máy gồm:
1. Ban Tổ chức cán bộ.
2. Ban Kế hoạch - Tài chính.
3. Ban Quản lý Khoa học.
4. Ban Hợp tác quốc tế.
5. Văn phòng.
6. Viện Triết học.
35. Viện Thông tin Khoa học xã hội.
36. Trung tâm Phân tích và Dự báo.
37. Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin.
38. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
39. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam.
40. Học viện Khoa học xã hội.
41. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
42. Nhà xuất bản Từ điển bách khoa.
Nghị định của Chính phủ cũng quy định cụ thể vai trò của các tổ chức
cấu thành bộ máy của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. 5 đơn vị
là giúp việc cho Chủ tịch; 32 đơn vị hoạt động nghiên cứu khoa học và 5
đơn vị hoạt động mang tính sự nghiệp có thu.
Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trình Thủ tướng Chính
phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp còn lại trực thuộc Viện
Hàn lâm[].
2. Phân chia các đơn vị hành chính lãnh thổ
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều tiến hành phân chia lãnh thổ quốc
gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ khác nhau để phục vụ cho mục
đích quản lý các vấn đề của lãnh thổ đó.
Tùy thuộc vào thể chế nhà nước đơn nhất hay liên bang mà việc quy định
phân chia lãnh thổ thuộc pháp luật của Bang hay Liên bang hay của Nhà
nước đơn nhất.
Một trong những vấn đề được quan tâm trong việc tổ chức không gian
lãnh thổ chính là những dạng, cách thức phân chia lãnh thổ. Nhiều lĩnh
vực, không chỉ địa lý mà các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, hành
chính đều quan tâm.
Nhiều mô hình nghiên cứu cách thức hình thành các vùng lãnh thổ. Trong
đó, chú ý một số cơ sở/ căn cứ sau:
không gắn với những hoạt động quản lý các vấn đề của vùng lãnh
thổ. Đó là việc phân chia các đơn vị lãnh thổ nhằm mục đích để
hình thành các đơn vị bầu cử. Điều này nhằm tạo ra một sự bình
đẳng hơn khi tính toán tương quan cử tri trong các cuộc bầu cử.
Nếu gắn đơn vị bầu cử với từng đơn vị hành chính lãnh thổ theo
truyền thống có thể tạo nên lợi thế khác nhau. Đây cũng là chủ đề
được nhiều người quan tâm khi hình thành đơn vị bầu cử. Đây
cũng là cơ sở để thiết lập tính dẫn chủ, bình đẳng.Trong phân chia
lãnh thổ thành các phần khác nhau để quản lý, có rất nhiều cách
phân chia và không có những nguyên tắc để bảo đảm thống nhất.
Một số nhà nghiên cứu đề xuất một số định hướng sau:
- Tính lựa chọn đại diện;
- Bình đẳng;
- Độc lập, không thiên vị;
- Minh bạch, công khai;
- Không phân biệt.
- Tính đại diện.
Gắn liền với việc quản ly các vấn đề địa phương, công dân của
vùng đó sẽ bầu ra cơ quan đại diện nhân danh họ để thực hiện các
công việc này. Làm thế nào để cử tri của cộng đồng có cơ hội để
bầu ra người đại diện đích thực của họ. Điều này cũng có nghĩa nếu
chúng ta muốn xác lập địa giới hành chính gắn với bầu cử, thì ranh
giới đó phải phù hợp với lợi ích chung. Tuy nhiên, việc xác định
lợi ích chung hay những vấn đề chung có thể rất khác nhau, nhưng
chỉ khi nào đại diện cho người dân hay cử tri gắn với lợi ích chung
đó mới làm cho hoạt động của họ nhằm phục vụ cộng đồng. Khi
phân chia đơn vị lãnh thổ theo đơn vị bầu cử, các nhà tổ chức bầu
cử hướng đến: Bình đẳng đối với cử tri khi bầu; Ranh giới của
có thể được chia thành nhiều bộ phận khác nhau và có thể sử dụng cụm từ
“Department” để chỉ các bộ phận đó (hoặc bureau).
(2). Mô hình Bộ trưởng – các Thứ trưởng.
Trong mối quan hệ mang tính phân công, ủy quyền, Bộ trưởng giao trực
tiếp những các công việc chính cho các Thứ trưởng.
Các chức danh Thứ trưởng cũng có thể có những tên gọi khác nhau, tùy
theo từng quốc gia.
Ví dụ: Bộ Tài chính Nhật Bản bao gồm: Bộ trưởng; Thứ trưởng cao cấp;
Thứ trưởng hành chính; Thứ trưởng nhân sự; Thứ trưởng vấn đề quốc tế;
Thứ trưởng tổ chức quan hệ với Quốc hội.
Và chia thành 5 Cục (bureau) và một Văn phòng Thư ký Bộ trưởng. Mỗi
Cục chia thành các bộ phận, tên gọi có thể là Phòng.
Bộ Tài chính của New Zealand bao gồm: Bộ trưởng kiêm Phó Thủ
tướng, đồng thời là Bộ trưởng của 2 Bộ khác; 2 Bộ trưởng giúp việc và
chia thành nhiều cục.
Xu hướng chung hiện nay là các nước đang tổ chức lại bộ máy hành pháp
Trung ương trên nguyên tắc giảm số lượng các Bộ. Tuy nhiên không có
công thức chung về số lượng bao nhiêu Bộ là hợp lý. Vấn đề này tùy
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có 2 yếu tố cơ bản:
• Năng lực điều hành của người đứng đầu (Thủ tướng hay Tổng
thống)
• Đảng đa số cầm quyền hay liên minh cầm quyền
Đối với Chính phủ liên hợp, thông thường do sự đòi hỏi phải có số lượng
Bộ trưởng phân phối cho các các Đảng trong liên minh, nên số lượng Bộ
đòi hỏi nhiều hơn.
Năng lực hạn chế của Thủ tướng cũng có thể tạo nên số lượng Bộ nhiều
hơn.
- Các vùng lãnh thổ có những đặc trưng kinh tế có thể khai thác lợi
Thành viên Nội các phải nhận được sự ưng thuận của Tổng thống trong
quá trình làm việc, nếu không có thể bị cách chức hoặc chuyển qua vị trí
khác. Hiện nay Nội các của bộ máy hành pháp trung ương của Hợp chủng
Quốc Hoa kỳ chỉ có 15 thành viên hàm bộ trưởng:
• Ngoại giao.
• Kho bạc.
• Viện chưởng lý
• Quốc phòng
• Nội vụ;
• Nông nghiệp;
• Thương mại;
• Lao động;
• Y tế
• Nhà ở
• Vận tải
• Năng lượng
• Giáo dục
• Vấn đề cựu chiến binh;
• An ninh nội địa
Bên cạnh 15 Bộ trưởng (2013), 8 nhân vật khác không có hàm Bộ trưởng
cũng là thành viên Nội các (gọi chung là cấp Nội các):
•
•
•
•
•
•
•
•
Nội các chia thành một số tiểu ban,tập trung vào từng lĩnh vực cụ thể, đặc
biệt những lĩnh vực đòi hỏi sự phối hợp nhiều Bộ.
Nội các có hai tư cách trách nhiệm với Quốc hội: trách nhiệm tập thể của
Nội các và trách nhiệm cá nhân của từng Bộ trưởng.
Cuộc họp của Nội các có các thành viên là Bộ trưởng Nội các. Nhưng
một số Bộ trưởng không thuộc Nội các vẫn tham dự cuộc họp của Nội
các.
2.4.2.3.Nội các của chính phủ Nhật Bản ( Naikaku)
Nội các Chính phủ Nhật Bản có lịch sử lâu đời ( Năm1885). Đó là nhánh
hành pháp của Chính phủ Nhật Bản. Nội các bao gồm Thủ tướng và từ 14
đến 17 thành viên (chỉ có thể ít hơn)[]. Nhật Hoàng bổ nhiệm Thủ tướng
sau khi được Quốc hội thông qua và Thủ tướng bổ nhiệm, bãi nhiệm các
thành viên của Nội các.
Bộ máy hành pháp Nhật Bản hiện nay bao gồm 48 Bộ, trong đó có 19 Bộ
trưởng. Do đó mỗi một cá nhân đảm nhận nhiều vị trí Bộ trưởng ở các
Bộ[]. Nội các Nhật hiện nay bao gồm Thủ tướng và 13 Bộ trưởng.
2.4.2.4.Nội các của Chính phủ Malaysia
Hiến pháp Malaysia quy định về chủ thể được gọi là Nội các. Đó là
nhánh hành pháp của Chính phủ Malaysia. Nội các là Hội đồng Bộ
trưởng do Thủ tướng lãnh đạo và chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc
hội.
Không có quy định số thành viên Nội các trong các văn bản pháp luật
(khác với Nhật Bản quy định số lượng thành viên Nội các trong Luật Tổ
chức Nội các). Số lượng thành viên Nội các phụ thuộc vào ý chí của Thủ
tướng. Một trong những quy định là vị trí của Bộ trưởng Bộ tài chính.
Thủ tướng về lý thuyết có Phó Thủ tướng. Tuy nhiên, Thủ tướng có thể
thành lập Chính phủ mà không cần có Phó Thủ tướng. Số lượng Phó Thủ
tướng bị hạn chế - thường chỉ có 1 Phó thủ tướng. Hàm Bộ trưởng của
• Bộ trưởng Giáo dục;
• Bộ trưởng Thương mại;
• Chủ nhiệm Vấn đề Y tế và Kế hoạch gia đình;
• Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và Phát triển;
• Bộ trưởng Giao thông;
• Bộ trưởng Nội vụ;
• Bộ trưởng Bộ Lao động
• Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
2.4.2.7.Nội các Chính phủ Cộng hòa Pháp
Cộng hòa Pháp theo chế độ bán Tổng thống và do đó, bộ máy hành pháp
bao gồm Tổng thống và Thủ tướng. Nội các được gọi là Hội đồng Bộ
trưởng.
Nội các của bộ máy hành pháp nhằm chỉ các thành viên của Chính phủ
đặt dưới sự điều hành của Thủ tướng. Nội các bao gồm các Bộ trưởng và
các Bộ trưởng không Bộ (Junior).
Nội các chịu trách nhiệm với Nghị viện và do đó thông thường Nội các
được chọn từ thành viên của Đảng đa số trong Nghị viện hoặc Đảng liên
minh với Đảng đa số trong Nghị viện.
Nội các không có quyền đưa ra các văn bản quy phạm nếu như không
được sự phê chuẩn của Nghị viện. Trong giới hạn nhất định, Thủ tướng
có thể đưa ra những sắc lệnh của Chính phủ.
Nội các đóng vai trò chủ yếu trong việc xác định nghị sự của Nghị viện.
2.4.2.8. Nội các Chính phủ Đức
Cộng hòa Liên bang Đức là nhà nước theo thể chế Tổng thống. Tổng
thống là người đứng đầu nhà nước và Thủ tướng đứng đầu bộ máy hành
pháp trung ương (Liên bang).
Nội các của Chính phủ Đức là cơ quan hành pháp cao nhất của Cộng hòa
Liêng bang Đức. Nội các bao gồm Thủ tướng (Chancellor) và các Bộ
Về phương diện lý thuyết, cơ quan chấp hành (Uỷ ban) giống như mô
hình Hội đồng – Nhà quản lý chuyên nghiệp. Cơ quan này chỉ có chức
năng là chấp hành các quyết nghị của Hội đồng. Đồng thời là cơ quan
chấp hành nên nhiệm vụ chủ yếu là triển khai tổ chức thực hiện các quyết
định của Hội đồng dựa vào những điều kiện cụ thể của địa phương.
Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan chấp hành phụ thuộc vào từng cấp
lãnh thổ.
Là cơ quan chấp hành, cơ cấu tổ chức có thể giống như một tổ chức nói
chung. Có người đứng đầu cơ quan đó. Tên gọi có thể khác nhau, tùy
theo phong tục, tập quán, cũng như có thể quy định chung: Chủ tịch; thị
trưởng. Để hỗ trợ cho Chủ tịch, có thể có một số Phó Chủ tịch và những
người giúp việc khác.
Cơ quan chấp hành có thể là Ủy ban. Và do đó, Ủy ban chịu trách nhiệm
lãnh đạo, quản lý các bộ phận chuyên môn để thực thi quản lý công việc
hàng ngày trên đơn vị hành chính – lãnh thổ; triển khai tổ chức thực hiện
các quyết định của Hội đồng.
Đây là một trong những vấn đề cần nghiên cứu chi tiết cụ thể để có thể
vận dụng cải cách cách hoạt động hiện nay của chính quyền địa phương ở
Việt Nam.
6. Những nội dung cần trình bày được khi phân tích mối quan hệ giữa
các cơ quan cấu thành bộ máy hành pháp ở địa phương
+ Mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan
hành chính nhà nước cấp dưới
+ Giữa cơ quan cấp hành chính nhà nước cấp trên với HĐND cấp dưới
+ Giữa HĐND với cơ quan cấp hành chính nhà nước cùng cấp
+ Cơ quan chuyên môn cấp trên với cơ quan chuyên môn cấp dưới
+ Giữa HĐND cấp trên với HĐND cấp dưới