MỞ ĐẦU
Sau hơn 25 năm thực hiện chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta,
mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội đã được cải thiện vượt bậc, tạo cho Việt Nam
một bộ mặt với những thay đổi to lớn về diện mạo kinh tế mới trong mắt bạn bè
quốc tế. Cùng với sự thay đổi về cơ chế chính sách như vậy, nền kinh tế nước
nhà đã liên tục tăng trưởng qua các năm một cách ổn định và bền vững, tạo
nguồn lực tài chính để thúc đẩy sự phát triển lâu dài. Từ những thành tựu đã đạt
được Nhà nước ta đã không ngừng cải cách, đổi mới hệ thống Ngân sách Nhà
nước cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà
Đảng ta đã đề ra, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, giữ vững an ninh tài chính quốc gia, thúc đẩy hội nhập kinh tế,
quốc tế. Song song với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Ngân sách Nhà nước
là một trong những công cụ quan trọng. Sự tồn tại và phát triển của một Nhà
nước luôn luôn cần thiết phải có nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động chi
tiêu thường xuyên của những tổ chức, cơ quan đơn vị thuộc bộ máy quản lý Nhà
nước. Để đáp ứng nguồn kinh phí để đảm bảo cho các hoạt động như; Các cơ
quan quản lý Nhà nước, quân đội, cảnh sát, sự ngiệp văn hoá, giáo dục, y tế,
phúc lợi xã hội, đầu tư phát triển kinh tế đất nước thì Nhà nước phải tạo ra các
nguồn thu để bảo đảm, đó là nguồn thu từ các loại thuế và các nguồn khác. Tất
cả quá trình thu nộp và sử dụng nguồn kinh phí đó của Nhà nước đều phải được
phản ánh qua NSNN
Ngân sách huyện với tư cách là một bộ phận hữu cơ của Ngân sách Nhà
nước cùng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại phát triển của hệ thống
ngân sách Nhà nước. Nó có chức năng trung gian giữa cấp ngân sách Trung
ương, ngân sách cấp Tỉnh, thành phố và ngân sách cấp xã phường, thị trấn. Quản
lý và phân phối lại nguồn tài chính của địa phương nhận từ ngân sách cấp trên
Trang 1
hoặc từ nguồn thu được điều tiết theo quy định phát sinh trên địa bàn cho hoạt
động của bộ máy quản lý cấp huyện và bổ sung cân đối cho hoạt động của cấp
xã, phường, thị trấn. Ngân sách Nhà nước ta đã ra đời từ lâu, tuy nhiên nó chỉ
được thể chế thành Luật năm 1996 và có hiệu lực thi hành từ năm 1997. Trong
Ngân sách nhà nước tồn tại trong khoảng thời gian nhất định thường là
một năm.
Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát triển trong quá trình
nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn
với trách nhiệm.
1.1.2 Quản lý ngân sách nhà nước:
Quản lý NSNN là hoạt động của các chủ thể quản lý NSNN thông qua
việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác
động và điều khiển hoạt động của NSNN nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Quản lý NSNN thực chất là quản lý thu, chi NSNN và cân đối hệ thống
NSNN. Quản lý thu NSNN là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập
trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành qũy NSNN nhằm thỏa mãn
các nhu cầu của nhà nước. Quản lý chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử
dụng qũy NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những
nguyên tắc đã xác lập.
Trang 3
1.2. Nội dung cơ bản của quản lý ngân sách nhà nước:
Quản lý ngân sách nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành các hoạt động
chủ yếu của ngân sách nhà nước như thu, chi ngân sách và quyết toán ngân sách
nhà nước. Quản lý ngân sách nhà nước bao gồm các nội dung cơ bản như: quản
lý thu ngân sách, quản lý chi ngân sách, quản lý và thực hiện các biện pháp cân
đối ngân sách, quản lý chu trình ngân sách nhà nước. Dưới đây là nội dung chủ
yếu của quản lý ngân sách nhà nước:
1.2.1.Quản lý thu ngân sách:
* Nguồn thu của NSNN được quy định bởi pháp luật. Các nguồn thu chủ
yếu của NSNN bao gồm:
- Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí;
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước;
sách và các văn bản pháp luật khác. Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện
khi có các điều kiện sau đây:
+ Đã có trong dự toán ngân sách nhà nước được giao.
+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định.
+ Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy
quyền quyết định chi.
- Bảo đảm tiết kiệm hiệu quả: Chi ngân sách tiết kiệm là nguyên tắc
hàng đầu trong quản lý kinh tế, tài chính. Chính vì thế, Luật ngân sách nhà nước
và các văn bản pháp luật khác của nước ta quy định: “Người đứng đầu cơ quan,
tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện
Trang 5
pháp chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm trong phạm vi được phân
công quản lý”.
- Chi trực tiếp qua kho bạc: Một trong những chức năng quan trọng của
kho bạc nhà nước là quản lý quỹ ngân sách nhà nước. Kho bạc có trách nhiệm
kiểm soát mọi khoản chi ngân sách nhà nước, bảo đảm các khoản chi đúng mục
đích, đúng tiêu chuẩn, chế độ. Việc kiểm tra, kiểm soát được thực hiện trong tất
cả các khâu: trước, trong và sau quá trình cấp phát, kiểm tra hồ sơ, chứng từ,
điều kiện chi.
1.2.3. Quản lý và thực hiện các biện pháp cân đối ngân sách:
Cân đối NS lµ một cân đối lớn và quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
- NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu thuờng xuyên từ
thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thờng xuyên và góp phần tích luỹ ngày
càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp bội chi, thì số bội chi phải nhỏ
hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi NS.
- Ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không vượt quá
tổng số thu.
- Đối với cấp huyện và cấp xã, cân đối ngân sách xã phải bảo đảm
nguyên tắc chi không vượt quá nguồn thu quy định. Nghiêm cấm vay hoặc
chiếm dụng vốn dưới mọi hình thức để cân đối ngân sách xã, huyện.
Phòng, 03 bộ phận chuyên môn. Hiện có 15 biên chế:
- Ban lãnh đạo Phòng: 03 người; Trưởng phòng phụ trách chung kiêm
nhiệm lĩnh vực đầu tư xây dựng và đăng ký kinh doanh; một phó Trưởng phòng
phụ trách lĩnh vực ngân sách và một phó Trưởng phòng phụ trách lĩnh vực công
sản.
- Bộ phận ngân sách: 05 người
- Bộ phận đầu tư và đăng ký kinh doanh: 04 người
- Bộ phận công sản: 03 người
Phòng Tài chính - Kế hoạch làm việc theo chế độ Thủ trưởng, cấp dưới
chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh cấp trên theo quy định Luật cán bộ, công chức và
các văn bản quy định của Nhà nước hiện hành.
Trang 8
Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố ngoài chức năng tổng hợp xây
dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương
còn có chức năng chủ yếu sau: Trình Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành các
văn bản triển khai thực hiện các chính sách, chế độ và pháp luật về lĩnh vực tài
chính ngân sách; hướng dẫn các cơ quan, đơn vị dự toán ngân sách thuộc địa
phương, Uỷ ban nhân dân các phường, xã lập phương án phân bổ ngân sách báo
cáo Uỷ ban nhân dân thành phố, xây dựng dự toán ngân sách hàng năm.
2.2. Thực trạng công tác quản lý NSNN của Phòng Tài chính – Kế hoạch
thành phố Châu Đốc từ năm 2011 - 2013:
2.2.1. Tình hình thu, chi ngân sách qua các năm:
Dựa trên đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội của Thành phố cùng với
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về công tác quản lý điều hành Ngân sách địa
phương, Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc đã tập trung chỉ đạo, điều hành
về mọi mặt trong công tác quản lý Ngân sách huyện đảm bảo đúng chính sách,
chế độ và quy định của luật ngân sách Nhà nước.
Kể từ khi thực hiện Luật Ngân sách năm 2002. Công tác quản lý tài chính,
ngân sách của Phòng Tài chính – Kế hoạch đã đi vào nề nếp và phát huy hiệu
quả tích cực, các văn bản hướng dẫn dưới luật đã tạo ra điều kiện và hành lang
3. Chi SN văn xã 78.914 108.764 119.664
+ Chi SN giáo dục và đào tạo 64.926 88.084 98.116
+ Chi sự nghiệp y tế 307 126 600
+ Chi sự nghiệp VHTT 1.820 2.155 2.368
+ Chi SN phát thanh, truyền hình 1.109 2.318 2.499
+ Chi sự nghiệp TDTT 1.574 1.905 2.526
+ Chi đảm bảo xã hội 9.178 14.476 13.555
4. Chi quản lý hành chính 41.242 55.287 56.024
5. Chi an ninh quốc phòng ĐP 11.544 10.774 3.030
6. Chi khác 54.522 31.871 37.455
7. Chi ngân sách xã 39.579 44.368 43.330
2.2.2 Những nhận xét, đánh giá chung về tình hình quản lý NSNN trên địa
bàn thời gian qua:
Trang 10
2.2.2.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân:
a) Kết quả:
- Hàng năm Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố đều tiến hành xem xét
dự toán của các đợn vị thuộc ngân sách địa phương, dự toán thu do cơ quan thuế
lập, dự toán thu, chi Ngân sách của các phường, xã lập. Tổng hợp trình Ủy ban
nhân dân thành phố để báo cáo thường trực Hội đồng Nhân dân xem xét báo cáo
Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng gửi Sở Tài chính - Vật giá, Sở Kế hoạch - Đầu tư.
- Phòng Tài chính - Kế hoạch thường xuyên tham mưu giúp cho Ủy ban
nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân ra Nghị quyết phê chuẩn dự toán
thu, chi Ngân sách thành phố. Căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân thành phố ra quyết định về việc giao dự toán thu, chi Ngân
sách cho từng cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách địa phương và dự toán thu,
chi Ngân sách cho từng xã, phường. Do vậy, công tác quản lý, điều hành ngân
sách trên địa bàn được thuận lợi và đạt kết quả tích cực.
- Trong công tác lập dự toán ngân sách: Trong những năm qua hầu hết các
(trừ các khoản có tính chất lương và các khoản mua sắm sửa chữa lớn) theo đúng
chủ trương của Nhà nước, để bổ sung nguồn kinh phí tăng lương.
- Chấp hành dự toán ngân sách: Hàng năm, thành phố đã chấp hành dự
toán ngân sách Nhà nước theo đúng quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và
các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính, các văn bản cụ thể hoá của tỉnh. Công
tác quản lý điều hành ngân sách đã bám sát theo dự toán của Hội đồng nhân dân
đã phê duyệt.
Ngoài ra, khâu chấp hành dự toán ngân sách Nhà nước trên địa bàn thời
gain qua đã tương đối sát với dự toán được lập hàng năm. Về thu ngân sách trên
Trang 12
địa bàn hầu hết các chỉ tỉêu thu đầu đạt và vượt mức kế hoạch tỉnh giao cũng như
kế hoạch Hội đồng nhân dân thành phố giao
Chỉ tính riêng trong năm 2013, thu từ các hoạt động kinh tế trên địa bàn
đạt được kết quả như sau:
+ Thuế Doanh nghiệp nhà nước số thu 6 tỷ 300 triệu đồng, đạt 101% so dự
toán và bằng 460% so cùng kỳ năm 2011. Khoản thu này tăng nhiều so với cùng
kỳ năm 2011 là do Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo quyết liệt từ
đầu năm và thành lập bản chỉ đạo thu hồi nợ trong đó Phòng Tài chính – kế
hoạch và Chi cục thuế là cơ quan thường trực.
+ Thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh số thu 68 tỷ đồng đạt 94%
so dự toán và bằng 148% so cùng kỳ năm 2011 và chiếm tỷ trọng 16% cơ cấu
các nguồn thu.
+ Phí lệ phí số thu 17 tỷ 464 triệu đồng đạt 106% so dự toán và bằng
113% so cùng kỳ năm 2011 và chiếm tỷ trọng 4% cơ cấu các nguồn thu. Đối với
khoản thu này tỷ lệ thực hiện qua các năm đều tăng so dự toán
+ Các khoản thu còn lại chủ yếu là các khoản thu về đất với tổng số thu
178 tỷ 645 triệu đồng đạt 140,6% so dự toán và bằng 132% so cùng kỳ năm
2011 và chiếm tỷ trọng 43% cơ cấu các nguồn thu. Đây là khoản thu mà địa
phương được sử dụng 100% và tập trung để chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
kinh tế xã hội .
500.000đồng/tháng.
- Kế toán, quyết toán Ngân sách Nhà nước: Hàng năm phòng Tài chính -
Kế hoạch đã chủ động hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị thực hiện công tác lập
chứng từ, sổ sách, báo cáo quyết toán hàng quý nộp cho bộ phận chuyên môn
của phòng thẩm tra theo quý. Nhờ công tác thẩm tra thường xuyên do vậy khâu
Trang 14
kế toán, quyết toán Ngân sách Nhà nước trên địa bàn qua các năm đã đảm bảo
đúng quy định và thời gian cũng như các biểu mẫu do Bộ Tài chính ban
hành.Công tác kế toán, quyết toán ngân sách Nhà nước hàng năm đã cơ bản đáp
ứng đúng theo luật Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên do một số kế toán đơn vị, kế
toán ngân sách xã, phường còn kiêm nhiệm, chưa qua lớp đào tạo chuyên ngành
về kế toán, chỉ được tập huấn do phòng tổ chức vì thế trong khâu kế toán, quyết
toán cũng gặp không ít những khó khăn, vướng mắc. Song với tinh thần trách
nhiệm, cán bộ công nhân viên phòng Tài chính - Kế hoạch đã thường xuyên
kiểm tra, uốn nắn, hướng dẫn kịp thời cho nên công tác này qua các năm đã dần
đi vào nề nếp và đã thực hiện đảm bảo theo quy định của Nhà nước.
Tóm lại, công tác quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước ở thành phố Châu
Đốc những năm qua đã có những đóng góp tích cực, nâng cao hiệu quả sử dụng
ngân sách, chống thất thoát lãng phí. Trong công tác lập, chấp hành và quyết
toán ngân sách huyện đã thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước.
b) Nguyên nhân:
Việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thu chi NSNN trên địa bàn trong những
năm qua đạt được những mặt tích cực nêu trên là do các nguyên nhân chủ yếu
sau:
- Có sự chỉ đạo của Thành ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân thành
phố thông qua Nghị quyết đã đề ra và sự chỉ đạo của ngành tài chính cấp trên
nhằm khắc phục những mặt yếu kém trong việc thu và huy động thuế. Ủy ban
nhân nhân thành phố rất quan tâm đến công tác thu, chi ngân sách. Từ đó có sự
chỉ đạo quyết liệt, tập trung bằng những giải pháp kịp thời, đồng bộ.
- Công tác điều hành thu ngân sách được tập trung quyết liệt:
11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ.
Trang 16
- Công tác kiểm soát chi ngân sách được triển khai đảm bảo đúng quy định
của Luật Ngân sách Nhà nước về chi ngân sách, phân định rõ trách nhiệm của
các cơ quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước và đơn vị sử dụng ngân sách trong quá
trình chấp hành ngân sách.
- Thực hiện công khai hoá các thủ tục giao dịch về kiểm soát chi, thời gian
xử lý hồ sơ đảm bảo chính xác, nhanh gọn và đúng quy định. Các khỏan chi
không đúng chế độ đều được từ chối thanh toán. Việc xử lý các vấn đề vướng
mắc trong quá trình chấp hành ngân sách được giải quyết trên cơ sở đúng thẩm
quyền.
2.2.2.2.Những khó khan, hạn chế và nguyên nhân:
a) Khó khăn, hạn chế:
- Một số đơn vị do điều kiện khó khăn, trình độ hạn chế, công tác quản lý
còn bị buông lỏng nên việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách chưa được
chú ý đúng mức, từ đó dẫn đến hiệu quả sử dụng Ngân sách Nhà nước chưa đạt
hiệu quả cao.
- Công tác quản lý thu thiếu biểu hiện kiên quyết và đồng bộ, trong việc
kiểm tra, kiểm soát của từng cán bộ thu chưa thường xuyên, còn lỏng lẽo, xử lý
nợ tồn đọng còn dây dưa, chưa xử lý nghiêm đối với các hộ chây ỳ chống đối
chính sách thuế.
- Còn biểu hiện lãng phí trong việc sử dụng ngân sách nhà nước, công tác
quản lý chi ngân sách chưa thật sự chặt chẽ, đúng quy định.
- Sự phối hợp, hỗ trợ giữa ngành chuyên môn và các ngành có liên quan
chưa thường xuyên, chưa đồng bộ, chưa dấy lên phong trào thực hiện nghĩa vụ
giao nộp thuế của công dân.
- Một số nội dung chi thường xuyên đầu năm chưa ghi vào dự toán nên
trong quá trình thực hiện gặp nhiều trở ngại chưa kịp thời phải điều chỉnh, bổ
Trang 17
sung do đơn vị không lường hết được những nhiệm vụ đột xuất theo chỉ đạo của
3.1.1. Mục tiêu chung:
Phấn đấu duy trì tốc dộ tăng trưởng ở mức hợp lý để đảm bảo kinh tế - xã
hội phát triển đúng hướng và cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu đến năm
2015 và làm tiền đề cho kế hoạch 05 năm 2015 - 2020.
Quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước đúng mục đích, đúng kế hoạch,
đúng chế độ , định mức, tiết kiệm và có hiệu quả; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển
Trang 19
kinh tế - xã hội của địa phương; cân bằng thu, chi ngân sách, đảm bảo cân đối
chi thường xuyên và có tích lũy để chi đầu tư phát triển.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Phấn đấu hoàn thành dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm theo Nghị
quyết Hội đồng nhân dân thành phố. Trước hết hoàn thành chỉ tiêu thu chủ yếu
để cân đối ngân sách nhằm đáp ứng được nhiệm vụ chi theo các mục tiêu đã đề
ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Thường xuyên đẩy mạnh các biện pháp quản lý tài chính ngân sách, công
sản.
- Đẩy mạnh các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống
tham nhũng trên các lĩnh vực đầu tư xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
ngân sách Nhà nước.
- Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, giải quyết nhanh chóng không để
tồn đọng.
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước của
Phòng Tài chính – kế hoạch thành phố Châu Đốc đến năm 2020:
3.2.1. Khâu xây dựng, lập dự toán Ngân sách phải chính xác, sát thực tế.
Công tác lập dự toán là khâu đầu tiên của quá trình quản lý Ngân sách, Do
đó chất lượng công tác quản lý Ngân sách đều phụ thuộc vào khâu lập dự toán.
Lập dự toán Ngân sách là việc lên kế hoạch cụ thể, chi tiết cho các chỉ tiêu thu
và các nội dung chi Ngân sách cho năm Ngân sách hàng năm, toàn bộ các dự
kiến về các khoản thu như (các loại thuế, phí, lệ phí, thu bổ sung . . .) và các nội
dung chi như (chi đầu tư phát triển, thường xuyên,. . .) đều được thể hiện rõ nét.
quy trình quản lý thu NSNN, đảm bảo xử lý dữ liệu thu NSNN theo thời gian
thực. Mở rộng phương thức thu nộp thuế bằng tiền mặt tại các điểm giao dịch
Trang 21
của ngân hàng, bưu điện. Thực hiện rộng rãi các phương thức thu nộp hiện đại
như thu nộp qua thẻ tín dụng.
- Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi công năng một số nhà, đất, trụ sở
cơ quan nhà nước nhằm tập trung nhanh nguồn vốn để thanh tóan vốn đầu tư xây
dựng cơ bản đạt yêu cầu kế họach dề ra.
- Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế theo kế
hoạch đối với các ngành nghề trọng điểm.
- Tăng cường quản lý các khoản thu sự nghiệp, phí và lệ phí, thu quỹ đất
công và thu khác theo quy định.
- Bên cạnh các khoản thu về thuế cần quản lý tốt các khoản thu từ việc huy
động đóng góp của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng chăm lo việc chung phải
có phương án cụ thể và được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc quản lý sử dụng
các khoản đóng góp của nhân dân, phải được thực hiện đúng mục đích, công
khai, dân chủ.
- Hoàn thành tốt nhiệm vụ hành chính, cải tiến qui trình thủ tục nhằm rút
ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cho công dân, cho tổ chức, doanh nghiệp.
3.2.3. Quản lý chi theo đúng các nguyên tắc, tiết kiệm, hiệu quả:
- Trước kỳ họp Hội đồng nhân dân cuối năm Ủy ban nhân dân thành phố
phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch làm việc với các đơn vị và Ủy ban
nhân dân các phường, xã về dự toán cho phủ hợp với tình hình kinh tế phát triển
của địa phương.
- Trên cơ sở dự toán ngân sách do Hội đồng nhân dân thành phố giao
Phòng tài chính kế hoạch tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố ra quyết
định giao dự toán chi cho các đơn vị sử dụng ngân sách và phường, xã đúng quy
định.
Trang 22
- Giảm các khoản chi không cần thiết trong dự toán và các khoản chi
Để tăng cường quản lý Ngân sách Nhà nước theo đúng qui định của luật
Ngân sách Nhà nước, cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu sắc Luật
Ngân sách Nhà nước tới toàn thể cán bộ và nhân dân. Đồng thời, trong quá trình
thực hiện phải tuân thủ nghiêm ngặt toàn bộ nội dung quản lý Ngân sách Nhà
nước đúng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các Nghị định,
hto6ng tư hướng dẫn có liên quan. Đây là căn cứ quan trọng để quản lý Ngân
sách , vì vậy cần triển khai áp dụng một cách đồng bộ, thống nhất. Các tổ chức,
các cơ quan, đơn vị dự toán của thành phố trong quá trình thực hiện phải tuân
thủ nghiêm ngặt tất cả các khâu: lập, chấp hành và kế toán, quyết toán Ngân
sách. Ủy ban nhân dân thành phố ra Quyết định phân bổ, giao dự toán ngân sách
cho các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố sau khi nhận được quyết định giao
nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Ủy ban nhân dân tỉnh, và Nghị quyết Hội đồng
nhân dân trước ngày 31/12 năm trước. Trong khi thực hiện dự toán Ngân sách:
Các tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách, các tổ chức được nhà nước hỗ trợ kinh
phí phải tổ chức thực hiện dự toán đúng quy định của điều khoản về luật Ngân
sách Nhà nước và các Nghị định, thông tư của Chính phủ hướng dẫn chấp hành
dự toán ngân sách.
Phòng Tài chính - Kế hoạch có trách nhiệm thẩm tra quyết toán thu, chi
ngân sách các cơ quan đơn vị, các phường, xã. Tổng hợp quyết toán Ngân sách
địa phương, báo cáo gồm quyết toán thu, chi ngân sách và quyết toán thu, chi
ngân sách các xã, phường trình Ủy ban nhân dân thành phố xem xét phê duyệt.
3.2.6. Tăng cường Công tác tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Trang 24
Công tác đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ làm công tác tài chính, kế
toán của thành phố được xem là một trong những giải pháp tích cực, góp phần
nâng cao năng lực, hiệu quả trong công tác quản lý điều hành Ngân sách Nhà
nước địa phương. Để quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ thành phố đi vào nề
nếp, chính quy, hiện đại, đảm bảo đúng cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý cán
bộ của Đảng. Đội ngũ cán bộ phải ổn định, chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất,
năng lực thực hiện nhiệm vụ, trong sạch, tận tụy phục vụ, thực sự là cầu nối giữa