TIỂU LUẬN MÔN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC - Pdf 33

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Vai trò của Đảng và nhà nước trong nền kinh tế rất lớn đặc biệt kể từ sau
Đại hội Đảng lần VI năm 1986 đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát
triển kinh tế của nước ta. Với vai trò chèo lái vận mệnh của cả đất nước, sau
năm 1986 rất nhiều nhà máy, xí nghiệp mọc lên, đời sống của người dân được
cải thiện rõ rệt. Đây là một bước đi hoàn toàn đúng đắn. Vị thế Việt Nam trên
trường quốc tế đang được nâng lên đáng kể. Để có được những thành tựu đó,
Đảng và Nhà nước ta không ngừng nỗ lực, đổi mới và hoàn thiện mình để đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân và xã hội. Để đảm trách tốt được
vai trò này, Nhà nước cần có những biện pháp và công cụ hữu hiệu để can
thiệp vào hoạt động kinh tế. Một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước
can thiệp đúng lúc và kịp thời một cách toàn diện vào nền kinh tế chính là ngân
sách nhà nước. Trong xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, vấn đề cân đối
ngân sách nhà nước là rất quan trọng và cần được quan tâm đúng mức. Bởi lẽ,
ngân sách nhà nước là công cụ tài chính cốt yếu để Nhà nước điều phối toàn xã
hội, giải quyết những vấn đề khó khăn của đất nước, đem lại sự công bằng cho
người dân,… Nhưng để đảm bảo tốt những vai trò trên thì ngân sách nhà nước
phải được cân đối. Mà nhà nước quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) bằng
luật, thông qua luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định. Chính vì vậy,
năm 1996 Luật Ngân sách nhà nước ra đời, được sửa đổi năm 1998 và được
thay thế bằng Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 đã đánh dấu bước đổi mới
quan trọng trong quản lý ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn tình trạng hiệu quả sử dụng
NSNN thấp, thấp thoát, lãng phí. Thực tế ở Việt Nam trong thời gian vừa qua,
ngân sách nhà nước không ổn định và mất cân đối đã kéo theo những hậu quả
làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và nhiều vấn đề xã hội nảy
sinh như: thu vào ngân sách nhà nước không đủ chi dẫn đến nợ nước ngoài
nhiều, lạm phát tăng nhanh, không có nguồn tài chính để đầu tư đúng mức vào
1


tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng. Dưới chế độ phong kiến,
chi tiêu của nhà vua cho những mục đích công cộng như: đắp đê phòng chống
lũ lụt, xây dựng đường xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách
biệt nhau. Khi giai cấp tư sản lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và đòi
hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó nảy sinh khái niệm ngân sách Nhà
nước.
Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của
một đơn vị trong một thời gian nhất định. Một bảng tính toán các chi phí để
thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định
của một chủ thể nào đó. Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là ngân sách
Nhà nước.
Từ điển Tiếng Việt thông dụng định nghĩa: "Ngân sách là tổng số thu và
chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định."
Điều 1 của Luật ngân sách Nhà nước được Quốc hội khoá XI nước Cộng
hoà HCN Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002 ghi rõ: "Ngân
sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo
đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".
2. Các đặc trưng cơ bản của ngân sách Nhà nước
Từ điều trên, có thể thấy đặc trưng của ngân sách Nhà nước bao gồm:
- Về cơ cấu: ngân sách Nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản thu, khoản
chi của Nhà nước. Hình thức biểu hiện bên ngoài, ngân sách Nhà nước là một
3


bảng liệt kê các khoản thu khoản chi bằng tiền của Nhà nước được dự kiến và
cho phép trong một khoảng thời gian nhất định.
- Về mặt pháp lý: ngân sách Nhà nước phải được cơ quan có thẩm quyền
quyết định. Thẩm quyền quyết định ngân sách Nhà nước, ở hầu hết các nước là
thuộc về các cơ quan đại diện (Nghị viện). Ở Việt Nam, Quốc Hội cũng là cơ

Với tư cách một động từ, cân đối ngân sách Nhà nước có nghĩa là làm cho
tổng thu và tổng chi ngân sách Nhà nước được cân bằng.
Với tư cách một tính từ, ngân sách Nhà nước cân đối có nghĩa là tổng thu
và tổng chi có tương quan cân bằng.
Cân đối ngân sách Nhà nước nhằm mục đích đảm bảo tài chính cho Nhà
nước thực hiện được tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của mình, chứ không phải
đơn giản chỉ để tổng thu và tổng chi bằng nhau.
Cân đối ngân sách Nhà nước phải đảm bảo không chỉ cho tổng thu cân
bằng với tổng chi, mà còn phải đảm bảo cho cơ cấu thu, chi hợp lý; mối quan
hệ về lượng giữa thu chi ngân sách Nhà nước và thực trạng nền kinh tế; mối
quan hệ hợp lý giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương v.v…
Trong thực tiễn, cân đối ngân sách Nhà nước luôn ở trong trạng thái vận
động, không ngừng phát sinh mâu thuẫn giữa thu và chi, cũng như giữa các bộ
phận cấu thành ngân sách Nhà nước v.v…
Ngân sách nhà nước là một bảng kế hoạch tài chính của một quốc gia trong
đó dự trù các khoản thu và chi được thực hiện trong một năm Thu và chi ngân
sách là hai vấn đề quan trọng để đảm bảo cho ngân sách nhà nước được cân đối,
hai vấn đề này lại nằm trong mối tương quan giữa tài chính và kinh tế, vì kinh tế
có phát triển thì Nhà nước mới huy động được nguồn thu vào ngân sách nhà
nước, còn kinh tế không ổn định, kém phát triển thì nguồn thu vào ngân sách
nhà nước giảm và còn phải chi nhiều để hỗ trợ. Điều đó dễ dẫn đến ngân sách
nhà nước bị mất cân đối.
2. Đặc điểm cân đối ngân sách nhà nước
- Cân đối ngân sách nhà nước phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu
và chi ngân sách nhà nước trong năm ngân sách nhằm đạt được các mục tiêu
đã đề ra. Nó vừa là công cụ thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước, vừa
bị ảnh hưởng bởi các chỉ tiêu kinh tế- xã hội. Cân đối ngân sách nhà nước
không phải là để thu chi cân đối hoặc chỉ là cân đối đơn thuần về mặt lượng,
5


- Bội chi ngân sách nhà nước.
6


4. Tổ chức cân đối ngân sách nhà nước
Quá trình thu chi ngân sách Nhà nước bao giờ cũng ở trong trạng thái
biến đổi không ngừng và chuyển hoá giữa cân đối - không cân đối, không cân
đối - cân đối… Trong chính sách ngân sách, chúng ta hướng tới một ngân sách
Nhà nước "cân bằng thu, chi" (thu không bao gồm các khoản vay nợ).
4.1. Nguyên tắc thực hiện cân đối ngân sách Nhà nước ở nước ta
Theo Luật ngân sách Nhà nước 2002 thì:
Ngân sách Nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế,
phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày
càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải
nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách.
Bội chi ngân sách Nhà nước được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và
ngoài nước. Vay bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc
không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển và bảo
đảm bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn.
Về nguyên tắc, ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không
vượt quá tổng số thu; trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhu
cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp
tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh quyết định, nhưng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách
cấp tỉnh năm dự toán, thì được phép huy động vốn trong nước và phải cân đối
ngân sách cấp tỉnh hàng năm để chủ động trả hết nợ khi đến hạn. Mức dư nợ từ
nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong
nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh.
Cân đối thu chi ngân sách Nhà nước là một mặt cân đối lớn trong nền
kinh tế quốc dân, nó vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của các mặt cân đối

Dự toán ngân sách của các đơn vị dự toán, của các cấp chính quyền, các
bộ ngành được xây dựng theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức và lập chi tiết theo
mục lục ngân sách Nhà nước.
Dự toán ngân sách của các cấp được tổng hợp theo từng loại thu, từng
lĩnh vực chi theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả
nợ.
Dự toán ngân sách của các Bộ, cơ quan Trung ương, các cấp chính quyền
8


địa phương, các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương được tổng hợp theo
ngành kinh tế, và địa bàn lãnh thổ. Dự toán ngân sách các cấp được đảm bảo
cân đối theo nguyên tắc do luật ngân sách Nhà nước quy định.
Để cân đối ngân sách Nhà nước, trong những trường hợp nhất định, có
thể phải có sự điều chỉnh dự toán ngân sách Nhà nước năm.
Trường hợp có biến động lớn về ngân sách so với dự toán đã phân bổ cần
phải điều chỉnh tổng thể, Chính phủ lập dự án điều chỉnh ngân sách Nhà nước
trình Quốc hội, Uỷ ban nhân dân lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương
trình Hội đồng nhân dân theo quy trình lập, quyết định sử dụng quy định tại
luật ngân sách Nhà nước 2002.
Trường hợp có yêu cầu cấp bách về quốc phòng, an ninh hoặc vì lý
do khách quan cần phải điều chỉnh nhiệm vụ thu, chi của một số cơ quan, đơn
vị, địa phương, song không làm biến động lớn đến tổng thể và cơ cấu ngân
sách,
Chính phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh dự
toán ngân hàng Nhà nước và báo cáo Quốc hội, Uỷ ban nhân dân quyết định
điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương.
Để chủ động cân đối ngân sách Nhà nước, dự toán chi ngân sách Trung
ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương được bố trí khoản dự
phòng từ 2% đến 5% tổng số chi nhằm đáp ứng các nhu cầu chi phát sinh đột

phải hoàn trả trong năm, trừ trường hợp đặc biệt do Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quyết định.
Trong quá trình tổ chức cân đối ngân sách Nhà nước, cần phải khai thác
các nguồn thu một cách hợp lý, chống thất thoát nguồn thu của ngân sách Nhà
nước, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả; mọi tài
sản được đầu tư, mua sắm bằng nguồn ngân sách Nhà nước và tài sản khác của
Nhà nước phải được quản lý theo đúng chế độ quy định.
Việc ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật mới làm tăng chi hoặc
giảm thu ngân sách trong năm phải có nguồn tài chính đảm bảo.
Trong quá trình chấp hành ngân sách Nhà nước, nếu có sự thay đổi về
thu, chi, Thủ tướng Chính phủ và chủ tịch UBND các cấp thực hiện như sau:
Nếu tăng thu hoặc tiết kiệm chi so với dự toán được duyệt thì số tăng thu
hoặc tiết kiệm chi được dùng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ hoặc để bổ sung
10


quỹ dự trữ tài chính, hoặc chi một số khoản cần thiết khác, nhưng không được
chi về quỹ tiền lương, trừ trường hợp đặc biệt được cấp có thẩm quyền cho
phép.
Nếu giảm thu so với dự toán được duyệt thì phải sắp xếp lại để giảm một
số khoản chi tương ứng.
Nếu có nhu cầu so với dự toán được duyệt thì phải sắp xếp lại để giảm
một số khoản chi tương ứng.
Nếu có nhu cầu chi đột xuất ngoài dự toán nhưng không thể trì hoãn được
mà nguồn dự phòng không đủ đáp ứng thì phải sắp xếp lại các khoản chi, để có
nguồn đáp ứng nhu cầu chi đột xuất đó.
Khi thực hiện việc tăng, giảm thu, chi, Thủ tướng Chính phủ (đối với
ngân hàng TƯ), chủ tịch UBND (đối với ngân sách địa phương) phải báo cáo
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân cùng cấp vào
kỳ họp gần nhất.

của năm trước nếu được cấp có thẩm quyền quyết định cho chi tiếp vào niên
độ ngân sách Nhà nước năm trước; đối chiếu và điều chỉnh những sai sót trong
quá trình hạch toán kế toán.
Trong khâu quyết toán sẽ phải đánh giá hoạt động ngân sách Nhà nước
năm đã qua, trong đó có vấn đề tổ chức cân đối ngân sách Nhà nước…, nhằm
rút ra kinh nghiệm tốt áp dụng cho năm tiếp theo.
Thật ra, tổ chức cân đối ngân sách Nhà nước cũng chỉ là một trong những
nội dung quan trọng của quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà
nước. Tất cả các giải pháp về kinh tế, tài chính, tổ chức v.v… để thực hiện tốt
việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà nước cũng là những giải pháp
để tổ chức cân đối ngân sách Nhà nước. Ngược lại, làm tốt việc tổ chức tốt cân
đối ngân sách Nhà nước, sẽ góp phần thực hiện tốt việc quản lý ngân sách Nhà
nước.
4.3. Nguyên tắc đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước
Cân đối ngân sách nhà nước ngoài sự cân bằng về thu, chi còn là sự hài
hoà, hợp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản thu, chi; các lĩnh vực; các
ngành; các cấp chính quyền thậm chí ngay cả giữa các thế hệ .
Đảm bảo cân đối ngân sách từ một đòi hỏi có tính chất khách quan xuất
phát từ vai trò nhà nước trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu
12


ổn định, hiệu quả và công bằng. Thông thường, khi thực hiện ngân sách các
khoản thu dự kiến sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Vì vậy, tính toán nhu cầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách là rất
quan trọng. Các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu
bù đắp.

13


14


- Các khoản thu không thường xuyên: thu từ kinh tế nhà nước, từ hoạt
động sự nghiệp, tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước; các
khoản thu khác.
2. Các khoản chi trong cân đối ngân sách nhà nước
Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của
Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
- Nhìn từ góc độ kinh tế: Chi ngân sách nhà nước là việc Nhà nước đã sử
dụng các hoạt động tài chính thông qua việc sử dụng ngân sách nhà nước để tài
trợ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước trong một
thời hạn nhất định.
- Nhìn từ góc độ pháp lý: Chi ngân sách nhà nước là một chế độ tài chính
đặc thù theo đó Nhà nước thể hiện quyền sở hữu của mình đối với ngân sách
nhà nước thông qua việc cấp phát tài chính cho những đối tượng thuộc diện
hưởng ngân sách nhà nước. Theo đó, chi ngân sách nhà nước được quy định tại
Khoản 2 Điều 2 Luật ngân sách nhà nước 2002:
“Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã
hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước,
chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của
pháp luật”.
Cơ cấu chi NSNN ở Việt Nam:
* Theo pháp luật về Ngân sách Nhà nước hiện hành ở nước ta, chi NSNN
bao gồm:
- Chi đầu tư phát triển về:
+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không
có khả năng thu hồi vốn;
+ Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các Doanh nghiệp Nhà nước; các tổ chức kinh

- Chi cho vay của NSTW.
- Chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
theo quy định tại khoản 3 điều 8 của Luật NSNN.
- Chi bổ sung Qũy dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 58 của Nghị
định 60/2003/NĐ – CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN.
- Chi bổ sung Ngân sách cấp trên cho Ngân sách cấp dưới.
16


- Chi chuyển nguồn Ngân sách từ Ngân sách năm trước sang Ngân sách
năm sau.
3. Thực trạng thu, chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam qua các năm
3.1. Giai đoạn 2010-2012
Trong giai đoạn 2010-2012 tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) giảm
liên tục từ 27,27% xuống còn 22,9% GDP. Điều đáng nói ở đây là hầu như tất
cả các khoản thu thành phần đều trong xu thế giảm (trừ dầu thô). Khu vực
ngoại gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu mặc dù có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian qua nhưng đóng
góp vào ngân sách cũng giảm mạnh. Điều này được giải thích là do kim ngạch
nhập khẩu các mặt hàng chịu thuế giảm.
Chẳng hạn năm 2012 một số mặt hàng có thuế suất cao giảm mạnh như ô
tô nguyên chiếc giảm 50% về lượng và giảm gần 40% về kim ngạch so với
năm trước, giảm thu ngân sách khoảng 13.370 tỉ đồng so với dự toán; xe máy
nguyên chiếc giảm 43% về lượng và giảm 24,3% về kim ngạch so với năm
trước, giảm thu ngân sách khoảng 880 tỉ đồng so với dự toán. Tương tự, linh
kiện và phụ tùng ô tô giảm 27% về kim ngạch, và giảm khoảng 5.070 tỉ đồng
về thu ngân sách; linh kiện và phụ tùng xe máy giảm 28% về kim ngạch, giảm
thu khoảng 2.650 tỉ đồng so với dự toán... Thêm vào đó thuế suất đối với nhập
khẩu xăng dầu thấp hơn 12% so với dự toán 20%, thuế suất xuất khẩu than chỉ
có 10% so với dự toán là 20% để bình ổn sản xuất.


thô

trợ

Đất

quốc

2010

27,27 17,4

5,20

3,01

1,22 0,46

doanh
3,25
6,04

3,21

0,55

2,59

2011

1,3

0,24

2,88

3,94

4,32

0,24

1,39

0

4,42

3

(Nguồn: Bộ Tài chính
17


Chú giải: SOE: Doanh nghiệp nhà nước; PIT: Thuế thu nhập)
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng mạnh mẽ thời gian qua
chủ yếu do những dự án mới được đưa vào sản xuất như Samsung tăng mạnh.
Những dự án này đang được hưởng các ưu đãi lớn từ nghĩa vụ đóng góp
NSNN, trong khi các dự án đã hoạt động lâu năm tại Việt Nam dường như
cũng bị ảnh hưởng mạnh của đợt suy giảm tăng trưởng này (ví dụ các doanh

xuyên
17,45
16,80
18,82

trợ
4,11
4,03
3,08
Nguồn Bộ Tài chính

Tình hình tám tháng đầu năm cũng chưa cho thấy sự cải thiện đối với
nguồn thu. Theo Tổng cục Thống kê trong tám tháng đầu năm 2013 các khoản
thu tăng 10,16% so với cùng kỳ năm 2012 trong đó thu nội địa tăng 11,54%,
thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 20,4%, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài (FIE) tăng 35,27% và thu thuế từ khu vực ngoài quốc doanh
tăng 18,36%; trong khi đó thu từ dầu thô giảm 4,94% và thu từ các doanh
18


nghiệp nhà nước giảm 0,22%. Cần lưu ý rằng tốc độ tăng trưởng GDP danh
nghĩa của Viêt Nam luôn cao hơn hai con số (năm 2012 là 16,75%, năm 2011
là 28,83% và năm 2010 là 19,27%). Do đó, nếu tốc độ tăng thu ngân sách vẫn
duy trì như tám tháng qua thì tỷ trọng thu ngân sách trên GDP của năm 2013
lại tiếp tục giảm. Điều này cũng cho thấy sự cải thiện mạnh mẽ của khu vực
ngoại trong đóng góp cho ngân sách là chưa đủ để cải thiện nguồn thu cho
ngân sách nhà nước.
3.2. Tình hình thu, chi ngân sách năm 2013
Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế, nhằm thực hiện tốt dự toán ngân
sách nhà nước (NSNN) năm 2013 và các nhiệm vụ khác, ngay từ đầu năm, Bộ

hầu hết các nguồn thu (ngoại trừ thu từ dầu khí) khiến cho nhiệm vụ thu NSNN
2013 theo dự toán là rất khó khăn, dù đã có sự chỉ đạo và đôn đốc thu quyết liệt
từ Bộ Tài chính. Ngân sách cũng đạt nhiệm vụ thu nhờ vào việc Chính phủ thu
trên 20.000 tỷ từ khoản vốn đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và
vượt thu từ tiền sử dụng đất (ước đạt 42.500 tỷ so với dự toán là 39.000 tỷ
đồng).
Tổng chi NSNN năm 2013 ước tính đạt 986.200 tỷ đồng, bằng 100,8% dự
toán năm; Năm thứ 2 liên tiếp chi NSNN gần như bằng dự toán. Đây có thể coi
là thành công của việc thực hiện chính sách tài khóa tiết kiệm và là hướng đi
đúng đắn cần tiếp tục triển khai, nhân rộng trong những năm tới.
So với dữ liệu tương ứng của giai đoạn 2005 - 2011 thì kết quả thực hiện
chi NSNN so với dự toán là rất đáng khả quan. Điều này phản ánh việc ban hành
Nghị quyết 01/NQ-CP về thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, tiết kiệm đã có
tác dụng nhất định đến chi tiêu ngân sách năm 2013.
Theo ước tính của Bộ Tài chính, chi đầu tư phát triển năm 2013 đạt
201.600 tỷ đồng, bằng 115,1% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 196.300 tỷ
đồng, bằng 115,4%); Chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý nhà nước, đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi thực hiện cải cách tiền
lương) ước tính đạt 679.600 tỷ đồng, bằng 100,8%; Chi trả nợ và viện trợ
105.000 tỷ đồng, bằng 100%.
Tóm lại, về cơ bản việc thực hiện các nhiệm vụ chi NSNN 2013 là khá tích
cực. Tuy nhiên, có thể thấy tốc độ tăng chi đầu tư vẫn khá cao so với dự toán
(ước vượt 15% dự toán năm).
20


Tháng 11/2013, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh dự
toán NSNN năm 2013 và dự toán NSNN năm 2014, trong đó, trần bội chi
NSNN cho 2 năm được nâng lên 5,3% GDP. Quốc hội đồng ý giao Chính phủ
nâng mức bội chi NSNN năm 2013 để bù đắp số hụt thu ngân sách trung ương

tỷ đồng, bằng 45,8% dự toán, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó:
Thu nội địa đạt 248,71 nghìn tỷ đồng, bằng 46,1% dự toán, tăng 20,9% so với
cùng kỳ năm 2013 (không kể tiền sử dụng đất thì tăng 15,3%). Có nhiều khoản
thu quan trọng tiến độ đạt khá, như: Thu từ kinh tế quốc doanh đạt 44,3% dự
toán, tăng 33,8%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt
47,1% dự toán, tăng 13,9%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt
49,1% dự toán, tăng 16,6%.
Thu về dầu thô cũng ước đạt 46,44 nghìn tỷ đồng, bằng 54,5% dự toán.
Thu ngân sách từ hoạt động XNK ước đạt 94,98 nghìn tỷ đồng, bằng 42,4% dự
toán, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2013. Số thu từ hoạt động XNK tăng chủ
yếu là nhờ kim ngạch XNK 5 tháng đầu năm đạt khá, trong đó một số mặt hàng
chịu thuế suất cao, trị giá lớn tăng mạnh so với cùng kỳ. Ví dụ, so với cùng kỳ
năm 2013, kim ngạch NK xăng dầu tăng 14,4%, ô tô nguyên chiếc tăng 45,9%,
linh kiện phụ tùng ô tô tăng 28,3%... Sau khi thực hiện hoàn thuế GTGT theo
chế độ (33 nghìn tỷ đồng), thu cân đối NSNN từ hoạt động XNK ước đạt 61,98
nghìn tỷ đồng, bằng 40,2% dự toán, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm 2013.
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, mặc dù kinh tế vĩ mô vẫn tiếp tục có những
khó khăn, song dường như Việt Nam đã qua khỏi giai đoạn kinh tế khó khăn
nhất. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, năm 2014 tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam sẽ khả quan hơn. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng có thể
sẽ đạt khoảng 5,6% và lạm phát sẽ khoảng 6,3 %. Ngân hàng thế giới (WB) dự
báo tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt khoảng 5,5% trong năm 2014 với lạm
phát có thể nằm trong mức mục tiêu của Chính phủ. Khi nền kinh tế đã đi qua
gần nửa chặng đường, cho thấy, sự thuận lợi của tình hình kinh tế trong và ngoài
nước có thể tác động tích cực đến nguồn thu NSNN. Có thể thấy điều này khá rõ
khi xem xét thu NSNN 5 tháng của năm 2014. Hầu hết các nguồn thu NSNN
đều cho kết quả khả quan hơn so với năm 2014. Hơn nữa, mức lập dự toán thu
cân đối NSNN năm 2014 cũng không cao như giai đoạn 2012-2013 nên khả
năng xảy ra hụt thu sẽ ít hơn.
22

vẫn phải đảm bảo nguồn chi cho các nhiệm vụ thường xuyên, cho an sinh xã hội,
an ninh quốc phòng, cần thiết phải tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài khóa, giám
23


sát chặt các nguồn thu, hạn chế thấp nhất tình trạng thất thu, nợ đọng thuế.
Trong báo cáo về tình hình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm
2014 gửi tới Quốc hội, Chính phủ cũng xác định, để thực hiện thành công các
mục tiêu đề ra từ nay đến cuối năm là hết sức khó khăn, khi tình hình an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ
còn nhiều thách thức.
Chính phủ xác định vẫn tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, tập
trung chống thất thu, nợ đọng thuế và kiểm soát chặt chẽ chi NSNN; kiên quyết
cắt giảm hoặc lùi thời gian thực hiện các khoản chi chưa thực sự cấp bách; bảo
đảm bội chi NSNN trong phạm vi Quốc hội quyết định; nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn vay, quản lý chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của
quốc gia, bảo đảm trong giới hạn an toàn... Cùng với đó là tiếp tục tháo gỡ khó
khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện môi trường đầu tư
kinh doanh. Đây sẽ là nhóm giải pháp hiệu quả nhằm nuôi dưỡng nguồn thu,
hướng tới sự bền vững trong thu ngân sách.
Phát biểu tại “Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam giữa kỳ 2014”, Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, nền kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu
năm 2014, dự kiến cả năm 2014 đã, sẽ và tiếp tục ổn định vững chắc hơn. Dự
báo tăng trưởng 5,8% trong năm 2014 và đã đưa ra kế hoạch tăng trưởng hơn
6% trong 2015. Lạm phát tiếp tục được kiểm soát tốt, năm 2014 kiểm soát lạm
phát khoảng 5%. Xuất khẩu bình quân 3 năm tăng trưởng trên 20%... Những tín
hiệu quả quan từ nền kinh tế sẽ có tác động tích cực đến số thu ngân sách từ nay
đến cuối năm 2014.
4. Một số bài học kinh nghiệm rút ra qua tình hình thu, chi ngân sách năm
2013 và những tháng đầu năm 2014

(NSĐP)… Việc quy định thời kỳ ổn định ngân sách từ 3 đến 5 năm, ổn định tỷ
lệ phân chia và số bổ sung cân đối trong thời kỳ ổn định ngân sách, trao quyền
vay nợ cho chính quyền địa phương với giới hạn xác định, tăng cường phân
cấp nguồn thu cho NSĐP đã giúp chính quyền địa phương phát huy tính chủ
động, sáng tạo trong quản lý, khai thác có hiệu quả các nguồn thu, chủ động
cân đối ngân sách, đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ chi NSĐP.
Hai là, tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế địa phương và xóa đói
giảm nghèo. Với việc quy định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi và khoản chuyển
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status