Tiểu luận Mặn hóa,các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn - Pdf 24

Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
1
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
1
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
Trước hết, em cảm ơn Ban giám hiệu trường đại học Công Nghiệp Thành phố
Hồ Chí Minh đã cho chúng em tiếp cận với phương pháp học tín chỉ và làm tiểu
luận, phương pháp học này đòi hỏi chúng em phải siêng năng và phát huy toàn bộ
khả năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu. Phương pháp này đã giúp em rất nhiều trong
việc tìm kiếm tài liệu và thông tin giúp em hiểu bài sâu sắc hơn.
Em xin gởi lời chân thành cảm ơn đến GS_TSKH Lê Huy Bá đã tận tình chỉ
dạy, giúp đỡ em học tốt môn học Xử Lý Ô Nhiễm Và Thoái Hoá Môi Trường Đất
trong suốt học kỳ vừa qua
Em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các thầy cô trong Viện Môi Trường
đã hết lòng truyền đạt kiến thức, ủng hộ, giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình học
tập để chúng em hoàn thành tốt môn học này.
Cuối cùng Em cũng xin gởi lời cảm ơn đến các thầy cô quản lý thư viện
trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ em tìm thêm
thông tin tài liệu để có thể hoàn thiện bài tiểu luận này một cách tốt nhất.
2
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
2
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
MỞ ĐẦU
Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đang đứng trước hiện tượng ô nhiễm môi
trường sinh thái đất, nước, không khí nghiêm trọng mà nguyên nhân là do các hoạt
động của con người trong nhiều thập kỷ gần đây đã làm tăng đáng kể những tác nhân
gây hiệu ứng nhà kính (nồng độ khí thải trong các hoạt động công nghiệp, giao thông,
sự gia tăng dân số…), làm trái đât nóng dần lên, từ đó gây ra hàng loạt những thay đổi

đá, những muối này bị hòa tan, di chuyển tập trung ở những dạng địa hình trũng,
không thoát nước.
1.2. Mặn hóa
Mặn hóa là quá trình xâm nhiễm và tích tụ các muối và kim loại kiềm trong môi
trường đất, nước khi các môi trường thành phần này từ chỗ chưa bị mặn trở thành
mặn.
Chương 2 . Cơ sở lý thuyết đất mặn
2.1. Các quá trình mặn hóa
Đất mặn là do kết hợp của nhiều yếu tố: đất chứa muối, địa hình trũng không
thoát nước, mực nước ngầm mặn nông, khí hậu khô hạn và sinh vật ưa muối. Trong tất
cả các yếu tố trên, nước ngầm mặn thường là nguyên nhân trực tiếp làm cho đất bị
mặn.
2.1.1. Phân loại mặn hóa:
Môi trường có thể nhiễm các loại mặn sau:
- Mặn hóa do muối: bao gồm các muối NaCl, Na
2
SO
4
, MgSO
4
, MgCl
2
, NaNO
3
,
Mg(NO
3
)
2
, CaCl

GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
4
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
2.1.2.Nguyên nhân gây mặn:
Dựa vào nguồn gốc, đặc điểm tích lũy muối, người ta chia quá trình mặn hóa
này thành 3 loại:
*Ảnh hưởng của nước biển:
Xảy ra ở miền nhiệt đới do ảnh hưởng trực tiếp của biển.Nước biển xâm nhập
vào nội đồng theo con sông ngoài khi thủy triều lên cao,qua các trận mưa bão vỡ đê
biển hoặc vào mùa khô khi nước ngọt ở các con sông chảy ra biển có lưu lượng
thấp,nước ngọt không đủ lực để đẩy nước mặt khi thủy triều mạnh.Nước mặn cũng
theo các mao mạch ,đường nứt trong đất,đi qua các con đê biển thấm sâu vào nội
đồng.Có nơi cách xa biển tới 40 km vẫn bị ảnh hưởng của quá trình này.Ở Việt Nam,
đất mặn có xấp xỉ 2 triệu hecta, chiếm gần 6% tổng diện tích đất tự nhiên và quá trình
mặn hóa là do ảnh hưởng của nước biển, do đó thành phần các loại muối tan ở đất mặn
Việt Nam giống như thành phần muối tan của nước biển.
*Quá trình mặn hóa lục địa:
Ở những vùng khô hạn và bán khô hạn,các loại muối khó tan vẫn còn lại trong
đất,chỉ những muối dễ tan như:NaCl, MgCl
2
, Na
2
SO
4
,…mới bị hòa tan, rửa trôi nhưng
cũng không được vận chuyển đi xa,mà tích đọng ở những địa hình trũng không thoát
nước dưới dạng nước ngầm.Do hanh khô và mực nước ngầm nông,muối được di
chuyển và tập trung lên mặt đất thành một lớp vỏ muối trắng xóa dày đến 1-2 cm.
Các nguyên nhân gây nên mặn hóa lục địa là:
- Dâng nước mao quản từ nước ngầm (là nguyên nhân chính).

(%)
Hàm lượng Cl
-
(%)
Đất mặn nhiều >1 >0,25
Đất mặn trung bình 0,5 – 1,0 0,15 – 0,25
Đất ít mặn 0,25 – 0,5 0,05 – 0,15
Đất rất ít mặn và không mặn <0,25 <0,05
* Phương pháp điện hóa:
Người ta thường tiến hành đo độ dẫn điện của dung dịch đất .Ký hiệu là: EC.
Độ dẫn điện thường tỷ lệ thuận với hàm lượng tổng số muối tan và áp suất thẩm
thấu của dung dịch đất. Thường EC được đo ở điều kiện chẩn, khi cho đất bão hòa
nước tới giới hạn dính và ở 25
0
C
Tương quan giữa EC và lượng muối tan như sau:
EC (millihos/cm) Tổng số muối tan (ppm)
4 3.000
8 5.000
>15 10.000
Phân loại đất mặn:
Căn cứ vào quá trình phát sinh, tính chất vật lý, tính chất hóa học, tính chất sinh vật
học người ta chia đất mặn ra 3 loại chính:
- Đất Solonchat (Solonchak) hay đất kiềm trắng, hình thành do quá trình trầm
tích mặn, có hàm lượng muối cao (1-1,5%) có khi thành lớp trắng xóa trên mặt
6
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
6
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
đất do đó có tên gọi là đất kiềm trắng. Đất Solonchat điển hình rất mặn, không

+ Ca
2+
Sét – Mg + 2Na → Sét – Na
2
+ Mg
2+
Nếu Ca
2+
và Mg
2+
được giải phóng và kết tủa ở dạng muối không hòa tan thì
phương trình trên nghiêng về bên phải và trong từng trường hợp, phản ứng này gần
như diễn ra hòan toàn. Kết quả nghiên cứu của Kelley Lumins (1921) cho thấy, nếu
môi trường đất tích lũy nhiều muối Na (bảng 4.1), thì đồng thời một lượng lớn Na
+
được hấp thụ sẽ có một lượng Ca
2+
và Mg
2+
đượ hấp thu theo. Nhưng điều đó ít xảy ra
nếu cho Na
2
CO
3
hấp thụ vào đất. Khi có Na
2
CO
3
thì lương Na
+

+
NaCl
NaNO
3
Na
2
CO
3
2.2
2.2
0.3
1.0
1.0
0.2
7.6
7.1
5.0
2.4
2.9
5.0
3.1.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ Na
+
hòa tan đến các bazo hòa tan
Khi các muối của Ca
2+
hoặc Ca
2+
và Mg
2+
hay Na

CaCO
3
quan trọng hơn. CaCO
3
hòa tan trong muối trung tính nhiều hơn là trong nước
cất do ảnh hưởng của một phần áp lực của CO
2
. CO
2
có mặt trong không khí. Rễ thực
vật và vi sinh vật đất thải CO
2
trong quá trình sống và độ ẩm đất luôn chứa CO
2
hòa
tan.
Dung dịch đất của các ion Ca
2+
, CO
3
2-
và HCO
3
-
, thêm vào đó ion Na
+
và các
anion của những muối Na trung tính. Camionetal (1901) và Breazeable (1917) qua
nghiên cứu đã cho thấy, khả năng hòa tan của CaCO
3

hóa thì hầu hết đều bị ức chế. Mặt khác, sự thêm vào của Na
2
CO
3
đã thúc đẩy quá trình
amon hóa lên đến nồng độ 0,1%. Greaves (1916) cũng đưa ra kết quả tương tự với một
loại đất ở Logan, Ultah. Ngược lại các ảnh hưởng lên quá trình amon hóa, Lipmen
(1912b) thấy rằng 0,1% NaCl và 0,2% Na
2
SO
4
rõ ràng cũng thúc đẩy quá trình Nitrat
hóa, nhưng Na
2
CO
3
thì có tính độc cao hơn đối với đất ngay cả với nồng độ thấp
0,05%.
Lipmen và Sharp (1912) tìm ra NaCl ở nồng độ dưới 0,5%, gây ảnh hưởng đến
quá trình cố định đạm của các vi khuẩn có nốt sần, còn Na
2
SO
4
thì thể hiện tính độc ở
nồng độ 1,2%. Nhưng với NaCl ở nồng độ trên được ghi nhận là độc. Na
2
CO
3
có nồng
độ ít hơn hoặc bằng 0,4% quá trình cố định đạm được thúc đẩy nhanh hơn một ít, ở

không có mặt tại thung lũng này. Mặt khác, gỗ dầu rất nhiều và phát triển mãnh liệt
trên đất mặn đen ở phía Tây Great Basin của vùng Sierra Mountain. Ở đó, có độ cao
khoảng 2000 – 3000m và thời tiết hầu như là mùa đông quanh năm, nhiệt độ thấp hơn
nhiệt độ đóng băng rất nhiều.
Một sự quan sát rất thú vị của Wadleigh, ông đã phát hiện ở vùng Riverside,
California có loại cỏ chịu mặn phát triển tốt trong những tháng thời tiết mát trên đất
không mặn hơn là trên đất mặn và ngược lại trong mùa hè. Thực tế, thực vật trên đất
không mặn mất sinh khối vào lúc thời tiết nóng trong khi thực vật trên đất mặn tiếp tục
gia tăng sinh khối. Wadleigh cho rằng, sự mất sinh khối trong điều kiện khí hậu nóng
là do sự ngưng tụ quá mức, nếu diều này đúng thì khuynh hướng sẽ là: Muối hòa tan
giảm sự ngưng tụ trong các loài thực vật này.
Năm 1916, Lipman cũng phát hiện ra đối với cây lúa mì và lúa mạch thì khi
thay đổi mùa sẽ ảnh hưởng lên sự phản ứng của nó với NaCl. Khi tăng trưởng xảy ra
vào mùa Đông trong nhà kính ở Berkeley, California, cả hai loài đều thực hiện sự đồng
10
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
10
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
hóa bởi việc hấp thụ NaCl làm dung dịch dinh dưỡng cơ bản, vào thời điểm mùa hè sự
đồng hóa xuất hiện đồng thời.
Rõ ràng, một hay nhiều yếu tố khí hậu đều ảnh hưởng lên sinh lý thực vạt dưới
tác động của muối. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu cẩn thận về sự phân bố giống
loài trong mối tương quan với khí hậu và điều kiện mặn của đất. Theo Hilgard, phần
lớn thực vật chịu mặn tự nhiên phát triển và chống chịu hạn một cách mãnh liệt, nhằm
kìm hãm sự vận chuyển và sự giải phóng nước ra khỏi cơ thể thực vật. Vấn đề này
được chú ý khi chúng ta đến những vùng mà sinh lý, sinh thái thực vật chịu sự điều
khiển của muối.
3.2.2. Tác động của muối hòa tan
a. Sự thẩm thấu
Thực tế việc tăng thêm một muối hòa tan vào dung dịch làm tăng áp suất thẩm

4
mạnh hơn so với NaCl. Khi so sánh các muối này dựa vào áp suất thẩm thấu.
11
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
11
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
Trong dung dịch, rễ thực vật chứa nhiều nồng độ cation khác nhau cũng như đối với
Cl
-
và SO
4
2-
Kết quả quan trọng của các nghiên cứu này nói lên: áp suất thẩm thấu của thực
vật rất quan trọng trong đất mặn.
b. Tác động của Chloride:
Clo tác động cả hai mặt: có lợi và có hại cho cây.
Người ta biết đến nhiều loài cây bị giảm năng suất do nồng độ Cl
-
thấp. Điều
này cho thấy vị trí của Cl
-
trong đất mặn và trong nước tưới. Cl
-
tích lũy trong nhiều
loại thực vật khác nhau, trên nhiều vùng khác nhau. Giống Cam, Quýt và cây Mooc rất
nhạy với Cl
-
.
Kelley và Thomas (1920) cho biết: chỉ vài trăm ppm Cl
-

được thêm vào để tạo hỗn hợp CaCl
2
,
MgCl
2
và KCl nhằm tạo ra tỷ lệ tương đương giữa Ca
2+
: Mg
2+
: K
+
trong các vùng
12
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
12
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
nông nghiệp. nồng độ Na
+
thấp và cố định trong các vùng nông nghiệp. Ở đó, tỷ số của
Cation luôn không cố định, thường thì Cl
-
xâm nhập và tạo ra NaCl.
Wadleigh và Gauch (1944) so sánh mối tương quan giữa nồng độ thẩm thấu của
3 hợp chất CaCl
2
, NaCl và MgCl
2
đối với sự phát triển của cây cao su ở vùng đất cát.
Họ nhân thấy rằng: cùng các nồng độ được sử dụng thì MgCl
2


Cl
-
đều ảnh hưởng lên sự phát triển của cây đậu. khi các muối đơn thâm nhập vào hoặc
là dung dịch dinh dưỡng hoặc là đất trồng thì khó xác định được tác động của nó lên
sự phát triển ở giai đoạn ion đơn
c. Tác động của Sunfat:
Đối với thực vật, sulfat có độc tính ít hơn Chloride, một phần là do hoạt tính Cl
-
cao hơn và linh động hơn SO
4
2-
. Nhưng không phải khi nào điều đó cũng đúng.
Gauch và Wadleigh (1944) so sánh những ảnh hưởng bởi nồng độ thẩm thấu
của Sulfat và Chloride lên sự phát triển và tồn tại của thực vật họ Đậu trong dung dịch
đất trồng và phát hiện ra một số triệu chứng ở những vùng đất trồng khác nhau. Trọng
lượng khô của thực vật thí nghiệm thu được tương tự với Na
2
SO
4
, NaCl và CaCl
2
nhưng nồng độ MgSO
4
nhỏ hơn nhiều so với những muối khác. Thực tế MgSO
4
tạo
nhiều độc tố hơn MgCl
2
. Mặt khác Hayward và Spurr (1944) cho rằng: có mối tương

với những loại thực vật khác thì triệu chứng có thể khác nhau. Chẳng hạn, Hass và
Thomas (1928) chỉ ra rằng: SO
4
2-
gây nên chứng vàng ở lá chanh, tương tự như sự
thâm nhập của Boron, còn Cl
-
thì gây nên chứng cháy lá.
d. Tác động của Bicacbonate:
Khi rễ thực vật nhả ra CO
3
2-
không có nghĩa là nó phải hấp thu lượng lớn
HCO
3
-
. Khi sử dụng đồng vị cacbon ở dạng KHCO
3
, Overstreet (1940) phát hiện ra
chỉ một ít lượng HCO
3
-
bị hấp thụ bởi rễ cây lúa mạch. Từ những kết quả thực tế cho
thấy Ca
2+
của Ca(HCO
3
)
2
tạo ra sự đồng hóa với nhiều loại thực vật.

+
của rễ cây lúa mạch.
Với nồng độ thẩm thấu, Wadleigh phát hiện rằng thực vật hấp thụ nhiều Na
+
từ
NaHCO
3
hơn từ NaCl, Na
2
SO
4
, khi NaHCO
3
là một muối kiềm thì sẽ dễ dàng xác định
ảnh hưởng của pH lên sự hấp thụ Na
+
hơn.
3.2.3. Hấp thụ cation
a. Ảnh hưởng của sự biển đổi Na
+
Thực tế thì tính độc gia tăng khi tỷ lệ % của Na
+
trong tổng số cation cugnx có
sự biến đổi cao. Chẳng hạn: các biến đổi về cải tạo đất mặn gần Fresno, Califonia cho
thấy rằng, sự thấm lọc của các muối hào tan ở các điểm thí nghiệm đất vẫn có tính độc
cao đối với cây Lúa Mạch, cây Đậu Bò và cây cỏ Linh Lăng. Kelley và Thomas
14
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
14
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn

có sẵn bị giới hạn. Hơn nữa, Na
+
đất có khả năng chuyển
hóa các ion Ca
2+
, Mg
2+
và H
+
từ rễ thực vật khi tiếp xúc trao đổi với ion Na.
Để rút ngắn thí nghiệm này, Kelley (1927) quan tâm đến độ pH của đất ướt
chứa Na
+
không vượt quá 7,8. Ngoài ra, đất không chịu tác động của hóa chất kiềm.
Ông chỉ ra rằng: dung dịch đất đuôc quan sát này không gây tác động độc cho thực vật
họ Lúa Mạch.
Sự trích ly Na
+
: đất ẩm trong nước, bỏ qua sự lọc keo và sau đó sử dụng như là
dung dịch đất trồng mà không bổ sung chất cho nó, cây Lúa Mạch nảy mầm và cây
non lớn lên sau 18 ngày. Thực vật tạo sự phát triển bình thường và chúng phát triển
rộng bộ rễ con. Nguyên tố đọc tồn tại ở pha cứng của đất. Đến đây, chúng ta biết được
rằng độc tính là do Na
+
trao đổi vật chất trong đất. Cách thức để hiểu và giải thích về
độc tính của nó đến nay chưa rõ. Cây Lúa Mạch hấp thụ phần lớn Na
+
mà hấp thụ Ca
2+
ít hơn. Mặc dù ít nhưng bất cứ 1 sự giải thích đúng nào cũng cho rằng Ca

+
lớn hơn 30:70. Thorne (1944) nhấn mạnh rằng: cây Cà Chua
giảm khả năng trao đổi Na
+
quá 40%, trong thí nghiệm của ông; Na
+
chứa trong cơ thể
thực vật gia tăng và Ca
2+
giảm xuống khi khả năng trao đổi chất của Na
+
tăng lên. Kết
quả của Ratner và Thore chỉ ra rằng: sự phát triển bình thường của mùa vụ sẽ không
diễn ra trừ khi đất có khả năng trao đổi từ 30-40% lượng Na
+
ẩm. Đây là điểm mấu
chốt để đi đến sự dung hòa của các thí nghiệm
b. Tác động của Mg
2+
trao đổi
Kết quả điều tra của các nhà khoa học đưa ra: đất có chứa Mg
2+
tạo ra độc tính
cao. Cây lúa mạch có thể hấp thụ Mg
2+
bằng việc trao đổi với Ca
2+
có trong hạt và
cũng trao đổi ion trong rễ. Khi cây không có khả năng hấp thụ Ca
2+

trong đất kiềm. Sự thay thế hoàn toàn của Ca
2+
bởi 1
trong những Cation khác nhau sẽ khắc phục được tình trạng bất lợi của đất cho sự phát
triển của cây trồng. Nếu có sự thay đổi của các Cation bởi ion K
+
, NH
4
+
, H
+
thì phần
trăm Na
+
hay Mg
2+
sẽ không còn quan trọng và Ca
2+
sẽ là nhân tố giảm độc. Mặt khác,
nếu Ca
2+
là cation thay thế thì Ca
2+
trong dung dịch cũng gia tăng, thực tế này có tầm
quan trọng cho việc cải tạo đất mặn kiềm.
c. Tác động của Boron:
Boron là nguyên tố độc nhất trong đất mặn kiềm. Với nồng độ thấp (vài ppm)
Boron đã gây độc cho nhiều loại thực vật. Cây ăn quả rất nhạy cảm với Boron hòa tan.
16
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá

3
và cấu
trúc đất tất cả đều ảnh hưởng đến lượng muối có sẵn. Magistad (1943) đã chứng minh
rằng: khi thực vật phát triển trên miền khí hậu ẩm lạnh thì sự chống chịu muối cao
hơn.
So với thực vật phát triển trên vùng ấm và khô, nhiều loại thực vật khác lại chịu
tác động ít về khí hậu.
Magistad và Chgistainsen (1944) đưa ra danh sách các thực vật có liên quan
đến khả năng chống chịu các muối thông thường. Điều này được phân loại một cách rõ
ràng. Nhìn chung có thể nói rằng: nhiều loại cây ăn quả chỉ chịu đựng được phần nhỏ
sự tác động của muối hòa tan. Củ Cải Đường, Mía và một số thực vật hữu dụng khác
17
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
17
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
có khả năng chịu đựng được nồng độ muối vượt quá 25ppm, cỏ Linh Lăng và các thực
vật khác chỉ có thể chịu đựng được nồng độ từ 10 – 15ppm Boron. Na
2
CO
3

NaHCO
3
là muối độc nhất trong đất kiềm, kết tiếp là NaCl và Na
2
SO
4
. Những loại
muối này có ảnh hưởng lên sinh khối của thực vật, hơn nữa nồng độ thẩm thấu của
NaCl, Na

Rữa mặn bằng nước mưa hay nước tưới là biện pháp duy nhất để loại bỏ muối
thừa ra khỏi đất. Phương pháp này có hiệu quả nếu việc tiêu nước thuận lợi vì nó sẽ hạ
thấp mực nước ngầm và loại bỏ muối khỏi các vị trí chứa nhiều muối. Để thực hiện
biện pháp này cần thực hiện xây dựng hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh để đưa nước vào
các cánh đồng tưới để rữa mặn và từ đó tiêu nước đi. Việc rữa mặn được tiến hành
theo nhiều mùa, tùy theo điều kiện về nguồn nước ngọt sẳn có. Song song với việc rữa
mặn cần tiến hành tiêu nước ngầm, hạ thấp mực nước ngầm tới mức cho phép.
4.3. Biện pháp nông nghiệp
Kỹ thuật canh tác nông nghiệp như cày sâu không lật, xới nhiều lần, cắt đứt
mao quản làm cho muối không bốc lên mặt ruộng.
Cải tạo đất luân canh cơ cấu cây trồng vật nuôi, trên các vùng đất mặn, sát biển
thì nuôi trồng thủy hải sản, tiếp theo là trồng cói và các cây chịu mặn, trong cùng là
trồng lúa. Từ thực tiễn luân canh cơ cấu cây trồng ở các vùng biển ta đã đút kết kinh
nghiệm: lúa lấn cói, cói lấn cá, cá lấn biển.
 Biến đất mặn thành đồng cỏ chăn nuôi gia súc bằng cách gieo các hạt cỏ chịu
mặn có giá trị làm thức ăn gia súc
19
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
19
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
 Bằng biện pháp kỹ thuật canh tác: cày sâu không lật xới đất nhiều lần,cắt đứt
mao quản làm cho muối không thể bốc lên mặt
 Bằng biện cải tạo đất mặn bằng luân canh cơ cấu cây trồng: cây chịu mặn giỏi
như cói, lác, rừng ngập mặn.
4.3.1. Mô hình trồng cây chịu mặn
- Trồng các giống lúa chịu mặn như M6, BM9855 của nông dân tỉnh Thanh Hóa
- Mô hình trồng
các loại cây chịu mặn
gỏi như cói, lác, rừng
ngập mặn

ngâm 1-2 ngày rồi bừa, cách vài hôm lại bừa lại. Khi có mưa to, nên tháo nước đi và
thay bằng nước mới. Nếu ngâm hàng tuần mới có mưa, cũng tháo nước để đuổi mặn,
nhưng phải giữ lại ít nhất 4-5cm nước để duy trì không cho đất bị khô và nứt nẻ.
Ruộng sau khi được rửa mặn cần bón nhiều phân xanh, phân hữu cơ, kết hợp với phân
lân và phân đạm.
+ Biện pháp nông lý:cày sâu, đưa CaCO
3
và CaSO
4
ở các lớp đất sâu lên tầng
trên mặt, cày phá đáy, san bằn mặt ruộng
4.4. Biện pháp sinh học
Chọn và lai tạo các loại cây trồng, các giống cây chịu mặn, điều tra nghiên cứu
và đề xuất các giống cây trồng, vật nuôi trên vùng đất mặn.
Xác định hệ thống cây trồng có khả năng chịu mặn khác nhau, phù hợp với
từng giai đoạn cải tạo đất, xác định hệ thống kỹ thuật canh tác hợp lý đảm bảo đất
không bị tái nhiễm mặn
Và một mô hình kinh tế mới là:trồng màu và cây ăn trái trên vùng đất mặn
( huyện Ngọc Hiển) đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và góp phần nâng cao thu
nhập của người dân
Một vài hình ảnh điển hình:
21
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
21
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn

Hình : Các loại xoài, táo đang mùa thu hoạch
Hình: thu hoạch hoa màu Hình: cải tạo đất,lấp vụ sau khi thu hoạch
xong
4.4.1. Mô hình sử dụng đất mặn nuôi tôm kết hợp trồng lúa theo đúng kỹ thuật

• Mô hình 2 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm: Sau vụ lúa Hè-Thu, tôm được
thả nuôi trong mùa lũ đến đầu vụ lúa Đông-Xuân thì thu hoạch để cải
tạo ruộng trồng lúa Đông-Xuân. Mô hình này có thời gian nuôi ngắn
nên phải tuân thủ đúng thời vụ và phải thả tôm giống có kích cỡ lớn. + Biện pháp hóa học: ion Na
+
đóng vai trò quan trọng trong đất mặn, nó có thể ở
dạng các muối tan như NaCl, NaHCO
3
, Na
2
SO
4
… và quan trọng hơn là Na
+
ở dạng
trao đổi hấp phụ trên bề mặt keo đất. Những tính chất xấu của đất mặn về phương diện
vật lý, hóa học, sinh vật học, tính chất vật lý nước chủ yếu do ion này gây nên. Muốn
cải tạo đất măn, điều kiện tiên quyết là phải loại trừ ion Na
+
trong dung dịch đất và
trong phức hệ hấp phụ bằng việc thay thế bởi ion Ca
2+
. Đó là nội dung và nguyên lý cơ
bản trong cải tạo hóa học đất mặn.
Muốn vây, người ta dùng thạch cao (CaSO
4.
2H

+ Na
2
SO
4
([KĐ]) : keo đất
Kết quả ở 2 trường hợp trên đều tạo thành Na
2
SO
4
, muối này dễ tan sẽ bị nước
mưa hoặc nước tưới rửa đi.
24
GVHD:GS.TSKH Lê Huy Bá
24
Mặn hóa, các phương pháp cải tạo và quản lý đất mặn
Ở Việt Nam, vôi cũng được xem là nguyên liệu chính để cải tạo đất mặn (kể cả
đất mặn trung tính và kiềm yếu). Bón vôi và các hợp chất khác có chứa Ca cho đất sẽ
làm tăng Ca
2+
trong dung dịch đất. Ca
2+
sẽ thay thế Na
+
trên keo đất làm cho đất có kết
cấu và do đó có khả năng thấm nước tốt. Phản ứng xảy ra như sau:
- Đối với đất solonet:
CaCO
3
+ CO
2

H
H

CaCO
3


[KĐ] Ca
2+
+ CO
2
+ H
2
O
Chương 5. Quản lý đất mặn
Để quản lý đất mặn người ta phân chia đất mặn thành các loại sau:
5.1. Đất mặn ven biển và đất mặn đồng bằng
Quản lý đất này chủ yếu tập trung vào tránh ảnh hưởng của thủy triều, tránh
ảnh hưởng của sự xâm nhập mặn. Cần xây dựng hệ thống đê điều cao, vững chắc ổn
định để ngăn ảnh hưởng của nước biển mặn. Phải xây dựng các cống ngăn mặn để
tránh xâm nhập mặn vào mùa khô. Việc khai thác nguồn nước ngầm quá mức sẽ thúc
đẩy việc xâm nhập mặn vào con đường dưới đất và gây mặn cho đất.
Việt nam có hơn 3260 km đường bờ biển với gần một triệu ha đất mặn. Đất
mặn của Việt nam được hình thành chủ yếu do ảnh hưởng của thủy triều và nước ngầm
mặn. Khi nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất ngập mặn đồng bằng sông Cửu Long,
trên cơ sở thành phần cơ giới đất, hàm lượng chất hữu cơ trong đất và tầng phèn tiềm
tàng nằm ở gần mặt đất (0-50cm) hay ở sâu (>50cm), các nhà nghiên cứu đã đề xuất
phân chia ra các loại đất ngập mặn sử dụng trong lâm nghiệp. Đó là các loại phụ: đất
phù sa ngập bùn rất loãng, đất phù sa ngập bùn loãng, đất phù sa ngập mặn dạng sét,
đất phù sa ngập mặn phèn tiềm tàng, đất than bùn, ngập mặn phèn tiềm tàng. Trên cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status