Ứng dụng phương pháp xác định giá trị rủi ro VaR trong phân tích và quản trị rủi ro các dự án đầu tư ngành thép tại Ngân hàng Agribank chi nhánh tỉnh Hải Dương - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,
đây là một thời kỳ quan trọng mà thành công của nó sẽ đưa đất nước ta thoát khỏi đói
nghèo lạc hậu để trở thành một nước công nghiệp phát triển. Để thực hiện công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư rất lớn. Hơn nữa hiện đại hóa
công nghiệp hóa khiến đất nước phải hội nhập, gia nhập một sân chơi bình đẳng và chịu
sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt đúng như bản chất của nền kinh tế thị trường.
Ngân hàng là một trong những trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong
việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, và trong giai đoạn phát triển của đất nước. Hệ thống
Ngân hàng có hoạt động tốt thì mới điều hòa được nguồn vốn cho nền kinh tế, nguồn
vốn được đầu tư vào đúng nơi đúng chỗ. Do có vai trò quan trọng nên từ sự thành công
hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng có thể đánh giá được
sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát triển, nền kinh tế thị
trường đã dần định hình rõ ở nước ta, thì cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế,
các Ngân hàng thương mại phải đối mặt với rất nhiều rủi ro như: Rủi ro tín dụng, rủi ro
lãi suất, rủi ro thị trường...vv.
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam, mang lại 80-90% thu nhập của mỗi ngân hàng, tuy nhiên rủi ro của nó cũng
không nhỏ. Rủi ro tín dụng cao quá mức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh
ngân hàng. Đứng trước những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước với
các ngân hàng thương mại nước ngoài, mà cụ thể là nâng cao chất lượng tín dụng, giảm
thiểu rủi ro đã trở nên cấp thiết
Trong thời gian gần đây, hoạt động quản lý rủi ro tại các Ngân hàng thương mại
ở nước ta đã bắt đầu được chú trọng, do yêu cầu của sự hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Mặc dù không triệt tiêu hết được rủi ro nhưng ngày nay, nhờ có sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật, các công cụ toán học cho phép con người có thể chủ động phòng ngừa, giảm
thiểu, hay hoán đổi rủi ro, chủ động kiểm soát rủi ro. Đó là lý do cho sự ra đời của hàng
1
loạt các hệ thống và phương pháp định giá rủi ro. Một trong các phương pháp định giá

Cụm từ "rủi ro" được nhiều nhà kinh tế định nghĩa theo nhiều cách khác nhau,
nhưng khái quát lại ta có thể hiểu rủi ro là xuất hiện một biến cố không mong đợi gây
thiệt hại cho một công việc cụ thể. Rủi ro có thể xảy ra trong mọi hoạt động, mọi lĩnh
vực mà không phụ thuộc vào ý muỗn của con người.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng cũng luôn gắn liền với rủi ro.
Rủi ro tác động trực tiếp tới kết quả doanh lợi, nguy cơ phá sản của các ngân hàng. Do
vậy việc thừa nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và từ đó tìm kiếm
nhiều phương pháp chống đỡ các rủi ro là đòi hỏi của sự tồn tại và phát triển ngân
hàng. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là một tất yếu, mà các nhà quản lý ngân hàng
chỉ có thể có chính sách giảm bớt chứ không thể gạt bỏ được chúng.
1.2. Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.2.1. Rủi ro thị trường:
1.2.1.1. Khái niệm:
Rủi ro thị trường ( market risk ) là rủi ro khi giá trị của một danh mục đầu tư hoặc danh
mục kinh doanh sẽ bị suy giảm do sự thay đổi trong các nhân tố của thị trường, ví dụ
như giá chứng khoán, lãi suất, tỷ giá, giá hàng hoá...trong đó, quan trọng nhất là do lãi
suất và tỷ giá.
1.2.1.2. Phân loại rủi ro thị trường:
+ Rủi ro lãi suất: là những tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi lãi suất
thị trường biến động. Khi lãi suất thị trường thay đổi, nó ảnh hưởng đến ngân hàng trên
2 khía cạnh là thu nhập ( khả năng suy giảm thu nhập ròng ) và giá trị thị trường của tài
sản.
Rủi ro lãi suất có 2 nguyên nhân chính, đó là do ngân hàng duy trì sự không cân xứng về
kì hạn tài sản có ( TSC ) và tài sản nợ ( TSN ), đồng thời có sự biến động của lãi suất thị
trường.
Nguyên nhân sự không cân xứng về kỳ hạn TSC và TSN:
4
* Do sự đa dạng về nhu cầu của khách hàng gửi tiền và vay tiền. Trên thực tế điều này
xảy ra là hoàn toàn tất yếu vì các khách hàng gửi tiền cũng như vay tiền của ngân hàng
hết sức đa dạng, mỗi người trong số họ có những nhu cầu khác nhau khi gửi tiền hoặc

Rủi ro tín dụng xảy ra có thể do nguyên nhân chủ quan về phía ngân hàng thương mại,
khách hàng vay vốn nhưng cũng có thể do nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai,
dịch hoạ…
Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản
của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không
đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về
tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất
lớn đến mọi hoạt động của Ngân hàng. Nếu món vay của Ngân hàng bị thất thoát, dân
chúng sẽ thiếu lòng tin và tìm cách rút tiền khỏi Ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến khả
năng thanh khoản của Ngân hàng thương mại.
Khi rủi ro tín dụng phát sinh, Ngân hàng thương mại không thực hiện được kế hoạch
đầu tư cũng như kế hoạch thanh toán các khoản tiền gửi đến hạn.
Rủi ro tín dụng lớn sẽ dẫn đến khó khăn trong việc huy động vốn và phát triển các sản
phẩm dịch vụ, khó mở rộng quan hệ với các bạn hàng và các Ngân hàng khác, buộc
Ngân hàng phải thu hẹp hoạt động, tất cả thể hiện ở lợi nhuận giảm, ngân hàng phải sử
dụng vốn tự có để bù đắp sự giảm sút đó, uy tín của Ngân hàng giảm sút, dẫn đến tình
trạng khó khăn, phá sản.
1.2.2.2. Phân loại:
Rủi ro tín dụng nếu phân chia theo tính chất nghiệp vụ thì bao gồm:
+ Rủi ro trong hoạt động cho vay: trong đó khách hàng không trả được nợ hay không
có ý định trả nợ (bao gồm cả gốc và lãi đúng hạn) cho ngân hàng.
+ Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh: khi ngân hàng chấp nhận phát hành bảo lãnh cho
khách hàng đồng nghĩa với việc ngân hàng cam kết chịu trách nhiệm trả tiền thay cho
6
khách hàng nếu họ không thực hiện đầy đủ và đúng nghĩa vụ đã thoả thuận. Do vậy rủi
ro mất vốn là rất lớn.
+ Rủi ro trong hoạt động thuê mua : Trong thời gian sử dụng và nắm giữ tài sản đặc
biệt là trong cho thuê tài chính, khách hàng không thực hiện cam kết trả tiền thuê hay
bảo quản tài sản cho thuê dẫn đến mất mát và hư hỏng.

• Trước hết phải kể đến việc thu thập thông tin trong quá trình trước khi ra quyết định
cho vay không đủ dẫn đến thiếu thông tin nên không phân tích toàn diện.
• Ngân hàng không tôn trọng đầy đủ quy trình cho vay, làm thiếu hoặc bớt một số khâu
dẫn đến tạo kẽ hở để khách hàng chiếm đoạt vốn của ngân hàng.
• Việc điều tra kiểm soát đối tượng vay vốn về phương án kinh doanh lúc đầu không
đảm bảo, thiếu cân nhắc dẫn đến sơ hở, thiếu đảm bảo cho đầu tư vốn có hiệu quả.
• Do đội ngũ nhân viên ngân hàng còn yếu kém.
• Do áp lực cạnh tranh mà ngân hàng có thể đơn giản hoá phân tích đánh giá hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
• Ngân hàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc kiểm tra, đôn đốc quá trình sử dụng
vốn vay và thu hồi vốn dẫn đến nhiều khách hàng sử dụng vốn sai mục đích.
• Do tình trạng gian lận, tham nhũng, cố tình vi phạm quy định hoặc có hành vi lừa đảo
gây thất thoát vốn nghiêm trọng của một số cán bộ ngân hàng.
* Nguyên nhân từ phía khách hàng.
+ Nguyên nhân chủ quan:
8
• Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến thua lỗ, không có khả năng trả nợ cho
ngân hàng.
• Do trình độ kinh doanh và khả năng điều hành doanh nghiệp quá kém dẫn đến làm ăn
không hiệu quả.
• Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, không cải tiến quy trình công
nghệ, không trang bị máy móc hiện đại… dẫn đến sản phẩm không cạnh tranh được, bị
ứ đọng không có khả năng tiêu thụ, doanh nghiệp không có tiền trả nợ cho ngân hàng.
• Do chính bản thân doanh nghiệp chủ ý muốn lừa đảo nhằm chiếm dụng vốn của ngân
hàng.
+ Nguyên nhân khách quan:
Có thể thấy nhũng nguyên nhân khách quan sau gây ra những hậu quả xấu cho hoạt
động kinh doanh của khách hàng, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng.
• Do sự thay đổi bất thường của những chính sách kinh tế của nhà nước như thuế,
XNK…

động mạnh tại nhiều nước trên thế giới.
- Năm 1975, lần đầu tiên tại thị trường chứng khoán Chicago, các hợp đồng Future
được đưa vào giao dịch.
- Ngày thứ 2 đen tối, 19/10/1987, tại thị trường LonDon chỉ số FTSE đột ngột giảm
30% chỉ sau 3 ngày. Thị trường chứng khoán Mỹ đổ bể, chỉ số chứng khoán Down Jone
giảm 500 điểm (23%), thiệt hại ước tính trên 1000 tỷ USD tiền vốn. Chỉ trong ngày này,
chỉ số Hansen tại thị trường HongKong đã giảm 10% khiến nhà chức trách buộc phải
đóng cửa thị trường (ngày 26/10 thị trường mở cửa trở lại và chỉ số Hansen tiếp tục
giảm 33%). Riêng thị trường Tokyo tuy có bị ảnh hưởng nhưng mức độ không trầm
trọng. Cho đến nay, nhiều tổ chức, cá nhân vẫn cố gắng lý giải, tìm hiểu các nguyên
nhân của cuộc khủng hoảng.
10
- Năm 1989, hiện tượng bong bóng đầu tư trên thị trường chứng khoán Nhật bắt đầu
vỡ,chỉ số chứng khoán Nikkei bắt đầu giảm từ 39000 điểm xuống 17000 điểm trong
vòng 3 năm dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Nhật, thiệt hại trên 2.7 ngàn tỷ USD tiền
vốn.
- Năm 1992, xu hướng tiến tới một đồng tiền chung Châu Âu tạm thời bị gián đoạn
do những biến cố làm cho một số nước phải tạm thời rút cam kết ra khỏi hệ thống tiền tệ
Châu Âu.
- Năm 1994, sau hơn 3 năm duy trì mức lãi suất thấp, Cục dự trữ liên bang Mỹ
(Fed) đã 6 lần liên tiếp điều chỉnh lãi suất làm thiệt hại 1.5 ngàn tỷ USD tiền vốn trên thị
trường thế giới.
- Ngày 26/2/1995, ngân hàng Baring, một trong những ngân hàng lâu đời nhất của
Anh tuyên bố phá sản do sự sụp đổ của chi nhánh Singapo, thiệt hại xấp xỉ khoảng 13 tỷ
USD.
- Khủng hoảng tài chính Đông Nam Á (1996 - 1999). Từ cuối năm 1996, khủng
hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái Lan, Malayxia sau đó lan sang Nga, Ba Lan, rồi sang các
nước Đông Âu, Nam Mỹ.
- Năm 1997, khủng hoảng tiền tệ Châu Á xảy ra tại các nước Thái Lan, Mlaysia,
Indonesia, Hàn Quốc.

1.4. Nhu cầu về quản lý định lượng rủi ro:
Các nhân tố của thị trường như lãi suất, tỷ giá luôn luôn biến động, do đó các NHTM
luôn phải gánh chịu rủi ro thị trường. Lịch sử đã chứng kiến rất nhiều ngân hàng bị sụp
đổ do tác động của rủi ro thị trường, như Nothern Rock tại Anh vào năm 2007 ( do sự
thay đổi của lãi suất thị trường, khi lãi suất Libor lên tới đỉnh điểm ~7% vào tháng
7/2007 ) hay nhu sự thua lỗ của một loạt các NHTM tại Mỹ vào những năm 1990s.
Tại Việt Nam hiện nay, chúng ta đang giám sát rủi ro với các NHTM dựa trên quyết
định 457/2005 của NHNN, trong đó chủ yếu tuân theo Basel 1 năm 1998 với các qui
định về tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu ( CAR ), các tỉ lệ về đảm bảo khả năng thanh toán, về
giới hạn cho vay...và chưa đề cập tới bất kỳ một chỉ tiêu hay công cụ gợi ý nào cho các
NHTM để đo lường và giám sát rủi ro thị trường. Trong năm 2008, khi lãi suất thị
trường và tỷ giá biến động mạnh, rất ít các NHTM có một hệ thống dự báo về tổn thất
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status