SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC TỐT PHÂN MÔN CHÍNH TẢ - Pdf 24

Sáng kiến kinh nghiệm
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3
HỌC TỐT PHÂN MÔN CHÍNH TẢ
A : MÔÛ ÑAÀU
I - Đặt vấn đề :
1 – Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết :
Phân môn chính tả có một vị trí rất quan trọng trong quá trình dạy và học ở
bậc Tiểu học. Đây là môn học cửa ngõ, mở ra cho các em những khả năng tiếp thu
tốt các môn học khác. Chính tả là một phân môn thể hiện một cách tổng hợp nhiều
kĩ năng mà các em học sinh tiếp thu được ở môn Tiếng Việt. Khi học Chính tả, các
em được củng cố về kĩ năng đọc, kĩ năng viết và đặc biệt là giúp các em tư duy
chính xác các kí hiệu về âm, vần, tiếng, từ đã học ở lớp đầu cấp. Đặc biệt qua việc
phân tích, so sánh, phân biệt chính tả ở những chữ khó viết trong mỗi tiết học, vốn
từ ngữ của các em được nhân thêm. Qua giọng đọc và cách đọc bài viết của cô giáo
mà các dấu hiệu về ngữ âm, ngữ pháp của các em được khắc sâu hơn.Qua các bài
tập chính tả âm, vần các em được rèn luyện để tránh việc viết sai chính tả các chữ
ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ lẫn lộn nhằm đạt mục tiêu môn học.
Kỹ năng viết chính tả thực sự cần thiết không chỉ đối với học sinh lớp 3 mà
cần thiết đối với tât cả mọi người,. Khi đọc một văn bản viết đúng chính tả, người
đọc có cơ sở hiểu đúng nội dung văn bản đó . Trái lại một văn bản mắc nhiều sai
sót về chính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu
đầy đủ nội dung văn bản .
Tính chất nổi bậc của phân môn chính tả là thực hành vì các kĩ năng, kĩ xảo
chỉ có thể hình cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập .
Có thể nói, phân môn Chính tả đã góp phần trong việc đào tạo và giáo dục
học sinh phát triển toàn diện về năng lực, phẩm chất và trí tuệ. Học tốt môn học
này, các em sẽ có một nền móng vững chắc về nhận thức và tư duy để học tốt và
các môn học khác, là cơ sở cho việc học tốt bộ môn Tiếng việt ở tiểu học .
Chính từ tầm quan trọng của môn học và từ việc xác định đúng vị trí của phân
môn này, mà từ lâu phân môn Chính tả đã được các cấp quản lý của Ngành giáo
dục quan tâm, coi trọng và luôn có những nhìn nhận đúng đắn. Tuy nhiên, trên thực

- Khắc phục nhanh chóng những lỗi sai khi viết chính tả .
- Ham thích học môn chính tả để đạt được điểm cao.
- Có tâm lý thoải mái trong giờ chính tả .
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
2
Sáng kiến kinh nghiệm
3 - Phạm vi nghiên cứu của đề tài :
- Sách giáo khoa Tiếng việt 3 ( 2 tập )
- Sách giáo viên Tiếng việt 3 ( 2 tập )
- Sách giáo Thiết kế Tiếng việt 3 ( 2 tập )
- Chuẩn kiến thức, kĩ năng phân môn Chính tả lớp 3.
- Rút kinh nghiệm thực tế dạy trên lớp của mình từ nhiều năm.
- Dự giờ, học tập đồng nghiệp.
- Theo dõi chất lượng giảng dạy phân môn chính tả của lớp mình đang giảng
dạy .
II-
II-
Phương
Phương pháp tiến hành
pháp tiến hành:
:
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn:
a) Cơ sở lí luận:
Nguyên tắc dạy chính tả không thể tách rời các nguyên tắc dạy học

đúng ).
- Học sinh có đầy đủ đồ dùng học tập .
- Giáo viên có kế hoạch rèn học sinh viết đúng chính tả ngay từ đầu năm học
( thống kê phân loại học sinh yếu chính tả để thường xuyên theo dõi vào giờ học
chính tả )
* Khó khăn:
- Học sinh chưa phân biệt được cách phát âm hoặc phát âm sai một số tiếng,
từ có âm,vần khó.
- Vốn từ Học sinh lớp 3 còn hạn chế . Các em chỉ hiểu nghĩa các từ ngữ ở mức
độ đơn giản trong khi từ ngữ Tiếng việt vô cùng phong phú.
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
4
Sáng kiến kinh nghiệm
- Học sinh không nắm được quy tắc chính tả .
- Học sinh còn mang nặng tiếng địa phương .
- Đa số gia đình các em sống nghề nông còn nghèo, cha mẹ lo đi làm ăn xa để
kiếm sống, chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em.
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu biện pháp rèn học sinh viết
đúng chính tả, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế học sinh lớp tôi ngay từ
đầu năm. Kết quả cụ thể như sau :

Thời điểm
SS
HS
Học lực phân môn chính tả
GIỎI KHÁ T. BÌNH YẾU
SL TL SL TL SL TL SL TL
Đầu năm 27 4 5 7 11 29,5%
Cụ thể qua bài chính tả khảo sát đầu năm số học sinh mắc lỗi quá nhiều :
Số lỗi học sinh sai qua bài viết: 0 - 1 lỗi (4 em)

+ ưu/ươu: mươu trí/mưu trí; con hưu/con hươu
* Về âm cuối:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac: đất các/đất cát
+ an/ang: cái bang/cái bàn
+ ăt/ăc: mặt quần áo/mặc quần áo
+ ăn/ăng: khăng quàng/khăn quàng
+ ât/âc: gậc đầu/gật đầu
+ ân/âng: vân lời/vâng lời
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
6
Sáng kiến kinh nghiệm
+ ên/ênh: bện tật/bệnh tật
+ iêt/iêc: thiếc tha/thiết tha
+ uôn/uông: mong muống/mong muốn
+ uôt/uôc: suốc đời /suốt đời
+ ươn/ương: vường rau/vườn rau
* Lỗi viết hoa:
Lỗi viết hoa của các em thường gặp ở 2 dạng:
- Không viết hoa đầu câu, danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh:
Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe - viết): Chiếc áo len - Viết đoạn 4 (TV3-T1,
tr.20)
+ Câu “Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá.” học
sinh viết: “Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, lan ân hận quá”.
- Viết hoa tùy tiện: có 15/25 em.
* Ví dụ: Nghe – viết: Người mẹ (TV3 - Tập 1, tr.30)
+ Câu “Thần không hiểu rằng: vì con người mẹ có thể làm được tất cả.” học
sinh lại viết: “Thần không hiểu rằng: Vì con, Người Mẹ có thể làm được tất cả”.
Ngoài ra ở một số bài viết, học sinh trong lớp còn mắc các lỗi khác như:
Trình bày chưa sạch, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét (ví dụ: “mềm” lại viết là

học sinh, giáo viên dùng phiếu thăm dò.
2.3. Phương pháp trao đổi và toạ đàm với đồng nghiệp.
2.4. Kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm
2.5. Dạy thực nghiệm
Để minh hoạ cho các giải pháp và các phương pháp đã nêu ở trên tôi đã chọn
và dạy một bài trong chương trình lớp 3- Bài: “Cô giáo tí hon.”
* Thời gian tiến hành:
- Lớp 3A1 Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa
- Thời gian : 2012 – 2013.
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
8
Sáng kiến kinh nghiệm
Phương pháp thực nghiệm.
2. Phương pháp thực hành.
3. Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm.
4. Phương pháp đối chứng so sánh kết quả.
5. Phương pháp trao đổi và toạ đàm với đồng nghiệp.
6. Phương pháp dạy học hướng tập trung vào học sinh.
Khi sử dụng các phương pháp nghiên cứu này, tôi luôn cố gắng khắc phục
nhược điểm của từng phương pháp. Tôi chọn phương pháp dạy học hướng tập
trung vào học sinh là phương pháp nghiên cứu chính.
* Thời gian tiến hành:
- Lớp 3A Trường Tiểu học
- Thời gian : 2013 – 2014.
Trên cơ sở xác định được nguyên nhân dẫn đến thực trạng dạy học môn Tự
nhiên và xã hội lớp 3, trong thời gian qua, tôi đã lập nội dung chương trình dạy học
và định hướng các nhóm phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả
học tập của học sinh như sau:
B.
B.

suy nghỉ /suy nghĩ
sữa lỗi /sửa lỗi
* Về âm đầu: Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ g/gh: đua ge/đua ghe, gi bài/ghi bài
+ ng/ngh: ngỉ nghơi/nghỉ ngơi
+ c/k: céo cờ/kéo cờ, cẹp tóc/kẹp tóc
+ s/ x: sẻ gỗ/xẻ gỗ, chim xẻ/chim sẻ
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
10
Sáng kiến kinh nghiệm
+ d/ gi: dữ gìn/giữ gìn, da vị/gia vị
Trong đó lỗi về s/x; g/gh; ng/ngh; d/gi là phổ biến hơn cả.
* Về âm chính: Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các
vần sau đây:
+ ai/ay/ây: máy bây/máy bay
+ ao/au/âu: lâu bàn ghế/lau bàn ghế
+ oe/eo: sức khẻo/sức khỏe
+ iu/êu/ iêu: kì dịu/kì diệu
+ ăm/âm: đỏ thấm/đỏ thắm; tối tâm/tối tăm
+ ăp/âp: gập gỡ/gặp gỡ
+ ip/iêp: nhân diệp/nhân dịp
+ ui/ uôi: cuối đầu/cúi đầu; cúi cùng/cuối cùng
+ ưi/ ươi: trái bửi/trái bưởi; khung cưỡi/khung cửi
+ ưu/ươu: mươu trí/mưu trí; con hưu/con hươu
* Về âm cuối:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac: đất các/đất cát
+ an/ang: cái bang/cái bàn
+ ăt/ăc: mặt quần áo/mặc quần áo
+ ăn/ăng: khăng quàng/khăn quàng

uyu, uênh, oang, oeo, ươu, uyên, uyêt, uêch, …).
- Chưa phân biệt được cách phát âm hoặc phát âm sai (Ví dụ: at/ac, et/ec,
an/ang, iu/iêu, iêc/iêt, ươc/ươt, …).
- Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (để dành/tranh giành, dở dang/giang sơn, …).
- Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả (g chỉ được ghép với a, ă, â, o, ô, ơ,
u, ư và gh, ngh chỉ ghép với e, ê, i ).
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
12
Sáng kiến kinh nghiệm
3 – Một số giải pháp giúp học sinh lớp 3 viết đúng chính tả :
Trước tình hình học sinh lớp viết còn sai nhiều lỗi chính tả, tôi đã áp dụng một
số biện pháp khắc phục như sau:
3.1. Luyện phát âm:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát
âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm
cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với
nhau. Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ở địa
phương, sinh ra và lớn lên trong môi trường phát âm như vậy nên các em cũng có
thói quen phát âm sai dẫn đến hiện tượng viết sai chính tả.
* Ví dụ: hoa sen - hoa xen; cái vung - cái dung; cái kéo - cái kếu; đồng bào -
đồng bồ,… Giáo viên phải phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học
sinh viết đúng chính tả.
3.2. Phân tích so sánh giúp học sinh nắm vững cấu tạo tiếng, từ :
Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh tiếng,
từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả. Với những tiếng khó, giáo viên áp
dụng biện pháp phân tích, so sánh cấu tạo tiếng, từ. Với những tiếng dễ lẫn lộn,
giáo viên cần nhấn mạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ.
* Ví dụ: Dạy bài ( Nghe - viết) Ông ngoại (TV3 - Tập 1, tr.34)
Trong đoạn viết có câu: “Trong cái vắng lặng của ngôi trường cuối hè, …trong
đời đi học của tôi sau này”.

được chữa.
Để làm tốt khâu chữa bài, tôi hướng dẫn học sinh thực hiện các bước sau:
- Cho học sinh phát hiện những lỗi sai trong bài viết của mình và tự chữa lỗi.
- Giáo viên chấm bài, kiếm tra việc sửa lỗi của học sinh. Giáo viên tổng kết lỗi,
phân tích, so sánh những lỗi học sinh đã viết sai.
- Giáo viên cho học sinh ghi vào sổ tay chính tả những lỗi đã được chữa.
3.5. Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả:
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
14
Sáng kiến kinh nghiệm
Trong các tiết chính tả ngoài việc so sánh, phân tích cấu tạo từ, tiếng, giúp học
sinh hiểu nghĩa từ, tôi còn giúp học sinh ôn lại một số quy tắc chính tả mà các em
đã được học. Ví dụ như các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm g
chỉ kết hợp với : a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư. …
Ngoài ra tôi còn cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật chính tả khác
như sau:
- Phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng
s (sắn, sung, sầu riêng, sứ, sả, sim, sậy, …; sáo, sên, sâu, sán, sóc, sói, sư tử,…).
- Phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều
bắt đầu bằng ch (chổi, chum, chén, chảo, chai, chày, chăn, chiếu,…; chó, chuột,
châu chấu, chuồn chuồn, chào mào, chiền chiện,…).
- Cũng có thể cung cấp thêm cho học sinh mẹo luật sau:
Từ có âm đầu là m, n, nh,v, l, d, ng thì viết là dấu ngã.
* Ví dụ: m: mĩ mãn, mã lực, từ mẫu, cần mẫn,…
n: nỗ lực, trí não, truy nã, nữ giới,…
nh: nhẫn nại, nhẵn bóng, quấy nhiễu, nhõng nhẽo,…
v: vĩnh viễn, vỗ về, vũ trang, võ nghệ, vũ trụ,…
l: lễ phép, lữ hành, kết liễu, thành lũy, lạnh lẽo, …
d: dã man, dã tràng, dũng cảm, dỗ dành, hướng dẫn, diễm lệ,…
ng: ngưỡng mộ, hàng ngũ, ngữ nghĩa, ngôn ngữ, ngỡ ngàng, ngã (té),

Khoanh tròn vào chữ cái trước từ ngữ viết đúng chính tả:
a . suy nghỉ b. nghĩ hè c. nghỉ phép
d. im lặn e. lặn lội g. vắng lặn
h. muối cam i. hạt múi k. sương muối
+ Bài tập điền Đúng - Sai:
Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô
trống trước những chữ viết sai chính tả:
a chim xẻ mổ xẻ
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
16
Sáng kiến kinh nghiệm
dìu dắt dìu biếc
mải miết mãi mãi
+ Bài tập nối tiếng:
Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng
chính tả:
A B
a. mong tròn (1)
b. rau khổ (2)
c. cuộn muốn (3)
d. khuôn cau (4)
e. buồng muống (5)
+ Bài tập phát hiện:
Tìm từ sai chính tả trong các câu sau và sửa lại cho đúng:
a. Dẫu các cháu không dúp gì được, nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.
b. Một ngôi xao chẳng sáng đêm.
c. Chỉ có vần trăng vẫn thao thức như canh gát trong đêm.
d. Anh cảm thấy dễ chiệu và đầu óc bớt căng thẳng.
3.7. Giúp học sinh viết dúng chính tả qua các môn học khác:
Không những giúp học sinh viết đúng chính tả ở các giờ học chính tả mà

Kết quả học lực phân môn Chính tả cụ thể qua từng đợt kiểm tra như sau:
Thời điểm
Số
lượng
Học lực phân môn chính tả
GIỎI KHÁ T. BÌNH YẾU
SL TL SL TL SL TL SL TL
Đầu năm 27 6 22,3% 6 22,3% 7 25,9% 8 29,5%
Cuối
tháng 9
27 7 25,9% 8 29,5% 6 22,3% 6 22,3%
Với kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, tôi cũng đã áp dụng một số biện pháp
này vào các giờ học chính tả cụ thể như : năm học 2012 - 2013, chất lượng học
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
18
Sáng kiến kinh nghiệm
phân môn Chính tả đạt kết quả cao có 18/ 28 học sinh đạt giỏi không có học sinh
yếu về chính tả.
C. KẾT LUẬN
C. KẾT LUẬN
1. Những điều kiện, kinh nghiệm áp dụng, sử dụng giải pháp.
Từ những kết quả mà tôi đã nêu trên, trong quá trình giảng dạy tôi tự nhận
thấy rằng: Để giúp học sinh lớp 3 học tốt phân môn chính tả cũng như để nâng cao
chất lượng học tập của học sinh, giáo viên cần phải thực hiện tốt những vấn đề sau:

1. Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân mắc lỗi, từ đó đưa ra
các biện pháp khắc phục là rất cần thiết không thể thiếu trong quá trình dạy học
Tiếng Việt.
2. Giáo viên cần hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các qui tắc chính tả, qui tắc
kết hợp từ, qui tắc ghi âm chữ quốc ngữ và cung cấp cho các em một số mẹo luật

đạo và bạn bè đồng nghiệp để đề tài của tôi ngày càng hoàn thiện hơn./.
Ngày 26 tháng 9 năm 2013.
Người thực hiện

Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
20
Sáng kiến kinh nghiệm
Trần Thị Hồng - Trường Tiểu học Lê Văn Hiến
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status