SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9 - Pdf 24

1
UBND HUYỆN BÌNH GIANG
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9
Năm học: 2013-2014
PHẦN 1
1, Tên sáng kiến: Một số biện pháp về bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí lớp 9
2, Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Địa lí lớp 9( Mục Bồi dưỡng học sinh giỏi)
3, Tác giả:
Họ và tên: Vũ Trọng Thuấn
Ngày, tháng, năm sinh: 13/12/1978
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Địa lí
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Tân Hồng
Điện thoại: 0972.348.298
4, Đồng tác giả: Không
5, Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
6, Đơn vị áp dụng sáng kiến
7, Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 9
8, Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: năm học 2010-2011
2
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Đối với mỗi đối tượng học, đặc biệt là học sinh giỏi thì phương pháp hay
biện pháp để giảng dạy cần có sự khác biệt so với các đối tượng thông thường,
có nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau song mỗi phương pháp đều có
những ưu điểm và hạn chế, do vậy tìm ra được phương pháp giảng dạy phù hợp
cho đối tượng này là rất cần thiết. Trong nhiều năm kết quả học tập của học sinh
chưa cao, đây là điều trăn trở của mỗi giáo viên giảng dạy môn học, từ lí do đó
tôi quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp về bồi dưỡng học sinh giỏi môn
Địa lí lớp 9” với hi vọng rằng sẽ cải thiện một bước đáng kể trong quá trình dạy

nội dung và phương pháp thì việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi cũng gặp
nhiều khó khăn, là người trực tiếp được phân công giảng dạy đội tuyển tôi luôn
trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ này, đó là vấn đề
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Chính vì vậy tôi chọn đề tài “ Một số
biện pháp về bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí lớp 9”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục đích: Tìm hiểu về một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi Địa
lí lớp 9. Qua đó đánh giá được thực trạng của việc giảng dạy, mức độ linh hội
4
kiến thức của học sinh, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng
giảng dạy và học tập.
- Nhiệm vụ: Phân tích các phương pháp giảng dạy có thế mạnh và hạn chế
gì trong việc bồi dưỡng, làm thế nào để áp dụng các phương pháp này một cách
có hiệu quả nhất. Giúp học sinh lĩnh hội kiến thức và áp dụng vào học tập một
cách tốt nhất.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: Những phương pháp giảng dạy, học tập của thày và trò trong
nhà trường THCS qua môn Địa lí 9
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung trình bày thực trạng, trên cơ sở nghiên
cứu các tiết dạy trong chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lí lớp 9 và sự lĩnh
hội kiến thức của đội tuyển học sinh giỏi.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, khái quát
hoá điều tra thực tế, so sánh… để thực hiện những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra.
5. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, đề tài được kết cấu thành 3 chương
5
PHẦN NỘI DUNG
Chương I:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG

kĩ năng tư duy.
Trên cơ sở quan niệm về học sinh giỏi như trên có thể thấy rằng để giáo
dục học sinh giỏi là công việc khó khăn đòi hỏi nhiều công sức của thầy và trò,
6
cũng như thời gian bồi dưỡng, phương pháp, nội dung bồi dướng và số tiết giảng
dạy v.v…
2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT HIỆN, ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VÀ HỌC SINH GIỎI ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG
THCS.
Thời đại hiện nay là thời đại công nghệ thông tin gắn với nền kinh tế trí
thức toàn cầu hóa, Việt Nam bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa – Hiện đại
hóa, nghĩa là phải thực hiện hai cuộc cách mạng cùng một lúc để từ một nền văn
minh nông nghiệp tiến nên văn minh công nghiệp và tiến thẳng tới văn minh trí
tuệ. Trong công cuộc hòa nhập và phát triển chúng ta càng thầy rõ hơn vai trò,
tàm quan trọng của nền kinh tế tri thức, suy rộng ra đó là dân trí – là nhân lực
đặc biệt và nhân tài phải trở thành một bộ phận chất lượng cao của nhân lực.
Trên cơ sở: “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia” Đảng và Nhà nước ta đã
chỉ ra phương hướng phát triển nguồn nhân lực, nhân tào cho đất nước trong
thời đại mới, phát huy nội lực của người Việt Nam. Vì lẽ đó công tác phát hiện
và đào tạo nhân tài là một trong những quốc sách hàng đầu của nước ta.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sự phát triển của nền công nghiệp hóa
và những lĩnh vực khoa học khác đòi hỏi phái có những cán bộ giỏi. Điều đó đòi
hỏi phải được chuẩn bị ngay trong chương trình học phổ thông, việc phát hiện,
bồi dưỡng sẽ ươm mầm cho tương tai.
Trường THCS Tân Hồng trong nhiều năm qua bám sát mục tiêu giáo dục
của ngành trong công tác giảng dạy, giáo dục và bồi dưỡng học sinh giỏi cũng
đã xác đinh tầm quan trọng của công tác này, vì vậy năm học nhà trường cũng
làm công tác tuyển chọn và có kế hoạch dài hơi cho chương trình bồi dưỡng.
Với môn Địa lí và Địa lí lớp 9 trong nhiều năm qua do quan niệm vẫn là
một môn học phụ nên cũng chưa được quan tâm đúng mức, mặc dù trong các kỳ

cơ bản nêu trên, hoặc là cơ sở để rút ra các kiến thức khái quát.
3.1.3. Kiến thức địa lí phổ thông mà học sinh cần nắm được chi thành 6
mức độ.
- Biết: Học sinh ghi nhớ các sự kiện, khái niệm, định lí, hệ quả, công thức
và các nguyên lí thực hiện dưới các hình thức đã học.
- Hiểu: Sử dụng các thông tin trong các tình huống khác nhau đối chiếu
với các tình huống đã học để khái quát hóa những kiến thức đã biết.
- Vận dụng: Biết tách tổng thể các đơn vị kiến thức lớn thành các bộ phận
và biết rõ sự liên hệ giữa các bộ phận đó với nhau trong cùng một cấu trúc.
- Tổng hợp: Từ các kiến thức đơn lẻ học sinh biết kết hợp thành một tổng
thể. Cần có khả năng phân tích để đi đến tổng hợp, thể hiện sự sáng tạo của các
nhân trên cơ sở học được các kĩ năng.
- Đánh giá: Có sự so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định trên cơ sở các
tiêu chuẩn và tính hợp lí, cần có khả năng tổng hợp để đánh giá một sự vật hiện
tượng.
3.2. Kĩ năng địa lí
3.2.1. Củng cố và phát triển các kĩ năng
8
- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp hoặc so sánh, đánh giá các sự vật
hiện tượng, sử dụng bản đồ, biểu đồ…
- Thu thập, xử lý, trình bày các thông tin địa lí
- Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và giải
quyết một số vấn đề có liên quan đặc biệt trong cuộc sống.
3.2.2. Kĩ năng học địa lí trong nhà trường có thể chia thành 6 mức độ
- Bắt chước: Quan sát và cố gắng lặp lại một kĩ năng nào đó
- Thao tác: Hoàn thành một kĩ năng nào đó theo chỉ dẫn của giáo viên
- Chuẩn hóa: Lặp lại kĩ năng một cách chính xác, nhịp nhàng, đúng đắn,
không phải có sự hướng dẫn.
- Phối hợp: Kết hợp nhiều kĩ năng theo một trật tự quy định, ổn định
- Tự động: Hoàn thành một kĩ năng hay nhiều kĩ năng một cách dễ dàng

cho học sinh ôn tập thường xuyên. Sau một số bài, mộ số chương hay chuyên đề
cần có sự ôn tập lại để tăng cường trí nhớ.
- Muốn nhớ lâu phải tạo được ấn tượng mạnh, một kiến thức hay một sự
kiện nào đó trong khí được giải quyết cần phải tạo được ấn tượng mạnh dù đó là
chuẩn xác hay sai lầm, học sinh sẽ nhận biết được. Sai thì sẽ tránh được, đúng
thì nhớ lâu bền, do vậy khi giảng dạy cần tạo được ấn tượng mạnh trong mỗi
đơn vị kiến thức cần đạt.
- Hứng thú học tập của học sinh được tạo lên từ sự nhớ lâu, nếu học sinh
đam mê với việc học tập thì sẽ tạo ra hứng thú, điều này giúp học sinh quan tâm
nhiều hơn đến các đơn vị kiến thức cần đạt, hứng thú có thể ví như chất men
kích thích việc học tập của học sinh.
- Tập trung chú ý sẽ làm tăng trí nhớ, trong quá trình học tập học sinh
phải tập trung tối đa vào việc học(nghe giảng, trao đổi , thảo luận ) học xong
mới tập trung vào việc khác.
4.2. Rèn luyện kĩ năng tư duy
Quan niệm tư duy được biểu hiện bằng các thao tác như phân tích, tổng
hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa. Để đánh giá một học sinh có tư duy
tốt hay không tốt thường dựa vào đánh giá khả năng của các thao tác tư duy, do
vậy rèn luyện tư duy là rèn luyện các thao tác của nó.
- Rèn luyện tư duy một cách thông dụng nhất là dựa vào việc học sinh tự
trả lời các câu hỏi và thực hiện làm các bài tập ở sách giáo khoa, sách bài tập…
các câu hỏi dạng phân tích sẽ giúp cho tư duy phát triển tốt
- Trong học tập địa lí hiện nay các tư duy cần được rèn luyện là:
+ Câu hỏi dạng phân tích: Các câu hỏi này nhằm gợi ý tách riêng từng
phần của sự vật và hiện tượng địa lí. Ví dụ phân tích khả năng để đồng bằng
sông Hồng trở thành vựa lúa lớn thứ 2 của cả nước hay đồng bằng sông Cửu
Long trở thành vùng lương thực, thực phẩm hàng đầu của cả nước
+ Câu hỏi dạng tổng hợp: Các câu hỏi này nhằm là cho học sinh xác lập
được tính thống nhất và mối liên hệ giữa các thuộc tính và sự vật, câu hỏi tổng
hợp không phải là tổng cộng đơn thuần các bộ phận của sự vật, sự tổng hợp

- Đây là kĩ năng có bản của môn học, nếu không nắm vững kĩ năng này
thì khó có thể hiểu và giải thích được các sự vật hiện tượng, tự mình cũng khó
tìm tòi các kiến thức địa lí khác. Do tính chất cơ bản của kĩ năng này lên trong
nhiều năm đề thi học sinh giỏi huyện, tỉnh đều thực hiện trên cơ sở đó và chủ
yếu thông qua Át lát Địa lí Việt Nam. Do vậy việc rèn luyện kĩ năng về bản đồ
không thể thiếu trong học địa lý.
- Thông thường khi làm việc với bản đồ học sinh phải:
+ Hiểu hệ thống kí hiệu, ước hiệu trên bản đồ
11
+ Nhận biết, chỉ và đọc tên các đối tượng địa lí trên bản đồ
+ Biết đặc điểm, vị trí, sự phân bố các đối tượng địa lí trong không gian
và mô tả được đặc điểm của các đối tượng đó
- Muốn đọc được bản đồ phải có kiến thức địa lí, nếu không có kiến thức
thì không thể đọc được bản đồ, Ví dụ muốn phân tích được tại sao Hà Nội và
vùng phụ cận lại có công nghiệp tập trung ở mức độ cao, thì ngoài quan sát bản
đồ phải có các kiến thức liên quan về xã hội, tự nhiên…
4.3.2. Kĩ năng làm việc với Át lát Địa lí Việt Nam
Trong các đề thi học sinh giỏi thường các em luôn thấy dạng câu hỏi có
dựa vào Át lát, ví như: Dựa vào Át lát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học em
hãy:… Với những câu hỏi loại này học sinh phải dựa vào cả hai cơ sở là kiến
thức đã học và Át lát, việc tách rời hoặc không đảm bảo hai cơ sở sẽ dẫn đến bỏ
sót kiến thức kể cả Át lát và kiến thức đã học.
Ví dụ : Dựa vào kiến thức đã học và Át lát Địa lí Việt Nam hãy: Cho biết
sự phân bố cây công nghiệp và cây lương thực? Giải thích sự phân bố đó?.
- Những kiến thức học sinh có thể khai thác được một cách đơn giản nhất
là quan sát để nhận xét:
+ Ngành trồng trọt nước ta có cơ cấu cây trồng đa dạng gồm cây công
nghiệp và cây lương thực- thực phẩm.
+ Cây công nghiệp gồm: Cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, chè… phân bố chủ
yếu ở vùng đồi núi và trung du

số liệu theo cột dọc và hàng ngang với một trình tự hợp lý, chú ý so sánh các
mốc thời gian đầu và cuối của bảng, các mốc thời gian liền kề nhau theo thứ tự,
các mốc có tính đột biến
- Trong một số trường hợp cần thiết, cần phải có sự tính toán lại bảng số
liệu trước khi tiến hành nhận xét, ví dụ: Một bảng số liệu tuyệt đối, bài lại yêu
cầu nhận xét về cơ cấu, hay bảng số liệu chỉ cho giá trị xuất khẩu và dân số của
một năm nào đó của các trung tâm kinh tế lớn ở nước ta nhưng lại yêu cầu nhận
xét về giá trị xuất khẩu bình quân đầu người. Trong những trường hợp này cần
phải tính toán trước khi nhận xét( dù bài tập đó có yêu cầu hoặc không có yêu
cầu). Do vậy khi phân tích một bảng số liệu cần lưu ý một số điểm sau:
+ Phân tích câu hỏi làm rõ yêu cầu và phạm vi cần phân tích, nhận xét,
phát hiện những yêu cầu chủ đạo để tập trung làm rõ, nếu như không xác định
đúng yêu cầu chủ đạo thì rất dễ bị lạc đề.
+ Tái hiện lại kiến thức có bản có liên quan đến yêu cầu của câu hỏi và
đến các số liệu đã cho để xác đinh tiêu chí cho phù hợp. Ví dụ: Khi câu hỏi yêu
cầu dựa vào các số liệu cần thiết để nhận xét dân cư, cần phải phác thảo một dàn
ý bao gồm: động lực gia tăng dân số nói chung và qua các thời kỳ nói riêng, quy
mô, kết cấu, phân bố dân cư. Đối với một thành phố, dàn ý gồm: Quy mô, chức
năng, sự phân cấp, phân bố. Đối với một ngành kinh tế dàn ý lại khác: đề cập
đến vai trò, nguồn lực, tình hình phát triển, cơ cấu ngành và lãnh thổ, sự phân
bố… Tuy nhiên đây chỉ là cái chung, cần dựa vào để trình bày, tránh sót ý. Việc
phân tích, nhận xét cụ thể còn tùy thuộc vào các số liệu đã cho.
13
Việc phân tích và nhận xét bảng số liệu thông thường được tiến hành như
sau: Phát hiện các mối liên hệ giữa số liệu theo cột dọc và hàng ngang, chú ý
đến các giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, giá trị trung bình, những đột biến tăng hay
giảm đột ngột, chú ý so sánh đối chiếu cả giá trị tuyệt đối và tương đối; Chú ý
phân tích khái quát trước sau đó mới đi sâu vào các thành phần cụ thể; Khi xét
nên theo trình tự từ khái quát đến cụ thể, từ chung đến riêng, từ cao xuống thấp
bám sát yêu cầu của câu hỏi và kết quả xử lý số liệu. Mỗi nhận xét đều có dẫn

thể hiện quy mô, sự phát triển, cơ cấu, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, biểu đồ
kết hợp.
- Dựa theo hình dáng của biểu đồ có thể chia biểu đồ ra các loại: cột đơn,
cụm cột, cột chồng, thanh ngang….; biểu đồ đường( một đường hay nhiều
đường); biểu đồ kết hợp cột và đường, biểu đồ tròn, biểu đồ vuông, biểu đồ
miền Trong đề thi hiện nay chủ yếu nhằm vào các dạng phức tạp, thường là các
loại biểu đồ kết hợp. Nhiệm vụ đặt ra là vẽ biểu đồ gì thì học sinh sẽ phải thể
hiện các loại biểu đồ đó. Tùy từng trường hợp mà học sinh qua rèn luyện sẽ vẽ
được các loại đã cho sẵn, hoặc phải lựa chọn các biểu đồ thích hợp từ những số
liệu đã cho, đôi khi còn phải tính toán số liệu cho bán kính của biểu đồ( thể hiện
quy mô)
- Khi vẽ biểu đồ phải chính xác, rõ ràng, có chú giải cho biểu đồ, đảm bảo
tính mĩ thuật.
Ví dụ 1: Cho bảng số liệu sau:Giá trị sản xuất công nghiệp theo thành
phần kinh tế của Đông Nam Bộ thời kì 1995 – 2005 (Tỉ đồng)
Năm 1995 2005
Tổng số 50508 199622
Khu vực Nhà nước 19607 48058
Khu vực ngoài Nhà nước 9942 46738
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 20959 104826
Hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp
theo thành phần kinh tế.
a. Vẽ biểu đồ
Bước 1: Xác định dạng biểu đồ cần vẽ
Căn cứ vào tên và nội dung bảng số liệu, ta xác định đây là dạng bảng số
liệu thể hiện quy mô, cơ cấu và sự thay đổi quy mô, cơ cấu của tổng thể nên ta
có thể lựa chọn biểu đồ hình tròn (Hai hình tròn) và biểu đồ hình cột (Cột chồng
15
tuyệt đối) Nhưng lựa chọn dạng biểu đồ hình tròn (Hai hình tròn) là tối ưu hơn
cả.

1
2
S
SKhi đó sẽ có tỉ lệ bán kính là: R
2
= R
1
1
2
S
S

 R
2
= 1

.

95.3
= 2.
Bước 3: Vẽ biểu đồ
Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ: Ghi tên biểu đồ, ghi chú giải cho biểu đồ
- Đưa số liệu của các thành phần vào biểu đồ
Năm 1995 Năm 2005
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÔNG
NGHIỆP CỦA ĐÔNG NAM BỘ THỜI KÌ 1995 – 2005 (%)
16

đơn vị khác nhau trong nhiều mốc thời gian nên biểu đồ lựa chọn tối ưu nhất đáp
ứng các yêu cầu trên là biểu đồ đường .
Bước 2: Xử lí số liệu
Biểu đồ dạng nhiều đường thể hiện tốc độ tăng trưởng của nhiều đối tượng
có nhiều đơn vị khác nhau nên số liệu cần được xử lí chuyển sang số liệu tương
đối (%).
Theo công thức tính tốc độ tăng trưởng: Đơn vị:%, lấy năm gốc (Năm
đầu) là 100%.
Sau khi tính toán ta có kết quả bảng xử lí số liệu như sau:
Tốc độ tăng trưởng sản xuất lúa của Việt Nam thời kì 1980 – 2008 (%)
Năm 1980 1990 1995 2000 2005 2008
Diện tích 100 99 111 126 120 122
Sản lượng 100 166 215 280 309 334
Năng suất 100 167 194 223 258 274
17
Bước 3: Vẽ biểu đồ
Vẽ hệ toạ độ Oxy, trục Oy chia đơn vị của tốc độ tăng trưởng của diện
tích, sản lượng và năng suất lúa của Việt Nam là %, trục Ox chia khoảng cách
năm, năm đầu lấy trùng với trục tung Oy.
Đối chiếu số liệu đã cho với số năm và đơn vị đã chia, ta vẽ lần lượt các
điểm uốn thể hiện tốc độ tăng trưởng của diện tích, sản lượng và năng suất lúa
của Việt Nam theo khoảng cách năm đã chia trên trục Ox, sau đó nối liền các
điểm uốn của một đối tượng ta có đường biểu diễn thể hiện đối tượng đó.
Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ
- Ghi tên cho biểu đồ, lập bảng chú giải, ghi số liệu trên biểu đồ:
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA DIỆN TÍCH
SẢN LƯỢNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA CỦA VIỆT NAM THỜI KÌ 1980 –
2008 (%)
Chú giải:
Diện tích Sản lượng Năng suất

tình huống có vấn đề để học sinh tự giải quyết vấn đề, hoặc có sự hướng dẫn của
giáo viên, sử dụng tối đa thiết bị dạy học, tổ chức các trò chơi địa lí.Thi kể
chuyện về Địa lí, Đa dạng hoá các hình thức kiểm tra và đối tượng kiểm tra, có
điểm thưởng cho học sinh. Thường xuyên ra các bài tập về nhà cho học sinh làm
rồi thu vở chấm nhằm phát hiện những lỗi sai của học sinh từ đó uốn nắn, sửa
lỗi kịp thời.
Lồng ghép những kiến thức thực tế trong sản xuất và đời sống vào bài giảng
làm cho bài giảng sinh động và thiết thực
Nhờ các thế mà học sinh từ chỗ không thích học môn Địa lí thành yêu thích
môn Địa lí từ đó có hứng thú học tập và học tập tích cực. Làm cho chất lượng bộ
môn nâng lên rõ rệt.
Khi đó tiến hành chọn lựa những học sinh yêu thích môn Địa lí và học tập
tích cực có những kỹ năng cơ bản, để hướng dẫn các em ôn luyện những kiến
thức cơ bản và các kỹ năng Địa lí thông qua các giờ dạy ở trường, giao bài tập
về nhà cho các em làm và rèn luyện.
5.2. Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí.
- Giáo viên phải lựa chọn, xây dựng kế hoạch và chương trình cụ thể đảm
bảo tính hệ thống.
- Chuẩn bị tốt giáo án bồi dưỡng - đảm bảo kiến thức cơ bản, trọng tâm và
có hệ thống. Vì chương trình Địa Lí THCS là chương trình đồng tâm nên khi bồi
dưỡng học sinh qua mỗi chuyên đề giáo viên phải chú ý tính lô gíc và hệ thống
của kiến thức trong từng chuyên đề.
- Giáo viên bồi dưỡng đội tuyển không những trang bị cho mình về kiến
thức, phương pháp giảng dạy mà còn phải biết sưu tầm tích luỹ tư liệu dạy học,
tích cực đọc nghiên cứu tài liệu tham khảo, nâng cao tích luỹ kinh nghiệm, các
bộ đề để rèn luyện cho học sinh.
- Trong quá trình bồi dưỡng giáo viên phải kết hợp giữa việc trang bị kiến
thức cơ bản, cần thiết với việc nâng cao mở rộng kiến thức.
- Kết hợp giữa trang bị kiến thức và rèn luyện các kỹ năng Địa Lí theo từng
chuyên đề như: Kỹ năng đọc bản đồ, át lát, phân tích bản đồ, nhận xét bảng số

Hướng dẫn làm bài:
- Xử lí số liệu:( %)
Năm 1985 1990 1995 2000 2002 2005
Thành thị 18,8 20,4 20,3 24,2 25,1 26,9
Nông thôn 81,1 79,6 79,7 75,8 74,9 73,1
20
- Nhận xét:
+ Tỉ lệ dân số nông thôn và thành thị ở nước ta chênh lệch lớn, dân số
nông thôn luôn cao hơn dân số thành thị ( dẫn chứng)
+ Tỉ lệ chênh lệch đó ngày càng giảm nhưng còn quá chậm ( dẫn chứng)
- Giải thích:
+ Tỉ lệ dân số thành thị thấp, nông thôn cao là do nước ta là nước nông
nghiệp, nền sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu
+ Tỉ lệ chênh lệch giữa nông thôn và thành thị ngày càng giảm là do: sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và kết quả của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
1.2. Câu 2:
Cho bảng số liệu:
Diện tích, sản lượng và năng suất lúa cả năm của nước ta giai đoạn
1980 – 2002
Năm Diện tích
( nghìn ha)
Sản lượng
( nghìn tấn)
Năng suất
(kg/ha)
1980 5600 11647 2079
1985 5704 15874 2782
1990 6043 19225 3181
1997 7091 27645 3897

dịch cơ cấu ngành
+ Sản lượng tăng nhanh là kết quả của tăng năng suất, tăng vụ và mở rộng
diện tích.
2. Đề số 2:
2.1. Câu 1: Dựa vào kiến thức đã học hãy:
- Kể tên các ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta.
- Trình bày cơ cấu của ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm
- Chứng minh rằng ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm là ngành
công nghiệp trọng điểm của nước ta.
Hướng dẫn làm bài:
a, Tên các ngành công nghiệp trọng điểm ở nước ta:
- Khai thác nhiên liệu
- Hóa chất
- Điện
- Vật liệu xây dựng
- Chế biến lương thực, thực phẩm
- Dệt may
b, Cơ cấu ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm
22
- Chế biến sản phẩm trồng trọt: Xay xát, mía đường, cà phê, thuốc lá,
rượu bia, một số sản phẩm khác.
- Chế biến sản phẩm chăn nuôi: Sũa và các sản phẩm từ sữa, thịt và các
sản phẩm từ thịt
- Chế biến thủy sản: Nước mắm, tôm, cá, và các sản phẩm khác
c, Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm là ngành công nghiệp
trọng điểm của nước ta vì:
- Công nghiệp chế biến lương thực, thực phảm chiếm tỉ trọng cao trong cơ
cấu giá trị sản xuất công nghiệp của nước ta: 24,4%
- Phát triển dựa trên nguồn nguyên liệu tại chỗ phong phú: nguyên liệu từ
trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản.

ninh vùng biên giới.
2.3. Câu 3: Bằng kiến thức đã học hãy: Giải thích tại sao Đông Nam Bộ lại có
mức độ tập trung Công nghiệp vào loại cao nhất của cả nước.
Hướng dẫn làm bài
- Đông Nam Bộ có mức độ tập trung Công nghiệp lớn nhất cả nước
vì:
+ Vị trí địa lí thuận lợi: Giáp với đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên,
Duyên hải Nam Trung Bộ, Campuchia, Biển Đông tạo điều kiện cho việc giao
lưu về kinh tế, văn hóa với các vùng trong nước và giữa vùng với nước ngoài
nhanh chóng và thuận tiện, đặc biệt là tuyến đường hàng không, đường biển…
+ Vùng có nguồn tài nguyên phong phú, giá trị cao: dầu mỏ, khí đốt,
nguồn nguyên liệu nông, lâm, ngư nghiệp dồi dào phục vụ cho Công nghiệp chế
biến( các vùng nguyên liệu tại chỗ và xung quanh dồi dào)
+ Có nguồn lao động rất dồi dào, lực lượng lao dộng kĩ thuật đông đảo,
thị trường tiêu thụ rộng lớn.
+ Cơ sỏ vật chất kỹ thuật và hạ tầng: Vào loại tốt nhất nước ta, có chính
sách thích hợp để phát triển công nghiệp, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước
lớn nhất so với các vùng khác ( chiếm 50,1% (năm 2003) tổng số vốn đầu tư
trực tiếp của nước ngoài vào Việt nam)
+ Trình độ phát triển cao nhất so với các vùng khác trong cả nước
3. Đề số 3:
3.1. Câu 1: Nêu đặc điểm nguồn lao động nước ta? Để nâng cao chất lượng
nguồn lao động chúng ta cần phải làm gì?
Hướng dẫn làm bài
- Đặc điểm nguồn lao động nước ta:
+ Dồi dào và tăng nhanh, bình quân mỗi năm nước ta tăng thêm hơn một
triệu lao động
+ Có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, thủ công
nghiệp, có khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật, Chất lượng nguồn lao động đang
từng bước được nâng cao

phát triển tốt, ngoải ra các yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự hình
thành cơ cấu của các loại cây trồng này
+ Tây Nguyên có ưu thế về đất Feralit phát triển trên đá badan, có diện
tích rộng, khí hậu cận xích đạo, có sự phân hóa theo đai cao thích hợp với trồng
các loại cây nhiệt đới, các nhân tố kinh tế xã hội cúng có ảnh hưởng quyết định
đến sự phát triển cơ cấu các loại cây này.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status