PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ĐÔNG TRIỀU
TRƯỜNG TIỂU HỌC QUYẾT THẮNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC CHO
HỌC SINH LỚP 1 TRONG CÁC TIẾT TẬP ĐỌC
Người viết :
Đơn vị
Nguyễn Thị Thái
:
Trường Tiểu học Quyết Thắng
NĂM HỌC 2013- 2014
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dạy Tiếng Việt ở tiểu học là trang bị cho HS những tri thức về hệ thống
tiếng Việt, rèn luyện cho HS những kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong quá trình
giao tiếp bao gồm các kỹ năng : nghe, nói, đọc, viết.Trong đó kỹ năng đọc là
hoạt động được chú ý đúng mức ngay từ lớp Một.
Ở tiểu học, môn tiếng Việt rất quan trọng. Học tốt môn tiếng Việt các em
có điều kiện học tốt các môn học khác. Bởi thông qua việc dạy học môn tiếng
Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy và cung cấp cho HS những kiến
thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên xã hội và con người, về văn hoá, văn học
của Việt Nam và nước ngoài. Đồng thời bồi dưỡng cho các em tình yêu tiếng
Việt và hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để có thể bày tỏ ý nghĩa, tình cảm của mình, người ta phải nói hoặc viết
tiếng Việt cả 2 dạng ngôn ngữ (lời nói, chữ viết). Có nghĩa là dạy cả 4 kỹ năng
3. Thời gian, địa điểm
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2013 đến tháng 5/2014
Địa điểm nghiên cứu: Học sinh lớp 1B trường Tiểu học Quyết Thăng.
4. Đóng góp về mặt thực tiễn
Để xây dựng một đề tài thì việc nghiên cứu lý luận là không thể thiếu
được. Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã nghiên cứu, tham khảo các sách giáo
khoa, sách giáo viên và nhiều tài liệu có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài
này.
Thông qua đề tài này nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Rèn kỹ năng và năng lực đọc cho học sinh.
- Trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức đời sống cho học
sinh.
- Giáo dục thẩm mĩ - tình cảm - phát triển tư duy cho học sinh.
- Học sinh học môn Tiếng Việt có kết quả cao trong đó có phân môn Tập đọc.
- Học sinh đọc tốt còn giúp các em học tốt các môn khác.
Để tiến hành làm đề tài này, tôi đã nghiên cứu sách giáo khoa phân môn
Tập đọc lớp 1 để tìm hiểu nội dung, cấu trúc của chương trình. Tìm hiểu việc
dạy và học của các em có hệ thống nội dung bài học (nội dung sách giáo khoa ).
-2-
Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn dành cho giáo viên của môn Tiếng Việt trong đó
có phân môn Tập đọc lớp 1. Nghiên cứu rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy để rút
ra những điều cần thực hiện.
Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến môn Tiếng Việt nhất là phân môn Tập
đọc.
Học hỏi các đồng nghiệp trong trường nhất là giáo viên khối 1. Vì vậy đây
cũng là dịp để bản thân tôi học hỏi và tham gia các tài liệu tham khảo của các
chuyên gia nghiên cứu dạy phân môn Tập đọc cho học sinh và qua đó có thể tự
bồi dưỡng bản thân.
đọc phải thể hiện được nội dung tình cảm của bài. Để từ đó các em có thể bộc lộ
tình cảm của mình qua mỗi bài đọc một cách khác nhau. Vì thế tôi đã và đang
từng bước thực hiện nhiệm vụ dạy tốt môn Tiếng Việt, trong đó có phân môn
Tập đọc. Từ đó người giáo viên thấy rõ và xác định được việc dạy học tập đọc
-4-
cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng là một việc làm hết
sức cần thiết. Chúng ta phải làm thế nào để thông qua môn Tập đọc giúp học
sinh không những đạt được năng lực đọc mà phải hiểu nội dung của văn bản và
các thể loại từ văn xuôi đến thơ ca. Hiểu được ý đồ của tác giả và bút pháp nghệ
thuật mà mỗi tác giả đã thể hiện trong tác phẩm. Hay nói một cách khác, giáo
viên phải tìm phương pháp tiếp cận làm cho học sinh có cảm tình với bài đó,
thúc đẩy học sinh biểu lộ tình cảm, thái độ tự nhiên thông qua giọng đọc.
Trong thực tế hiện nay, để thực hiện được vấn đề này, người giáo viên phải
thay đổi cách truyền thụ để các em có thể nắm bắt được tri thức, thực hiện việc
dạy theo hướng đổi mới.
Mặt khác, việc dạy đọc cho học sinh đã có từ lâu và cũng có nhiều tài liệu
đề cập đến. Tất cả đều khẳng định vai trò của việc dạy đọc - đọc hiểu - đọc diễn
cảm cho học sinh. Vì vậy, trong quá trình dạy phân môn Tập đọc, giáo viên cần
quan tâm đến tất cả các yếu tố cấu thành chất lượng phân môn Tập đọc và đặc
biệt là việc dạy đọc cho học sinh phải được coi trọng. Thông qua việc dạy đọc
giúp các em hiểu văn bản, tiếp thu và chiếm lĩnh kiến thức. Biết đọc diễn cảm là
thể hiện được những cảm xúc, tình cảm theo từng nội dung.
1.1 Cơ sở lý luận:
Văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ, là sự nhận thức về thế giới cuộc
sống con người và xã hội. Tác phẩm văn học dùng phương tiện ngôn từ để sáng
tạo nên những hình tượng về cuộc sống con người, quê hương, xử sở và đem lại
cho người đọc những rung cảm thực sự trong sáng. Trong nhà trường tiểu học ở Việt
Nam đã coi Tiếng Việt là một môn học trung tâm, làm nền móng các môn học khác.
các em đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong từ, trong câu, đọc đúng ngữ điệu,
biết cách ngắt nghỉ hơn trong văn bản thơ, cũng như văn bản văn xuôi. Những
băn khoăn này chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp luyện đọc cho
học sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc” này nghiên cứu để góp một phần nào cho
việc rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quyết Thắng,
năm học 2013 – 2014.
1.2 Cơ sở thực tiễn:
Trong phạm vi cơ sở trường học và tình hình địa phương nơi công tác, tôi
đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
1/ Thuận lợi:
-6-
a/ Giáo viên:
- Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên
môn.Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ
năng cho học sinh tiểu học vv… cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên
cứu, học hỏi, giảng dạy
- Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờ
hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút
ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng
dạy.
- Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có
nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng
giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó
khăn hay xử lý các trường hợp học sinh cá biệt về học tập cũng như hạnh kiểm.
b/ Học sinh:
- Ở độ tuổi 6 – 7 của học sinh lớp 1.Các em đa số còn rất ngoan, dễ vâng
lời, nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên
khen thưởng vv….
lớp cũng như nhắc nhở các em học bài, đọc bài ở nhà. Các phương pháp dạy học
của phụ huynh là cũ kĩ.
2. Chương II: Nội dung vấn đề nghiên cứu
2.1. Thực trạng
Mặc dù lâu nay các thầy cô giáo đã và đang thực hiện viêc rèn đọc đúng,
đọc diễn cảm cho học sinh, nhất là đối với học sinh tiểu học, nhưng điều đó vẫn
còn bị hạn chế.
Bản thân tôi là một giáo viên Tiểu học đã trực tiếp dạy lớp 1 nhiều năm tôi
thấy được quá trình dạy đọc đúng - đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu học là rất
quan trọng. Đối với học sinh lớp 4-5, việc đọc diễn cảm và đọc đúng đã là vấn
đề khó thì đối với học sinh lớp 1 lại càng khó hơn nhiều. Bởi vì các em đều là
học sinh mới bắt đầu đến trường, việc làm quen với các con số và mặt chữ còn
khó khăn thì việc đòi hỏi các em đọc đúng, đọc diền cảm lại càng khó. Nhưng
nếu được quan tâm rèn luyện thì các em dần dần sẽ tiếp thu được.
Thực tế khảo sát chất lượng của phân môn Tập đọc đầu năm của học sinh cho
thấy, học sinh phát âm sai rất nhiều, phổ biến là sai các phụ âm đầu, vần và dấu
-8-
thanh. Học sinh thường phát âm sai phụ âm đầu l/n, ch/tr, s/x và các thanh hỏi –
ngã. Học sinh đọc bài chưa biết ngắt nghỉ dấu chấm, dấu phẩy trong một bài
văn, bài thơ. Các em chưa biết đọc diễn cảm, hạ giọng hay kéo dài giọng… ở
câu thơ, câu văn nào để người nghe cảm thấy cái hay của bài thơ hoặc bài văn
đó.
Về giáo viên, việc rèn cho học sinh kỹ năng đọc còn có một số hạn chế cần
khắc phục. Hơn nữa quy trình phân môn Tập đọc đối với học sinh lớp 1 còn mới
mẻ nên tôi phải vừa làm, vừa tìm tòi học hỏi để tự bồi dưỡng bản thân, trang bị
cho mình một vũ khí sắc bén để dạy học đạt kết quả cao. Là một giáo viên, tôi
không thể không lo ngại trước kết quả khảo sát phân môn Tập đọc của lớp 1B
tuần 25 qua bài tập đọc “ Tặng cháu”
TS
%
TS
35
2
5,7
4
11,4
3
8,6
26
74,3
0
%
Xuất phát từ cơ sở lý luận và trước thực tế trên của lớp thì với yêu cầu của
chương trình sách giáo khoa . Tôi có băn khoăn suy nghĩ là phải làm gì và làm
- Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt hoạt động của các
cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc. Càng
ngày những yếu tố này càng gần nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp
giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân tích biết người
mới biết đọc và người đọc thành thạo. Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao
nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác, càng biểu cảm bấy nhiêu.
- Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ "đọc" được sử dụng trong nhiều
nghĩa : theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc
(tức là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh), theo nghĩa rộng,
đọc được hiểu là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài). ý nghĩa
- 10 -
hai mặt của thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phương
pháp dạy học. Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai - đọc được xem
như là một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố:
a. Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ
b. Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ
theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tuỳ thuộc vào trình độ
nắm kỹ thuật đọc.
c. Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài) kỹ năng đọc là
một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện lâu dài. T.G.Egorop (dẫn theo
3.101) chia việc hình thành kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn : phân tích tổng hợp
(còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành
động) và giai đoạn tự động hoá. Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ
cái và đọc từng tiếng theo các âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn
vẹn, trong đó có sự tiếp nhận từ bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với
nhận thức ý nghĩa. Tiếp theo sự thông hiểu ý nghĩa của "từ" trong cụm từ hoặc
cơ sở ngôn ngữ học. Không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc dạy học
sẽ mang tính tuỳ tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy học.
- Vấn đề chính âm trong tiếng Việt
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ có giá trị và hiệu quả
về mặt xã hội. Vấn đề chuẩn mực phát âm tiếng Việt đang là vấn đề thời sự, có
nhiều ý kiến khác nhau. Nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như chuẩn
hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mục đích của việc xây dựng
chính âm.
- Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên
cao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói. Ngữ điệu là một trong những thành phần
của ngôn điệu. Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo
thành lời nói.
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng. Ngữ điệu tiếng Việt, như các ngôn
ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
- 12 -
(cao độ), sự nhấn giọng (cường độ), sự ngừng giọng (trường độ) và sự chuyển
giọng (phối hợp cả trường độ và cường độ).
Ngữ điệu là một hiện tượng phức tạp có thể tách ra thành các yếu tố cơ
bản có quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng) trọng âm, âm
điệu, âm nhịp và âm sắc. Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủ
những yếu tố này.
- Cơ sở lý thuyết cơ bản, phong cách học và văn học của dạy đọc
Việc dạy đọc không thể dựa trên lý thuyết về văn bản những tiêu chuẩn để
phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây muốn nói đến những bài đọc ở tiểu học)
nói chung cũng như lý thuyết để phân tích, đánh giá các tác phẩm văn chương
nói riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc hiểu cho học
với phát biểu trong lớp là hai hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ
em nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công, tạo
cho các em sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng, các em phải tính đến người
nghe. Giáo viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ cho mình
cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn để cho tất cả
những người này nghe rõ. Nhưng như thế không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào
lên. Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ "lí nhí", giáo viên cần tập cho các em
đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên cho
học sinh đứng trên bảng để đối diện với những người nghe. Tư thế đứng đọc
phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai
tay.
- Luyện đọc đúng
a. Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,
không có lỗi. Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc
đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là
không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm việc đọc
đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu).
b. Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị
tiếng Việt.
- 14 -
- Đọc đúng các phụ âm đầu: TD có ý thức phân biệt để không đọc: “nàm
việc”, “khoẻ khắn” mà phải đọc là “làm việc” ,“khỏe khoắn”.
- Đọc đúng các âm chính: TD có ý thức phân biệt để không đọc “iu tin,
chai riệu” mà phải đọc “ưu tiên, chai rượu”.
- Đọc đúng các âm cuối: TD có ý thức không đọc: “luông luông” mà phải
đọc “luôn luôn”.
- Đọc đúng bao gồm cả đọc tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điều câu. Ngữ
khi đã đọc đúng.
Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn (nhiệm vụ này phần dạy đọc
của phân môn học vần phải đảm nhận), đọc không ê a, ngắc ngứ, không vừa đọc
vừa đánh vần. Về sau tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức
bài đọc. Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ đọc
nhanh nhưng để cho người nghe hiểu kịp được. Vì vậy, đọc nhanh không phải là
đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng
với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn nhiều.
* Biện pháp luyện đọc nhanh
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu
để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn,
bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc. Ngoài ra, còn có
biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để
điều chỉnh tốc độ. Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng
cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định tốc như thế nào còn phụ
thuộc vào độ khó của bài đọc.
* Mục đích yêu cầu của phân môn tập đọc
- Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có tác dụng hình thành phát triển
ngôn ngữ cho học sinh. Tiếng Việt gồm nhiều phân môn: Tập đọc, từ ngữ, ngữ
pháp, chính tả, tập làm văn. Phân môn tập đọc có vị trí quan trọng. Dạy tốt phân
môn này đáp ứng một trong 4 kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Kỹ năng đọc nhanh,
chính xác, rõ ràng, rành mạch và diễn cảm nhờ đó học sinh có những hiểu biết
văn học ngôn ngữ và ngược lại. Vì vậy đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là
quá trình có liên quan mật thiết với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh
được những tri thức văn hoá của dân tộc và cũng từ đó giáo dục tình cảm đạo
đức cao đẹp cho học sinh, đồng thời phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy cho
các em.
Đối với học sinh lớp 1, các em bắt đầu chuyển từ giai đoạn học vần sang
tập đọc vì vậy giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả phương pháp học vần, cả phương
pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là củng cố hệ thống âm vần đã học
* Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong phần rèn đọc
Hiện nay ở tiểu học, về vấn đề rèn đọc cho học sinh, giáo viên sử dụng
phương pháp dạy học cụ thể là: phương pháp làm mẫu, phương pháp luyện đọc
theo mẫu, phương pháp luyện tập củng cố, phương pháp hỏi đáp (đặt câu hỏi để
học sinh tự tìm và phát hiện từ khó, cách ngắt nhịp câu dài…) và phương pháp
đóng vai (đối với văn kể chuyện).
* Thực trạng phần rèn đọc ở lớp 1
Qua tìm hiểu và dự giờ ở lớp 1 tôi thấy hiện nay nhìn chung giờ tập đọc
được tiến hành theo trình tự sau:
Tiết 1:
1. Kiểm tra bài cũ
Học sinh đọc lại bài của tiết trước và trả lời một số câu hỏi ứng với nội
dung bài học.
- 17 -
2. Bài mới:
a. Giới thiệu bài:
- Giáo viên chép sẵn bài đọc lên bảng lớp
- Giáo viên đọc mẫu, học sinh theo dõi
b. Hướng dẫn học sinh luyện đọc
* Luyện đọc tiếng, từ
Giáo viên kể chân những tiếng từ mà SKG yêu cầu cá nhân học sinh đọc
* Luyện đọc câu
Giáo viên đưa ra những câu thơ, văn ngắt nhịp, ngắt giọng sẵn và đọc
mẫu sau đó học sinh đọc theo cô. Khi cá nhân học sinh đọc các em khác nghe và
nhận xét bạn.
* Luyện đọc đoạn
Giáo viên nêu bài đọc chia thành……đoạn…... sau đó cho học sinh đọc
- Giáo viên nhận thức được ý nghĩa của việc tập đọc và nhiệm vụ chính
của dạy đọc.
- Trong giờ tập đọc giáo viên còn làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự
phát hiện ra cách đọc. Giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh
sửa phát âm sai do học sinh nói ngọng hoặc do tiếng địa phương.
- Trong giờ tập đọc nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý
đến học sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm
giảm tiến độ của tiết dạy.
* Đối với học sinh
Qua nhiều năm dạy học, tôi nhận thấy ở tiểu học các em thường coi nhẹ
môn tập đọc vì các em cho rằng môn tập đọc là môn dễ không phải suy nghĩ như
môn toán mà chỉ cần đọc trôi chảy, lưu loát là được. Các em cũng chưa để ý đến
việc đọc của mình như thế nào. Một số ít học sinh phát âm sai do thói quen đã
có từ trước hoặc do tiếng địa phương. Khi đọc các em còn hay mắc lỗi ngắt
giọng, các em còn ngắt giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện (còn gọi là ngắt giọng
sinh lý). Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng phần lớn các
em chỉ biết bắt chước cô một cách tự nhiên
* Dạy thực nghiệm
Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở khối lớp 1 của mình. Sau đây là 2
bài tập đọc mà tôi xin trình bày giáo án trong đề tài đó là bài “Mẹ và cô” và
bài “Sau cơn mưa” khi dạy hai bài này tôi đã áp dụng những biện pháp nêu
trên để rèn đọc cho học sinh đạt kết quả tốt.
Dưới đây là nội dung hai giáo án đó
Môn: Tập đọc
Tiết số: 1
Tuần: 4
- 19 -
3’
Mẹ và cô là những người chăm sóc dạy dỗ
chúng ta nên người. Bài tập đọc “Mẹ và
Cô” hôm nay sẽ cho chúng ta thấy được tình
cảm của em bé đối với mẹ và cô Ghi
bảng tên đầu bài
2. Hướng dẫn luyện đọc
a. Giáo viên đọc mẫu
- Giọng đọc dịu dàng tình cảm
Học sinh theo dõi bài đọc
ở bảng
b. Hướng dẫn học sinh đọc
5’
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm những từ Cá nhân học sinh tìm từ
(tiếng) có chứa l, s, ch có trong bài Giáo (tiếng) và đọc theo yêu
- 20 -
T.gian
dự kiến
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
Là mẹ / và cô giáo //
Cá nhân học sinh đọc nối
tiếp từng dòng cho đến hết
bài. Khi bạn đọc những
học sinh khác nhận xét
bạn đọc đúng hay chưa
* Luyện đọc đoạn:
Cá nhân (nhóm) học sinh
- Chia bàn làm 2 đoạn, mỗi khổ thơ là 1 đọc nối tiếp đoạn
đoạn
5’
- Tổ chức cho học sinh đọc theo nhóm hoặc
cá nhân, đọc nối tiếp
* Luyện đọc cả bài:
Cá nhân (nhóm) học sinh
Tổ chức cho học sinh đọc theo cá nhân đọc toàn bài
- 21 -
T.gian
dự kiến
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
(nhóm) cuối cùng cho cả lớp đọc đồng Cả lớp đồng thanh toàn
I – Mục tiêu :
Giúp học sinh:
+ Đọc trơn cả bài “Sau cơn mưa”
+ Luyện đọc các từ ngữ “mưa rào, đoá râm bụt, xanh bóng nhởn nhơ,
sáng tựa, quay quanh, giội rửa”
+ ôn vần ây, uây
II - Đồ dùng dạy học :
- Giáo viên : Tranh hoa râm bụt và tranh vẽ như SGK
- Học sinh : Sách giáo khoa
III – Hoạt động dạy học chủ yếu:
- 22 -
T.gian
dự kiến
5’
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
A. Bài cũ : Bài Luỹ tre
+ Đọc khổ thơ 1 của bài và trả lời câu hỏi: - Mỗi khổ thơ một học sinh
Khổ thơ này tả luỹ tre vào buổi nào? Em thích đọc và trả lời câu hỏi
hình ảnh nào của luỹ tre vào buổi sớm?
+ Đọc khổ thơ 2 của bài và trả lời câu hỏi:
Khổ thơ tả luỹ tre vào buổi nào? Em thích
những tiếng mà học sinh dễ lẫn khi đọc và
viết: rào, đoá, xanh, quây, quanh
Cá nhân học sinh đọc lần
lượt từng từ và cho đến hết
kết hợp phân tích tiếng theo
yêu cầu của giáo viên
- Lưu ý: Tập trung gọi những em đọc còn yếu
- Trong khi học sinh đọc giáo viên kết hợp
giải nghĩa từ:
+ Đoá râm bụt: Sử dụng tranh hoa râm bụt
cho học sinh quan sát
- 23 -
T.gian
dự kiến
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
+ Nhởn nhơ: Chỉ hoạt động chậm không tập
trung
* Luyện đọc câu:
- Học sinh theo dõi và trả
Giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi SGK và lời bài đọc có 5 câu
cho biết xem bài đọc này có mấy câu ?
ngắt giọng ở sau tiếng “rỡ” và tiếng “tục” để
nhấn giọng cho tiếng gà mẹ gọi đàn con.
- Sau khi đã tập trung luyện đọc các câu dài
xong, giáo viên lại cho học sinh đọc nối tiếp
từng câu cho đến hết bài
6’
3’
* Luyện đọc đoạn
Chia bài làm 2 đoạn:
- Đoạn 1: từ đầu ….. mặt trời
- Đoạn 2: còn lại
- Gọi học sinh đọc nối tiếp đoạn theo nhóm
- 2 nhóm mỗi nhóm 2 em
đọc nối tiếp
* Luyện đọc toàn bài
Gọi học sinh đọc
- Học sinh đọc theo, cá
nhân, nhóm. Cuối cùng cả
lớp đồng thanh đọc
Nghỉ giữa giờ
Hát múa tập thể