Quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tại chi cục thuế huyện huyện cẩm giàng – hải dương - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM VĂN ĐỨC
QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN HUYỆN CẨM GIÀNG
HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM VĂN ĐỨC
QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN HUYỆN CẨM GIÀNG
HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. LÊ HỮU ẢNH
HÀ NỘI, NĂM 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa được sử dụng và
công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Phạm Văn Đức
i
LỜI CẢM ƠN

Hình 4.4. Mô hình ứng dụng quản lý thuế sử dụng đất PNN 115
(sau khi bổ sung) 115
v
PHẦN I. MỞ ĐẦU
I.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với mỗi quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư
liệu sản xuất đặc biệt, là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, là
địa bàn phân bố và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng.
Ngoài đất nông nghiệp ra, đất phi nông nghiệp bao gồm đất ở và đất hoạt động
sản xuất kinh doanh, không những là đối tượng cho con người sinh tồn an cư lạc
nghiệp, ổn định cuộc sống và còn là nơi xây dựng, sản xuất những giá trị hàng
hóa tạo ra những sản phẩm trao đổi trên thị trường.
Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua
trên cơ sở Luật số 48/2010/QH12 ngày 17/06/2010 ; thay thế Pháp lệnh thuế
nhà, đất năm 1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
thuế nhà đất năm 1994 ; có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012.
Do được nâng lên thành Luật và trên cơ sở thay thế Pháp lệnh thuế nhà
đất, Luật thuế SDĐPNN có nhiều thay đổi và điểm mới so với chính sách
thuế nhà đất trước đây như về phạm vi điều chỉnh, về đối tượng chịu thuế, đối
tượng không chịu thuế ; về người nộp thuế ; về căn cứ tính thuế ; về đăng ký,
khai, tính và nộp thuế ; về miễn giảm thuế.
Mặt khác, phạm vi điều chỉnh của Luật thuế SDĐPNN rất rộng, được
mở đến tất cả các chủ thể là đối tượng sử dụng đất trong xã hội, từ các tổ
chức được giao đất, cho thuê đất đến các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào
mục đích sản xuất kinh doanh hoặc để ở; căn cứ tính thuế được thay đổi hoàn
toàn so với cách tính thuế nhà đất trước đây việc đăng ký, kê khai nộp thuế
được quy định chặt chẽ ; miễn giảm thuế được mở rộng đến nhiều đối tượng
chính sách trong khi đó đa phần người sử dụng đất đều bỡ ngỡ và chưa hiểu
nhiều về những nội dung của Luật thuế SDĐPNN mới ban hành ; bên cạnh

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: công tác quản lý thuế sử dụng
đất phi nông nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Cẩm Giàng – Hải Dương.
- Phạm vi nghiên cứu: các hoạt động quản lý thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp trong mối quan hệ với sự thay đổi chính sách thuế. Tuy nhiên,
bên cạnh việc đề cập một cách khái quát về quản lý thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp ở huyện Cẩm Giàng, luận văn đặt trọng tâm nghiên cứu vào:
+ Hệ thống bộ máy quản lý thuế ở Chi cục thuế huyện Cẩm Giàng
+ Cơ sở pháp lý cho quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện nay;
+ Một số nội dung cơ bản của quản lý thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp dựa trên các tiêu chí về hệ thống quản lý thuế tốt, đặc biệt
là mối quan hệ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế.
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến nay và tập trung vào giai
đoạn từ năm 2012 đến 2013, các giải pháp đên năm 2020 tại Chi cục Thuế
huyện Cẩm Giàng – Hải Dương.
3
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ
SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
2.1. Các vấn đề cơ bản về thuế và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
2.1.1. Khái niệm về thuế
2.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Để hiểu khái niệm về thuế một cách bao quát, chúng ta có thể xem xét
một số khái niệm trên các khía cạnh sau:
- Trên giác độ thu tài chính Nhà nước: thuế là hình thức thu chủ yếu
của ngân sách Nhà nước. Thuế là hình thức đóng góp nghĩa vụ theo luật
định của các tổ chức kinh tế và dân cư cho Nhà nước bằng một phần thu
nhập của mình.
- Trên giác độ pháp luật: thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các
pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước, phát sinh trên cơ
sở văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá

Bước vào thời kỳ đổi mới, hiện nay Đảng và Nhà nước chủ trương
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Hệ
thống thuế đã được cải cách một cách toàn diện và tiếp tục khẳng định vai
trò trong cơ chế mới:
Thứ nhất: Thuế là khoản thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, bảo
đảm tích luỹ và tiêu dùng thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội. Như chúng
ta đã biết Nhà nước cũng như toàn bộ hệ thống chính trị không thể mạnh,
đứng vững nếu Ngân sách quốc gia liên tục thâm hụt, nợ chồng chất.
Trong hệ thống công cụ của cơ chế mới, thuế là một công cụ quan trọng
nhất để phânphối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Hiện nay
tổng thu ngân sách hằng năm được nâng lên, trong đó thuế chiếm hơn
90%; mức động viên bình quân hằng năm đã đạt trên dưới 20% GDP. Trên
5
cơ sở đó, thuế đã góp phần bảo đảm Ngân sách quốc gia, góp phần tích
cực vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Đây là vấn đề có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế nhiều thành phần
nhưng không chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Như chúng ta biết, để định
hướng xã hội chủ nghĩa thì bên cạnh các mục tiêu về văn hoá - xã hội
như: tiến bộ, công bằng xã hội, dân chủ, bình đẳng; sức khoẻ, thể chất ,
về kinh tế phải bảo đảm thành phần kinh tế Nhà nước giữ được vai trò
chủ đạo, then chốt, cùng với kinh tế tập thể tạo thành nền tảng vững chắc
cho nền kinh tế quốc dân. Sự chủ đạo của kinh tế Nhà nước trước tiên
phải thể hiện chủ đạo về vốn, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực then
chốt. Thực tế đã chứng tỏ, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
ở nước ta, toàn bộ kết cấu hạ tầng như: đường sá, cầu cống, sân bay, bến
cảng; quốc phòng - an ninh ; các tài sản dự trữ, đất đai, hải đảo, vùng
trời, tài nguyên thiên nhiên đều thuộc sở hữu Nhà nước. Các ngành sản
xuất, dịch vụ quan trọng, then chốt bao gồm: vật liệu nổ, hoá chất độc,
chất phóng xạ; điện, viễn thông, xăng dầu; kim loại đen, kim loại màu, hoá
chất cơ bản, hoá dược, thuốc chữa bệnh; kinh doanh tiền tệ, vận tải

Khái niệm về một sắc thuế: là khái niệm được nêu trong các văn
bản chính sách thuế của Nhà nước để nhận biết cơ bản sắc thuế đó và có
thể phân biệt với chính sách thuế khác.
*Người nộp thuế (NNT), người chịu thuế; đối tượng chịu
thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế:
- Người nộp thuế: là một pháp nhân hay thể nhân có nghĩa vụ phải
nộp khoản thuế do Luật Thuế quy định.
- Người chịu thuế: là người phải trích một phần thu nhập của mình để
gánh chịu khoản thuế của Nhà nước. Nói cách khác, là người thực thụ phải
gánh vác khoản thuế (chịu gánh nặng thuế) nộp vào ngân sách Nhà nước.
7
- Đối tượng chịu thuế (hay còn gọi là đối tượng đánh thuế): là
những thu nhập, tài sản (của cải) mà một chính sách thuế nhất định tác
động vào, điều tiết nó.
- Đối tượng không thuộc diện chịu thuế: là đối tượng đáng lẽ thuộc
diện chịu thuế nhưng vì lý do nào đó (cần khuyến khích, thực thi một chính
sách xã hội) nên trong chính sách thuế quy định từng loại đối tượng không
chịu thuế.
* Căn cứ tính thuế, đối tượng tính thuế; biểu thuế, thuế suất:
- Căn cứ tính thuế: là những yếu tố mà người thu thuế đưa vào đó
để tính ra số thuế phải nộp.
- Đối tượng tính thuế: là căn cứ quan trọng nhất để tính thuế, phản
ánh nội dung kinh tế - xã hội, nguồn gốc của bộ phận của cải được tập
trung vào quỹ ngân sách nhà nước, thể hiện tính chất độc lập của một sắc
thuế trong hệ thống thuế.
- Biểu thuế: là bảng liệt kê các loại thuế suất của một sắc thuế.
- Thuế suất: là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị tính của đối tượng
đánh thuế. Có nhiều cách quy định thuế suất khác nhau cho từng đối
tượng đánh thuế khác nhau: thuế suất tỉ lệ: là thuế suất được quy định theo
tỉ lệ % trên đối tượng đánh thuế. thuế suất cố định (thuế suất theo số tuyệt

nộp thuế và phương thức thu, nộp.
- Thời hạn nộp thuế: là thời hạn quy định trong chính sách thuế và được
xác định phù hợp với nội dung, tính chất của từng sắc thuế. Nếu quá thời hạn
nộp thuế mà người nộp thuế chưa nộp thì coi là nộp chậm và bị phạt nộp
chậm. Xử lí vi phạm và khen thưởng:
- Xử lí vi phạm: là hình thức kỷ luật đối với người vi phạm chính sách
thuế.
9
- Khen thưởng: là hình thức Nhà nước khuyến khích người có thành
tích trong việc thực hiện các chính sách thuế.
2.1.2. Giới thiệu chung về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
2.1.2.1. Đất phi nông nghiệp, vị trí, vai trò của đất phi nông nghiệp
Theo Điều 13 của Luật đất đai năm 2003, nhóm đất phi nông nghịêp
bao gồm các loại đất:
+ Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp;
+ Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu
công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử
dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
+ Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi; đất
xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục
vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây
dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ;
Đất sử dụng vào mục đích công cộng là đất sử dụng vào mục đích xây
dựng công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, cảng đường thuỷ, bến
phà, bến xe ô tô, bãi đỗ xe, ga đường sắt, cảng hàng không; hệ thống cấp
nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, đê, đập; hệ thống
đường dây tải điện, hệ thống mạng truyền thông, hệ thống dẫn xăng, dầu, khí;
đất sử dụng làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, khu

sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là
địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội,
an ninh và quốc phòng. Đối với mỗi quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên,
nguồn lực, và là yếu tố hàng đầu rất quan trọng không thể thiếu.
11
Ngoài vai trò là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp, đất
giữ vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và toàn thế
giới. Nếu không có đất thì con người không có nơi sinh sống và sẽ không có
bất kỳ một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động nào và không thể có sự
tồn tại của loài người.
Trong đời sống con người, đất phi nông nghiệp có những vai trò sau:
- Là nơi cư trú của con người. Trên mặt đất, con người xây dựng nhà ở,
thành phố, làng mạc, khu dân cư và sinh sống trên đó.
- Là nơi con người xây dựng các công trình trên mặt đất, trong lòng đất
để phục vụ cho cuộc sống của con người, như xây dựng khu quân sự, doanh
trại quân đội, kho lương, đạn dược… sử dụng vào các mục đích quốc phòng,
an ninh; xây dựng trụ sở cơ quan, tổ chức sự nghiệp để phục vụ mục đích
quản lý hành chính; xây dựng các công trình giao thông, đường xá, trạm, bến
để phục vụ nhu cầu đi lại; xây dựng nhà máy, xưởng sản xuất, khu công
nghiệp để sử dụng vào sản xuất hàng hoá, cung cấp đồ dùng, vật dụng; xây
dựng trung tâm thương mại, chợ, siêu thị để phục vụ hoạt động trao đổi hàng
hoá, giao thương; xây dựng công viên, khu vui chơi, giải trí, khu luyện tập thể
dục, thể thao để đáp ứng nhu cầu thư giãn, vui chơi, rèn luyện sức khoẻ; đất
để xây dựng trường học, bệnh viện, nghĩa trang, …
Hiện nay, mọi hoạt động của con người đều dựa vào đất và đều tiến
hành trên mặt đất. Nếu không có đất, chúng ta không có chỗ để xây nhà,
không có chỗ để thực hiện các sinh hoạt thiết yếu của con người, không có
chỗ để sản xuất, kinh doanh… và con người sẽ không thể tồn tại.
- Là nguồn tài nguyên khoáng sản quý giá đối với cho con người, cung
cấp các loại quặng, than, kim loại và phi kim, đất để sản xuất vật liệu xây

- Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có tính chất động viên chủ thể có
quyền sử dụng hoặc trực tiếp sử dụng đất phi nông nghiệp có hiệu quả. Thông
13
qua việc thu thuế đã khuyến khích chủ thể có quyền sử dụng đất phải sử dụng
có hiệu quả bằng việc đầu tư sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế.
- Thuế được thu hàng năm với mức thuế suất thấp, tính bằng tỷ lệ phần
trăm (%) trên giá đất tính thuế của từng mảnh đất hoặc theo mức thu cố định
cho mỗi đơn vị diện tích sử dụng, có phân biệt theo vị trí, mục đích sử dụng
đất. Chủ thể sử dụng đất phi nông nghiệp ở những vị trí có khả năng sinh lợi
lớn, mang lại lợi nhuận cao cho người sử dụng thì phải đóng thuế cao hơn
những chủ sử dụng đất ở những vị trí kém sinh lợi.
2.1.2.3. Cơ sở áp dụng thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Căn cứ Luật số 48/2010/QH12 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa 12, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 ;
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 ; thay thế Pháp lệnh thuế
nhà, đất năm 1992 ; pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
thuế nhà, đất năm 1994.
* Đối tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp :
- Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị quy định tại Luật Đất đai năm
2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm:
+ Đất xây dựng khu công nghiệp bao gồm đất để xây dựng cụm công
nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất và các khu sản xuất, kinh doanh tập
trung khác có cùng chế độ sử dụng đất;
+ Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh bao gồm đất
để xây dựng cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; xây dựng cơ
sở kinh doanh thương mại, dịch vụ và các công trình khác phục vụ cho sản
xuất, kinh doanh (kể cả đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh
doanh trong khu công nghệ cao, khu kinh tế);
14

đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định bảo vệ;
+ Đất xây dựng công trình công cộng khác bao gồm đất sử dụng cho
mục đích công cộng trong khu đô thị, khu dân cư nông thôn; đất xây dựng kết
cấu hạ tầng sử dụng chung trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu
kinh tế theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đất xây dựng công
trình hệ thống đường dây tải điện, hệ thống mạng truyền thông, hệ thống dẫn
xăng, dầu, khí và đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn các công trình trên; đất
trạm điện; đất hồ, đập thuỷ điện; đất xây dựng nhà tang lễ, nhà hoả táng, lò
hoả táng; đất để chất thải, bãi rác, khu xử lý chất thải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cho phép.
- Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng bao gồm đất thuộc nhà chùa, nhà thờ,
thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ
chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa.
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng.
- Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ bao
gồm diện tích đất xây dựng công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà
thờ họ theo khuôn viên của thửa đất có các công trình này.
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp gồm:
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, trụ sở tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức sự nghiệp công lập; trụ sở các cơ quan đại diện
ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam và các tổ chức quốc tế
liên chính phủ được hưởng ưu đãi, miễn trừ tương đương cơ quan đại diện
ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam;
Trường hợp các tổ chức cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân,
đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status