Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRIỆU THỊ HẰNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
TẠI TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TẠ THỊ THANH HUYỀN
THÁI NGUYÊN - 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên
cứu khoa học độc lập của riêng cá nhân tôi. Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, kết
quả trong luận văn là trung thực và kết luận khoa học của luận văn chưa từng công
bố bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây.
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Tác giả
Triệu Thị Hằng
giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện bản luận văn này.
Sau cùng, xin được cảm ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ và kính
mong nhận được sự quan tâm, nhận xét của các Thầy, Cô để tác giả có điều kiện
hoàn thiện tốt hơn những nội dung của luận văn nhằm đạt được tính hiệu quả, hữu
ích khi áp dụng vào trong thực tiễn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
PHI NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 41
3.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 41
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên tỉnh Quảng Ninh 41
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 42
3.1.3. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của tỉnh Quảng Ninh 45
3.2. Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh 47
3.2.1. Hiện trạng quỹ đất phi nông nghiệp của Quảng Ninh 47
3.2.2. Tình hình sử dụng đất phi nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh trong
thời gian vừa qua 49
3.3. Thực trạng công tác quản lý thuế sử dụng đất Phi nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua 51
3.3.1. Khái quát về Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh 51
3.3.2. Hiện trạng công tác quản lý thuế sử dụng đất Phi nông nghiệp trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh 55
3.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý thuế sử dụng đất Phi nông nghiệp 64
3.4.1. Về chính sách thuế SDĐPNN 64
3.4.2. Về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực 65
3.4.3. Điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất 66
3.4.4. Ý thức chấp hành pháp luật của người dân 66
3.4.5. Công tác kiểm tra, giám sát 66
3.4.6. Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế 67
3.4.7. Áp dụng công nghệ thông tin và thu thập xây dựng cơ sở dữ liệu 67
3.4.8. Quản lý Nhà nước về đất đai 68
3.5. Đánh giá chung về công tác quản lý thuế sử dụng đất Phi nông nghiệp tại
Quảng Ninh 69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
3.5.1. Những kết quả đạt được 70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
MST
Mã số thuế
NNT
Người nộp thuế
NSNN
Ngân sách nhà nước
PNN
Phi nông nghiệp
QLT
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Trình tự công tác quản lý thuế SDĐPNN 24
Sơ đồ 3.1. Mô hình tổ chức bộ máy của Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh 52
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp lệnh thuế nhà, đất được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày
03/7/1992, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 1994, quy định về điều tiết
nguồn thu đối với đất phi nông nghiệp. Pháp lệnh này bước đầu đặt cơ sở cho việc
tăng cường quản lý, động viên đóng góp của người sử dụng đất vào ngân sách nhà
nước, tăng cường nguồn lực cho ngân sách địa phương. Tuy nhiên, qua hơn 15 năm
thực hiện, đến nay trước những bất cập phát sinh trong quản lý, điều tiết việc sử
dụng đất, nhiều quy định của Pháp lệnh đã không còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn,
cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật đất đai năm 2003; nguồn thu ngân sách
Nhà nước từ thuế chưa tương xứng với giá trị đất đai; đặc biệt chưa thể hiện vai trò
điều tiết, quản lý của Nhà nước trong vận hành nền kinh tế thị trường.
Một số quy định về quản lý thuế nhà đất trong Pháp lệnh đã được thể hiện
trong Luật quản lý thuế. Vì vậy, việc sửa đổi, nâng cao giá trị pháp lý của Pháp lệnh
là cần thiết, nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng đất theo hướng
tiết kiệm, hiệu quả, công bằng; đồng thời việc ban hành luật nhằm thể chế hóa chủ
trương đổi mới chính sách về đất đai mà Đảng đã đề ra trong Nghị quyết số 21-
NQ/TW ngày 30/01/2008, theo đó tăng cường hơn nữa vai trò của thuế trực thu,
NSNN, đảm bảo công bằng xã hội và tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất
đai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế, chính sách thuế, công
tác quản lý thuế SDĐPNN và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế
SDĐPNN.
- Phân tích, đánh giá được thực trạng công tác quản lý, công tác chấp hành kê
khai, nộp thuế SDĐPNN của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế SDĐPNN
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc triển khai thực hiện công tác quản lý thu
thuế SDĐPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh do Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh quản lý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu việc thực hiện công tác quản lý thu thuế
SDĐPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Về mặt thời gian: Đề tài sử dụng tài liệu, số liệu từ năm 2011 đến năm 2013,
kiến nghị giải pháp đến năm 2015.
- Nội dung nghiên cứu: Tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu, đáng giá thực
trạng công tác quản lý thuế SDĐPNN tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh trong thời gian
vừa qua. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý
thuế SDĐPNN tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Đề tài đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế, công tác
quản lý thuế SDĐPNN; phân tích kinh nghiệm triển khai công tác quản lý thuế
1.1.1.1. Sự ra đời và phát triển của thuế
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời là một
tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại của nhà nước. Mỗi Nhà nước ở mỗi
giai đoạn lịch sử có bản chất, chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau. Nhưng để
duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước
hết chi tiêu để duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương thuộc
phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó cai quản, chi cho các công việc thuộc chức năng
của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ
tầng, chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và
lâu dài, ngoài ra nó còn là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử dụng ba
hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực nhà
nước bắt buộc dân phải đóng góp. Trong đó hình thức góp tiền, tài sản của dân và
hình thức vay của dân là hình thức không mang tính ổn định, lâu dài, thường được
Nhà nước sử dụng có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt. Để đáp ứng chi tiêu
thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị để quy định các khoản đóng góp
bắt buộc cho Nhà nước đối với các thể nhân trong xã hội nhằm đảm bảo điều kiện vật
chất duy trì sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Đây chính
là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước.
1.1.1.2. Khái niệm về thuế
Thuế có thể được thu bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng ngày công lao động.
Với sự mở rộng không ngừng chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và sự phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
mạnh mẽ kinh tế hàng hóa - tiền tệ; hệ thống thuế của các quốc gia đã không ngừng
phát triển và thuế thu bằng tiền trở thành hình thức thu phổ biến.
Như vậy có thể khẳng định Nhà nước và thuế là hai phạm trù gắn bó hữu cơ
với nhau. Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế để đảm bảo điều kiện vật chất cho
tổng quát về thuế như sau:
“Thuế là hình thức đóng góp theo nghĩa vụ do luật qui định cho các tổ chức và
cá nhân trong xã hội nộp cho nhà nước bằng một phần thu nhập của mình nhằm tập
trung một bộ phận quyền lực, của cải xã hội vào ngân sách nhà nước để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của nhà nước thích ứng với từng giai đoạn phát triển của đời sống
kinh tế xã hội”[17].
Ngoài các khoản thu về thuế, ngân sách Nhà nước còn những khoản thu về phí
và lệ phí. Đây là những khoản thu mà một tổ chức hay cá nhân phải trả khi được cơ
quan nhà nước hoặc được tổ chức, cá nhân được Nhà nước ủy quyền cung cấp hàng
hóa dịch vụ công.
“Phí là khoản thu nhằm thu hồi chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng
không thuần túy theo qui định của pháp luật và là khoản tiền mà các tổ chức, cá
nhân phải trả khi sử dụng các dịch vụ công cộng đó”[17].
“Lệ phí là khoản thu gắn liền với việc cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành
chính pháp lý của Nhà nước cho các thể nhân, pháp nhân nhằm phục vụ cho công
việc quản lý hành chính Nhà nước theo qui định của pháp luật”[17].
1.1.1.3 . Vai trò của Thuế
Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một
phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước:
+ Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với
các pháp nhân và thể nhân trong xã hội. Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng,
chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước.
+ Cũng như pháp luật nói chung, pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnh quan hệ pháp
luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước. Hầu hết ở các quốc gia,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
9
- Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống
xã hội. Hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng thông qua sự phân bổ và sử dụng các nguồn
lực. Nó cũng là đòn bẩy kinh tế quan trọng, kích thích hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luật thuế còn
có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Điều đó xuất phát
từ chức năng điều chỉnh của thuế. Vì lợi ích xã hội, Nhà nước có thể tăng thuế hoặc
giảm thuế đối với thu nhập của các tầng lớp dân cư và với doanh nghiệp để kích thích
hoặc hạn chế sự phát triển các lĩnh vực các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế:
+ Trong những năm khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, Nhà nước có thể hạ
thấp mức thuế để tạo ra những điều kiện thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu
dùng để tăng đầu tư và mở rộng sản xuất. Điều đó có thể đưa nền kinh tế thoát khỏi
khủng hoảng nhanh chóng.
+ Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển quá “nóng”, có nguy cơ dẫn đến mất cân
đối, bằng cách tăng thuế thu hẹp đầu tư, Nhà nước có thể giữ vững nhịp độ tăng
trưởng theo mục tiêu đã đặt ra.
- Việc điều chỉnh chính sách thuế cũng góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp
lý theo yêu cầu phát triển nền kinh tế trong từng giai đoạn. Trong khi áp dụng các
chính sách thuế cho từng loại hàng hóa dịch vụ, từng ngành sản xuất kinh doanh khác
nhau, Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển các ngành quan trọng nhất, giữ vững vị
trí then chốt trong nền kinh tế hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa các ngành nghề.
- Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp
đến cung - cầu của nền kinh tế. Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh cung - cầu
của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định và tăng trưởng
kinh tế. Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động tích cực đến cung
- cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
- Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế
thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động đến các
quan hệ tiêu dùng của xã hội. Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một số hàng
mạnh mẽ đến cung cầu các loại nguyên, nhiên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ khác nhau,
để điều chỉnh quá trình phân phối các yếu tố đầu vào của các lực lượng thị trường và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
điều chỉnh quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Thuế đã trực tiếp tham gia vào
phân phối thu nhập xã hội từ kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
+ Vấn đề then chốt là quá trình thực hiện phân phối thu nhập xã hội của thuế
phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối.
Nhà nước áp dụng chính sách thuế phải thống nhất giữa các thành phần kinh tế và
các tầng lớp dân cư, không phân biệt giữa các đơn vị, cá nhân. Khi các tổ chức, cá
nhân có điều kiện kinh doanh và thu nhập giống nhau đều phải nộp thuế như nhau
(bình đẳng theo chiều ngang). Người có thu nhập quá thấp không đủ bảo đảm đời
sống thì không phải nộp thuế (bình đẳng theo chiều dọc). Sự bình đẳng của chính
sách thuế sẽ tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội làm ăn có hiệu quả, có
năng suất cao phải được thu nhập cao hơn. Từ đó, kích thích mọi tổ chức, cá nhân
tập trung sức đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh để có thu nhập cao
một cách chính đáng.
+ Đồng thời với vai trò phân phối, thuế còn thực hiện vai trò phân phối lại
thu nhập xã hội. Vai trò phân phối lại của thuế được thực hiện thông qua việc Nhà
nước sử dụng tiền thuế đã nộp vào Ngân sách Nhà nước để chi tiêu cho các hoạt
động chức năng của Nhà nước nhằm phục vụ lợ ích của nhân dân. Nhà nước sử
dụng tiền thuế để sản xuất ra hàng hóa - dịch vụ công phục vụ tiêu dùng cho toàn
xã hội. Ngoài ra Nhà nước còn sử dụng một phần tiền thuế để trợ cấp, thực hiện
điều hòa thu nhập xã hội.
+ Khi thị trường thực hiện việc phân phối thu nhập thì tổng thu nhập của mỗi
cá nhân, mỗi hộ gia đình hoàn toàn không giống nhau, do các yếu tố tham gia vào
quá trình sản xuất khác nhau. Một nhóm người có thu nhập rất cao, phần lớn số
người có thu nhập trung bình và thấp, còn một số người khác thì hầu như không có
tục cải cách pháp luật về thuế theo hướng ổn định, đơn giản hơn, mức thuế
phù hợp, có tính đến các chế định kinh tế quốc tế và khu vực cũng như các
điều ước quốc tế khác có liên quan”.
Luật thuế SDĐPNN ra đời xuất phát từ những nguyên nhân, yêu cầu quản lý:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
Thứ nhất, Pháp lệnh thuế nhà, đất được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông
qua ngày 03/7/1992, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 1994, quy định về điều
tiết nguồn thu đối với đất ở; Pháp lệnh này bước đầu đặt cơ sở cho việc tăng cường
quản lý, động viên đóng góp của người SDĐPNN vào ngân sách nhà nước, tăng
cường nguồn lực cho ngân sách địa phương.
Tuy nhiên, qua hơn 15 năm thực hiện, đến nay, trước những bất cập phát sinh
trong quản lý, điều tiết việc sử dụng đất, nhiều quy định của Pháp lệnh đã không
còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn, cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật đất đai
năm 2003; nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế chưa tương xứng với giá trị đất
đai; đặc biệt, chưa thể hiện vai trò điều tiết, quản lý của Nhà nước trong vận hành
nền kinh tế thị trường.
Thứ hai, một số quy định về quản lý thuế đất trong Pháp lệnh thuế nhà, đất đã
được thể hiện trong Luật quản lý thuế. Vì vậy, việc sửa đổi, nâng cao giá trị pháp lý
của Pháp lệnh là cần thiết, nhằm hoàn thiện một bước khuôn khổ pháp lý về quản
lý, sử dụng đất theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, công bằng; đồng thời, việc ban hành
luật nhằm thể chế hóa chủ trương đổi mới chính sách về đất đai mà Đảng đã đề ra
trong Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30/01/2008, theo đó, tăng cường hơn nữa vai
trò của thuế trực thu, trong đó có thuế sử dụng đất.
Thứ ba, việc nâng lên thành Luật là để phù hợp thẩm quyền của Quốc hội quy
định tại Điều 84 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày
25/12/2001 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm
1992 (việc sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế thuộc thẩm quyền của Quốc hội).
khu công nghiệp, khu chế xuất và các khu sản xuất, kinh doanh tập trung khác có
cùng chế độ sử dụng đất;
+ Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh bao gồm đất để xây
dựng cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; xây dựng cơ sở kinh doanh
thương mại, dịch vụ và các công trình khác phục vụ cho sản xuất, kinh doanh (kể cả
đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh trong khu công nghệ cao,
khu kinh tế);
- Đất để khai thác khoáng sản, đất làm mặt bằng chế biến khoáng sản, trừ
trường hợp khai thác khoáng sản mà không ảnh hưởng đến lớp đất mặt hoặc mặt đất;
- Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm bao gồm đất để khai thác nguyên
liệu và đất làm mặt bằng chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
- Đất phi nông nghiệp thuộc đối tượng không chịu thuế nhưng được các tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích kinh doanh.
* Đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Đất phi nông nghiệp không sử dụng vào mục đích kinh doanh thuộc đối tượng
không chịu thuế bao gồm:
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng bao gồm: Đất giao thông, thuỷ lợi; đất
xây dựng công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi
ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng
công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ;
- Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng;
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
- Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào
mục đích quốc phòng, an ninh;