Quản lý chi phí kinh doanh và một số giải pháp hạ thấp chi phí kinh doanh tại Công ty Thương mại và Đầu tư xây dựng Hà Nội - Pdf 24

Lời nói đầu
Từ khi nền kinh tế Việt Nam được chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập
trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì chúng ta đã có
những chuyển biến tích cực rõ rệt, đặc biệt là trong những năm gần đây tốc độ
phát triển tương đối ổn định và khá cao ( khoảng 7,5%/ năm ). Để có được điều
này là nhờ vào sự kết hợp chặt chẽ và những nỗ lực của Đảng, nhà nước, các
doanh nghiệp… trong đó sự đóng góp từ phía các doanh nghiệp Việt Nam là rất
lớn.Song trong xu thế hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới phát triển
không ngừng thì sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam vẫn rất khó có thể theo
kịp, và cũng rất có thể sẽ bị tụt hậu.
Có rất nhiều các câu hỏi được đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam là
làm cách nào để có thể tồn tại và phát triển được khi Việt Nam thực hiện tiến
trình hội nhập với khu vực và thế giới ( AFTA, WTO,…), vì một thực tế rằng:
Mức độ cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt, gay gắt, trong khi đó một số doanh
nghiệp Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho việc hội nhập và phần lớn các doanh
nghiệp có sức cạnh tranh kém. Nguyên nhân chủ yếu của các vấn đề trên được
tập trng chủ yếu là chất lượng kém, chi phí cao và quản lý tồi…Vì vậy, để các
doanh nghiệp Việt Nam có thể chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này đòi hỏi
mỗi doanh nghiệp phải đưa ra các chiến lược cho riêng mình, phát huy tốt nhất
các lợi thế của đất nước và của bản thân đồng thời khắc phục các yếu kém.
Hơn nữa, bên cạnh sự cạnh tranh này là sự khan hiếm về các nguồn lực
buộc các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng cùng với việc tìm
ra các biện pháp giảm chi phí để từ đó đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt quan trọng đó nên trong thời gian thực tập
tại Công ty Thương mại và Đầu tư xây dựng Hà Nội em đã đi sâu nghiên cứu đề
tài:
“Quản lý chi phí kinh doanh và một số giải pháp hạ thấp chi phí kinh
doanh tại Công ty Thương mại và Đầu tư xây dựng Hà Nội”
1
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề bao gồm ba

Đối với các đơn vị kinh doanh trong nước, chu kỳ kinh doanh thường
ngắn, quá trình lưu thông hang hoá thường đơn giản nên chi phí kinh doanh
thường bao gồm các khoản chi phí để đảm bảo lưu thông hang hoá trong kỳ như:
chi phí phát sinh ở khâu mua, khâu bán và chi phí quản lý doanh nghiệp. Các chi
phí này bỏ ra nhằm mục tiêu lợi nhuận hoặc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã
hôi khác của doanh nghiệp. Đối với các đơn vị ngoại thương, chu kỳ kinh doanh
3
dài, việc xuất khẩu trải qua nhiều giai đoạn như : kiểm nhận, kiểm tra tiêu chuẩn
chất lượng… Trong trường hợp này chi phí kinh doanh bao gồm cả chi phí bảo
hiểm cho hang hoá.
Theo thông tư số 02/2008/TT- BXD hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu
tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng thì chi phí xây dựng bao gồm: chi phí trực
tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng và chi phí
nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công.
Chi phí xây dựng trong dự toán xây dựng công trình được lập cho các
công trình chính, công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công hoặc bộ
phận, phần việc, công tác của công trình, hạng mục công trình và được xác định
bằng dự toán. Riêng đối với các công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi
công hoặc các công trình đơn giản, thông dụng thì dự toán chi phí còn có thể
được xác định bằng suất chi phí xây dựng trong suất vốn đầu tư xây dựng công
trình hoặc bằng định mức chi phí tính theo tỷ lệ phần trăm ( % ).
Chi phí kinh doanh có tầm quan trọng đối với mỗt doanh nghiệp, vì thế
doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí kinh doanh bởi nếu
chi phí kinh doanh bỏ ra không hợp lý sẽ làm giảm trực tiếp đến lợi nhuận của
doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp luôn muốn giảm chi phí xuống mức
thấp nhất có thể.
2.Các loại chi phí kinh doanh.
Chi phí kinh doanh đa dạng và phức tạp. Đối với mỗi lĩnh vực khác nhau,
chi phí kinh doanh dược phân loại theo các cách khác nhau. Song có một số
cách phân loại cơ bản như sau:

2.2 Theo sự biến động của chi phí so với doanh thu.
Căn cứ vào mối liên hệ giữa chi phí kinh doanh với mớc độ hoạt động của
doanh nghiệp, có thể chia chi phí thành hai loại là chi phí cố định và chi phí biến
đổi. Ở đây, mức độ hoạt động của doanh nghiệp được đo bằng doanh thu tiêu
thụ hang hoá trong kỳ.
2.2.1. Chi phí cố định.
5
Chi phí cố định là những chi phí không thay đổi hoặc thay đổi không đáng
kể khi có sự biến động của doanh thu. Chi phí cố định gồm các chi phí như: chi
phí khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương trả cho cán bộ nhân viên bộ phận
quản lý, chi phí thue tài sản, văn phòng, lãi tiền vay phải trả, chi phí về bảo
dưỡng thiết bị…
2.2.2. Chi phí biến đổi.
Chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi theo sự thay đổi của quy mô
hoạt động của doanh nghiệp. Hay nói cách khác tổng chi phí biến đổi thay đổi
tuỳ thuộc vào doanh nghiệp. Chi phí biến đổi gồm các khoản như : Chi phí về
vật liệu, bao bì, đóng gói, chi phí lương khoán doanh thu của nhân viên bán
hang, chi phí nhiên liệu…
Trên thực tế, trong doanh nghiệp không phải lúc nào chi phí cũng có thể
phân chia được thành hai loại rõ rệt như trên. Vì có những khoản vừa mang tính
chất biến phí như: chi phí điện thoại, điện, nước … Vì vậy việc phân chia này
chỉ mang tính chất tương đối. Mặc dù vậy cách phân loại này giúp cho doanh
nghiệp thấy được xu hướng biến đổi của từng loại chi phí theo quy mô kinh
doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác định được sản lượng hoà vốn cũng như
quy mô kinh doanh hợp lý để mang lại hiệu quả cao nhất
II.Các chỉ tiêu phản ánh tình hình chi phí.
`Để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh thì bất cứ một doanh nghiệp
nào cũng phải bỏ ra những chi phí nhất định. Sự tồn tại của doanh nghiệp đồng
nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ tiếp tục phải bỏ chi phí để duy trì và phát triển
hoạt động của mình. Vì vậy doanh nghiệp luôn luôn phải nghiên cứu các biện

doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tổng mức phí tăng lên không hẳn là không
tốt. Nếu chi phí tăng lên và kéo theo sự tăng lên của doanh thu và tốc độ tăng
của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí thì sự tăng lên này là có hiệu quả.
Vì vậy, để đánh giá được đúng tình hình quản lý và sử dụng chi phí thì phải
thông qua hệ thông các chỉ tiêu sau:
1.Chỉ tiêu tổng mức phí kinh doanh.
7
Tổng mức phí kinh doanh là một chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh toàn bộ chi
phí kinh doanh phát sinh và phân bổ cho hang hoá dịch vụ được xác định là đã
tiêu thụ trong kỳ của doanh nghiệp.
Tổng chi phí kinh doanh phân bổ cho hang hoá, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ
được xác định bằng công thức:
F = F
đk
+ F
ps
– F
ck
Trong đó:
– F : Tổng chi phí kinh doanh phân bổ cho hang hoá, dịch vụ tiêu thụ trong
kỳ.
– F
đk
: Số dư chi phí kinh doanh đầu kỳ.
– F
ps
: Tổng chi phí kinh doanh phát sinh trong kỳ, được tính bằng công thức
sau:
- Fck: Là tổng chi phí kinh doanh phân bổ cho hang hoá dự trữ cuối kỳ.
Chỉ tiêu tổng mức phí mới chỉ phản ánh quy mô tiêu dung vật chất, tiền

Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh tình hình và kết quả hạ thấp chi phí
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ theo công thức sau:
∆F’ = F’
1
– F’
0
Trong đ ó:
∆F’: Mức độ tăng ( giảm ) tỷ suất chi phí kinh doanh.
F’
1
: Tỷ suất kinh doanh kỳ so sánh.
F’
0
: Tỷ suất kinh doanh kỳ gốc.
Đối với doanh nghiệp khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà ta
chọn kỳ so sánh và kỳ gốc cho phù hợp. Qua đó nhận thấy sự tiến bộ hay sự yếu
kếm trong công tác quản lý chi phí. Nếu tỷ suất chi phí của kỳ nghiên cứu nhỏ
hơn kỳ gốc chứng tỏ doanh nghiệp có cố gắng trong việc hạ thấp chi phí nên
việc tổ chức thực hiện chi phí kinh doanh là tốt. Ngược lại, nếu ΔF’ lớn hơn 0
chứng tỏ việc tổ chức chi phí kinh doanh của doanh nghiệp là kém đi. Tuy
nhiên, nếu ΔF’ = 0 ta không thể kết luận được việc quản lý và sử dụng chi phí
của doanh nghiệp là tốt lên hay kém đi. Vì vậy, để kết luận được chính xác ta
cần đi xem xét các chỉ tiêu tiếp theo.
4.Tốc độ tăng ( giảm ) tỷ suất kinh doanh.
9
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng giảm chi phí kinh doanh nhanh hay chậm
giữa hai doanh nghiệp cùng loại trong cùng một thời kỳ hoặc hai thời kỳ của
một doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được xác định là tỷ lệ % của mức độ tăng giảm
tỷ suất chi phí với tỷ suất chi phí kỳ kế hoạch.
Công thức tính như sau:

M
1
: doanh thu kỳ báo cáo.
Nhờ việc xem xét chỉ tiêu này, các nhà quản trị tài chính sẽ nắm được cụ
thể việc giảm tỷ suất chi phí kinh doanh sẽ làm tăng thêm bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Bằng việc đem so sánh chi phí của hai kỳ với nhau trong mối quan hệ với
10
doanh thu đã mang lại hiệu quả thật sự trong công tác quản lý chi phí kinh
doanh.
6.Hệ số sinh lợi của chi phí.
Hệ số sinh lợi của chi phí kinh doanh là chỉ tiêu tương đối phản ánh mối
quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận và tổng chi phí kinh doanh trong một thời kỳ nhất
định của doanh nghiệp. Công thức tính như sau:
P
H =
F
Trong đó:
H: Hệ số sinh lợi của chi phí kinh doanh.
P: Tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ kinh doanh.
F: Tổng chi phí kinh doanh trong kỳ.
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, nó phản ánh cứ một đồng chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra
sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu hệ số sinh lời của doanh nghiệp cao ( H
lớn ) chứng tỏ khả năng kinh doanh của doanh nghiệp là tốt, chi phí kinh doanh
mà doanh nghiệp bỏ ra được sử dụng có hiệu quả và ngược lại nếu hệ số sinh lời
của doanh nghiệp thấp ( H nhỏ ) chứng tỏ khả năng kinh doanh của doanh
nghiệp là kém.
Nhìn chung các chỉ tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Để phân
tích, đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí kinh doanh một cách toàn diện thì cần
phải đi sâu phân tích các chỉ tiêu này với nhau để rút ra được những kết luận

của doanh nghiệp tăng tương ứng. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể tác động
vào giá cả trên thị trường và doanh nghiệp phải tìm cách thích nghi với nó, hạn
chế sự ảnh hưởng tiêu cực của nó bằng nhiều cách như: tìm kiếm nguồn hang có
giá rẻ hơn, giảm thiểu chi phí lưu kho bãi, giảm thiểu chi phí vận chuyển, bốc
dỡ…
1.2.Ảnh hưởng của mức lưu chuyển hang hoá tới chi phí kinh doanh.
12
Trong doanh nghiệp mức lưu chuyển hang hoá có ảnh hưởng rất lớn tới chi
phí kinh doanh theo chiều tỷ lệ nghịch. Tức là nếu mức lưu chuyển tăng thì chi
phí của doanh nghiệp có xu thế giảm và ngược lại nếu mức lưu chuyển hàng hoá
của doanh nghiệp có xu thế giảm thì chi phí tăng. Bởi mức lưu chuyển hang hoá
tăng thì mức doanh thu sẽ tăng do lượng hang hoá bán ra nhiều hơn, làm cho
tổng chi phí biến đổi tăng nhưng chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm. Do tốc
độ tăng của chi phí biến đổi nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu khiến cho tỷ suất
chi phí kinh doanh giảm đi và doanh nghiệp có thể hạ thấp chi phí kinh doanh.
Ngoài ra, khi mức lưu chuyển hàng hoá tăng trong khi tổng chi phí cố định
không đổi cũng góp phần vào việc giảm chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm.
Ngược lại, mức lưu chuyển giảm cũng đồng nghĩa với việc giảm doanh thu và
làm cho chi phí tính trên mỗi đơn vị sản phẩm tăng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp
còn bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh khiến cho chi phí cơ hội tăng, chi phí trả cho
việc sử dụng vốn cũng tăng do tốc độ thu hồi vốn chậm, vốn bị ứ đọng và sử
dụng lãng phí.
1.3.Ảnh hưởng của nhân tố khách quan khác tới chi phí kinh doanh.
Ngoài các nhân tố ảnh hưởng trên còn có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng
khách quan khác ảnh hưởng mạnh mẽ tới chi phí của doanh nghiệp như:
Các chính sách, chủ trương, đường lối của nhà nước, phong tục, tập quán,
lối sống, thói quen của các tập thể khách hang, các hành vi ứng sử của nhà cung
cấp. Cụ thể như sau:
Trước tiên là sự ảnh hưởng của nhà nước ở môi trường đặc trưng, tác động
đến các doanh nghiệp bằng các đường lối chính trị và luật pháp. Có thể nói nhà

nhà cung ứng gây bất lợi cho doanh nghiệp sẽ khiến cho doanh nghiệp xẩy ra
những tổn thất không đáng có, làm cho chi phí kinh doanh có thể tăng mạnh
như: chi phí để vuột mất cơ hội kinh doanh, chi phí cho việc tìm kiếm nguồn
hang mới…
Ngoài ra, còn một số nhân tố khác như: sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, yếu tố môi trường tự nhiên, cơ sở hạ tầng đường xá, giao thong… cũng là
những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ bằng con đường gián tiếp hay trực tiếp đến
chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
14
Nói tóm lại, môi trường kinh doanh bên ngoài là yếu tố khách quan mà
doanh nghiệp không thể cải tạo chỉ có thể thích nghi. Tuy nhiên những thuận lợi
và khó khăn mà doanh nghiệp nhận được từ bên ngoài thì đối thủ cạnh tranh của
doanh nghiệp cũng nhận được. Vì vậy doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để
những thời cơ, giảm thiểu các mặt tiêu cực nhằm góp phần hạ thấp chi phí kinh
doanh, tạo lơi. thế cạnh tranh trên thị trường. Và đó là một trong những mục tiêu
quan trọng của doanh nghiệp.
15
2.Các nhân tố chủ quan.
Trái với các nhân tố khách, nhân tố chủ quan phụ thuộc hoàn toàn vào khả
năng hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể hạn chế đến mức tối
thiểu tác động của yếu tố chủ quan, thậm chí có thể chủ động thay đổi các nhân
tố chủ quan để có thể để có lợi nhất với doanh nghiệp. Ngoài ra, hiệu quả của
việc tác động và điều chỉnh các nhân tố chủ quan thường nhanh chónh và chính
xác. Các nhân tố chủ quan bao gồm: kết cấu mặt hang, cơ sở kỹ thuật và mạng
lưới lưu thông phân phối, công tác khai thác nguồn hang, yếu tố con người…
2.1.Ảnh hưởng của các yếu tố con người và cơ sở vật chất kỹ thuật.
Đây là hai yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và cũng là những nhân tố có tác động rất lớn đến chi phí kinh
doanh. Nói đến yếu tố con người là nói đến trình độ, khả năng, tư cách đạo đức
của cán bộ công nhân viên của công ty và cả các nhà quản lý nữa. Vì vậy, ý thức

kinh doanh… Đây cũng là các nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới chi phí kinh
doanh của doanh nghiệp và nếu như doanh nghiệp biết kết hợp hài hoà các nhân
tố, phát huy mặt tích cực và giảm mặt tiêu cực của chúng thì doanh nghiệp chắc
chắn sẽ đạt mục tiêu “ tối thiểu hoá chi phí kinh doanh ”. Cụ thể như sau:
- Trong việc tìm kiếm nguồn hang cung ứng doanh nghiẹp luôn
đóng vai trò chủ động. Do vậy, doanh nghiệp cần tìm hiểu rõ về khả năng
cung ứng cũng như uy tín của nhà cung cấp, bởi thái độ ứng sử của họ sẽ
ảnh hưởng lớn tới quá trình hoạt động của doanh nghiẹp trong tương lai.
Trên thực tế, việc tìm kiếm nguồn hang từ nơi sản xuất và việc đa dạng
hoá bán hang sẽ giúp cho doanh nghiệp hạn chế được các khoản chi phí
rủi ro như: sản xuất bị ngừng trệ do yếu tố đầu vào, mất cơ hội kinh
doanh, mất uy tín… Ngoài ra, việc tìm kiếm nguồn hang từ nơi sản xuất
khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí cho các khâu trung gian.
- Đối với việc tổ chức bộ máy quản lý trong doanh nghiẹp phù
hợp với chuyên môn, năng lực của từng cá nhân sẽ nâng cao được hiệu
quả làm việc, giảm chi phí kinh doanh một cách trực tiếp.
Nói tóm lại, môi trường bên trong là môi trường do doanh nghiệp tạo ra và
hoàn toàn có thể kiểm soát, cải tạo được. Nó cũng là yếu tố tạo ra sự khác biệt
17
giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp khác. Chính vì vậy, nó là thế mạnh của
doanh nghiệp mà đối thủ cạnh tranh chưa chắc đã có. Do đó, doanh nghiệp cần
tổ chức một cách khoa học để phát huy được ưu điểm của mình, biến nó thành
những lợi thế cạnh tranh chống lại các đối thủ cạnh tranh khác.
18
Chương II : Giới thiệu tổng quan về doanh nghiệp
I.Quá trình hoạt động và đặc điểm kinh doanh của công ty thương mại
và đầu tư xây dựng Hà nội.
1.Quá trình hoạt đọng và đặc điểm kinh doanh của công ty.
1.1.Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty thương mại và đầu tư xây dựng Hà nội được hình thành từ năm

Điện thoại: 04.5764270 – 04.5764291 Fax: 04.5764270
Tài khoản: 211.10.000.125885 tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hà Nội –
Phòng giao dịch số 2.
* Chức năng:
Trong quá trình hoạt động công ty thương mại và đầu tư xây dựng Hà Nội
có các chức năng chính như sau:
+ Lập, quản lý và tổ chức triển khai thực hiện các dự án đầu tư và xây
dựng các công trình phát triển nhà, khu đô thị, khu dân cư, công nghiệp, dân
dụng, giao thông và văn hóa xã hội.
+ Xây dựng và lắp đặt các công trình dân dụng, công nghiệp, giao
thông đô thị ( cấp nước, thoát nước, chiếu sáng ), hạ tầng kỹ thuật đô thị, thể dục
thể thao, vui chơi giải trí.
+ Xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và nông thôn.
+ Thi công, lắp hệ thống cấp nước, thoát nước, đường dây và chạm biến
áp 35 KVA.
+ Kinh doanh xuất - nhập khẩu hàng hóa vật tư, máy móc thiết bị,
nguyên vật liệu phục vụ chuyên ngành xây dựng, sản xuất, kinh doanh các loại
vật liệu xây dựng ( nung và không nung ).
+ Kinh doanh nhà, khách sạn, dịch vụ du lịch và vui chơi giải trí, kinh
doanh vận tải đường bộ.
+ Xây lắp các trạm bồn chứa, đường ống và thiết bị gas, xăng dầu. Đại
lý xăng dầu theo quy định của pháp luật.
20
+ Kinh doanh thương mại và dịch vụ tổng hợp, tổ chức hội chợ triển
lãm. Đại lý bán hàng, giới thiệu sản phẩm thuốc lá nội, bia, rượu, đường sữa và
bánh kẹo.
* Nhiệm vụ:
Bên cạnh những chức năng trên, công ty luôn đặt ra những nhiệm vụ làm
mục tiêu phấn đấu như thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương chính sách của Nhà
nước, của cấp trên và các pháp lệnh thống kê kế toán Nhà nước, hoàn chỉnh

- Hình thức bán lẻ : Bán hàng thu tiền trực tiếp.
2.Tình hình lao động và tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp.
2.1.Tình hình lao động.
Hiện nay, Công ty đã đi vào ổn định cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh có
hiệu quả.
Số lượng cán bộ công nhân viên trong công ty gồm 40 người lao động dài
hạn, 55 người lao động ngắn hạn. Tuổi đời bình quân của người lao động là 35.
Hầu hết các cán bộ công nhân viên đều có trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp
vụ ngất định, có tinh thần trách nhiệm và tận tình trong công việc. Đây là một bộ
phận quan trọng quyết định các hoạt động của công ty và mang lại cho công ty
hiệu quả kinh tế cao.Không những thế, lao động trong công ty còn là các yếu tố
sáng tạo ra giá trị mới. Do đó, quy mô lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận
của công ty phụ thuộc rất lớn vào việc quản trị lao động.
Để tận dụng và phát huy được khả năng của người lao động, Công ty luôn
quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công
nhân viên, mở rộng mạng lưới kinh doanh, giải quyết thêm việc làm cho người
lao động và cho người lao động hưởng các chế độ ưu đãi nhất định.
2.2.Tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh.
Đứng đầu công ty là Ban giam đốc, bao gồm Giám đốc công ty và một phó
giám đốc phụ trách về mảng thương mại và một phó giám đốc phụ trách mảng
xây lắp.
22
Các phòng nghiệp vụ bao gồm: Phòng tài chính kế toán, phòng tổ chức
hành chính, phòng kinh doanh, phòng kế hoạch đầu tư.
Bộ phận sản xuất kinh doanh bao gồm: hai xí nghiệp, hai đội xây dựng, ba
cửa hàng xăng dầu.

Sơ đồ 1: MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY
Giám
đốc

• Hai phó giám đốc: Giúp giám đốc phụ trách các lĩnh vực công tác theo
sự phân công của giám đốc. Ngoài chức năng nhiệm vụ chính được phân công,
mỗi phó giám đốc còn được giao nhiệm vụ đột xuất, cấp bách tùy tình hình cụ
thể.
• Phòng kế toán tài vụ: Gồm có 5 người, gồm trưởng phòng, phó phòng,
kế toán xây lắp, kế toán kinh doanh, kế toán tổng hợp, có quan hệ với tất cả các
phòng ban, các đội, xí nghiệp, chi nhánh trong công ty và còn nhiều nhiệm vụ
khác.
• Phòng kế hoạch kỹ thuật: Gồm 8 người: trưởng phòng, phó giám đốc
phụ trách kỹ thuật và lên kế hoạch công việc. Nhiệm vụ của phòng là lập dự
toán cho các công trình xây dựng, dự thảo hợp đồng xây dựng, vẽ thiết kế hoàn
tất thủ tục giấy tờ để công trình xây dựng được tiến hành, giám sát công trình
xây dựng từ khi khởi công đến khi hoàn tất, bàn giao và đưa vào sử dụng.
24
Phòng
kinh
doanh
3 cửa
hàng
xăng
dầu
Phòng
kế
hoạch
kỹ
thuật
2 xí
nghiệp
(XN1,
XN2)

về thực tại tình hình của doanh nghiệp. Từ đó có chính sách xây dựng kế hoạch
kinh doanh cho các năm tiếp theo.
Sau đây là kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua hai năm 2005 và
2006.
25

Trích đoạn Định hướng chiến lược phát triển kinh doanh của công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status