BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
TÊN ĐỀ TÀI: Hướng dẫn đọc, thảo luận văn bản trong sách giáo khoa địa lí 8,
giúp phát huy tính tích cực nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh
Họ và tên tác giả: Trần Thị Tuyết Hồng – Võ Thị Hạnh.
Đơn vị công tác: Trường THCS Bàu Năng
1. Lý do chọn đề tài:
Do sự chuyển biến về dạy và học tích cực của giáo viên và học sinh còn chậm
chuyển biến, cách tổ chức tiết dạy trên lớp không gây hứng thú cho HS rất nhiều
giáo viên khai thác SGK còn đơn điệu, hướng dẫn học sinh đọc và thảo luận văn
bản trong SGK Địa lí quá sơ sài đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với chất lượng
dạy học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ của học sinh khi học môn Địa lí;
từ đó việc dạy và học Địa lí không chỉ trở thành gánh nặng của thầy và trò mà để
lại sự nhàm chán, học sinh không thích học bộ môn.
Dạy và học như trên sẽ không đáp ứng được những yêu cầu của xã hội, của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, không phát huy tính tích cực trong
học tập, hạn chế chất lượng học tập bộ môn.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Thời gian thực hiện từ đầu năm học 2010- 2011
- Đối tượng:
+ Đối với giáo viên tập trung vào hai vấn đề: hướng dẫn đọc, hướng dẫn đọc
và thảo luận các loại văn bản trong SGK Địa lí 8 giúp phát huy tính tích cực nhằm
nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
+ Đối với học sinh phải khai thác các loại văn bản trong SGK Địa lí 8 .như
thế nào để phát huy tính tích cực học tập và nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
+ Phạm vi nghiên cứu được giáo viên tập trung vào kiến thức phần Địa lí Việt
Nam lớp 8 và tác động trên lớp 8A1 của trường THCS Bàu Năng.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu lí thuyết: các văn bản, quan điểm giáo dục của Đảng; sách tham
khảo .
1
+ Điều tra, khảo sát: qua tiết dự giờ, chuyên đề và thăm dò lấy ý kiến từ các
nhiên cho đến nay việc đổi mới PPDH bộ môn diễn ra vẫn còn rất chậm, chưa đáp
ứng được mục tiêu giáo dục. Có thể nêu một số nét về bức tranh chung trong việc
dạy học Địa lí hiện nay như sau: đa số giáo viên truyền thụ kiến thức theo kiểu
thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, nặng về thông báo giảng giải, nhẹ về phát huy tính tích
cực và phát triển tư duy học sinh (HS), HS thụ động tiếp thu kiến thức; hình thức tổ
chức dạy học còn đơn điệu, dạy theo lớp là chủ yếu, nếu có hoạt động nhóm thì
hầu như không hiệu quả; khai thác các phương tiện dạy học
( PTDH ) đặc biệt là sách giáo khoa ( SGK ) rất hạn chế; hay việc tạo động cơ học
tập đúng đắn cho HS và thực hiện các hình thức khen thưởng động viên đối với
người học không được quan tâm một cách thích đáng Nhìn chung, giờ Địa lí
chưa mang lại nhiều hứng thú cho HS tuy rằng trong nhà trường đã xuất hiện ngày
càng nhiều tiết dạy tốt của các giáo viên ( GV ) giỏi, theo hướng tổ chức cho HS
hoạt động, tự chiếm lĩnh tri thức.
Có thể nói, rất nhiều GV khai thác SGK còn đơn điệu, hướng dẫn HS sử dụng
SGK quá sơ sài đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với chất lượng dạy học, đồng thời
hạn chế việc phát triển trí tuệ của HS khi học môn Địa lí; từ đó việc dạy và học Địa
lí trở thành gánh nặng của cả thầy và trò. Cách dạy và học như trên không thể đáp
ứng được yêu cầu của sự phát triển xã hội, đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nước.
Vì vậy, GV phải có giải pháp hướng dẫn HS khai thác SGK như thế nào có hiệu
quả đặc biệt là khai thác các loại văn bản, đó là một trong những vấn đề quan trọng
mà GV phải thực hiện để phát huy tính tích cực nhằm nâng cao chất lượng học tập
của HS trong bộ môn Địa lí.
2. Mục đích nghiên cứu:
Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học cần chú trọng rèn luyện phương pháp
học tập phát huy năng lực tự học của học sinh để thực hiện được vấn đề trên, giáo
viên không chỉ đơn thuần truyền đạt tri thức mà còn phải tìm ra các giải pháp
hướng dẫn HS biết đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8, giúp phát huy tính
tích cực học tập nhằm nâng cao kết quả bộ môn.
3. Đối tượng nghiên cứu:
3
+ Phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên Địa lí cần hướng dẫn HS đọc và thảo
luận các văn bản trong sách giáo khoa Địa lí 8 như thế nào giúp phát huy tính tích
cực nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS.( Mẫu số 2) ( PHT )
c) Trên cơ sở những quan sát, điều tra, giáo viên tiến hành phương pháp thực
nghiệm trên lớp 8A1 kiểm tra đánh giá việc thực hiện, so sánh đối chiếu kết quả
chưa áp dụng giải pháp và khi đã áp dụng giải pháp.( trước tác động và sau tác
động ) ( GV + PHT )
5. Giả thuyết khoa học:
Vấn đề hướng dẫn HS đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8 có không
nhiều bài viết về đề tài này, được trình bày trong các tài liệu bồi dưỡng GV như:
Tài kiệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III ( 2004-2007 )
môn Địa lí của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Các tài liệu trên chủ yếu bàn về hướng dẫn HS đọc, thảo luận văn bản trong
SGK Địa lí như thế nào nói chung mà chưa đi sâu vào tính hiệu quả. Như vậy,
hướng dẫn đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8 có phát huy được tính tích
cực, nâng cao chất lượng học tập của HS không?
Chúng tôi muốn có một đề tài cụ thể hơn, một kết quả thiết thực hơn thông qua
các giải pháp và khẳng định rằng: hướng dẫn đọc và thảo luận văn bản trong SGK
Địa lí 8 sẽ phát huy được tính tích cực, nâng cao chất lượng học tập của HS.
5
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
a) Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
Việc đổi mới toàn diện quá trình giáo dục, trong đó có đổi mới PPDH đã được
khẳng định ở những văn bản của Đảng và Nhà nước, cụ thể:
- Nghị quyết TW 2 ( khóa VII ) nêu rõ: “ Đổi mới phương pháp giáo dục và đào
tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người
học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào
trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho
HS…”
việc đọc các bài đọc thêm, HS không chỉ có thêm một số kiến thức cụ thể, sinh
động về một số sự vật, hiện tượng địa lí mà còn phát triển trí tưởng tượng, lòng
ham hiểu biết khoa học
Các hướng dẫn hoạt động hay thực hành kĩ năng, loại văn bản này có chức năng
hướng dẫn HS tiến hành các hoạt động học tập cụ thể như quan sát hình nào, làm
những gì… trong quá trình học tập. Vì vậy, loại văn bản này có vai trò lớn trong
việc định hướng cho GV về phương pháp dạy học, hướng dẫn HS cách học, trên cơ
sở đó mà hình thành, rèn luyện kĩ năng và phương pháp học tập bộ môn.
2. Cơ sở thực tiễn:
a) Thực trạng của việc dạy và học Địa lí ở đơn vị và các trường khác trong
huyện hiện nay:
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, thăm dò khảo sát các đơn
vị bạn, chúng tôi nhận thấy những vấn đề sau:
7
- Hoạt động dạy và học chưa thật sự đổi mới vì trong giảng dạy vẫn còn một số
giáo viên thực hiện một số tiết hoặc một số đoạn trong bài dạy còn lấy hoạt động
dạy làm trung tâm, đôi lúc giáo viên giảng học sinh nghe, giáo viên ghi bảng – học
sinh chép vào vở, học sinh thụ động tiếp thu kiến thức.
- Các phương tiện dạy học chưa thật sự được xem là nội dung để khai thác kiến
thức cơ bản của bài học, mà đôi lúc giáo viên còn dùng phương tiện dạy học để
minh họa cho tiết dạy, bởi vì giáo viên thường sợ cho học sinh khai thác sẽ làm mất
thời gian không hoàn thành được bài dạy trong tiết theo thời gian. Đây chính là hạn
chế mà giáo viên còn mắc phải khi thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng dạy học tích cực. Từ hạn chế trên dẫn tới một số học sinh chưa biết đọc và
thảo luận văn bản trong SGK như thế nào để tìm ra kiến thức kĩ năng bài học.
- Thường các câu hỏi GV đưa ra còn đơn giản chưa kích thích sự tư duy sáng
tạo của HS hay chưa tạo ra tình huống có vấn đề cho HS động não.
- Bộ môn địa lí chưa có chuyên đề riêng về “hướng dẫn học sinh đọc, thảo luận
văn bản trong sách giáo khoa” có chăng thì cũng tổ chức chuyên đề chung với
nhóm tổ bộ môn Sử - Địa –Anh.
viên quan tâm trong việc chọn phương pháp và các phương tiện dạy học tích cực.
Tuy nhiên các tiết dạy ấy mặt tồn tại được rút kinh nghiệm nhiều nhất là học sinh
chưa tích cực hoạt động: chưa biết sử dụng SGK, đọc các văn bản nhưng không
khai thác được kiến thức, kĩ năng từ văn bản ấy nên hiệu quả dạy và học còn hạn
chế. Có bao giờ giáo viên nghĩ rằng việc HS không biết sử dung văn bản hay chỉ
yêu cầu HS đọc được văn bản là đủ, hoặc các hoạt động nhóm trên lớp không cần
đọc các văn bản trong SGK, các tiết dạy như thế vẫn phát huy tính độc lập, tích
cực ở học sinh và không ảnh hưởng gì đến chất lượng học tập của HS.Chưa hẳn là
như thế.
Những năm gần đây, phương pháp giảng dạy Địa lí tuy đã có một số cải tiến
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách tăng cường các hoạt động của
HS trên lớp, kể cả ở nhà.Việc chuẩn bị bài ở nhà được GV dành thời gian thích
đáng với rất nhiều câu hỏi bài tập, kĩ năng: đọc đoạn nào, chú ý nội dung gì?. Trên
lớp, GV chú ý phát triển tư duy trong quá trình giảng bài mới, chẳng hạn trước khi
thảo luận , HS phải đọc văn bản cá nhân, tự trao đổi rồi mới tiến hành nhóm, nhưng
9
những việc làm đó cũng vẫn chỉ hạn chế trong phạm vi những kiến thức sẵn có
trong văn bản Tuy nhiên, quá trình HS tiếp thu thụ động đã giảm đi nhiều.
Thực hiện các giải pháp để hướng dẫn HS đọc và thảo luận văn bản trong SGK
Địa lí 8 ( phần Địa lí Việt Nam ) sẽ mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy và học
tập. Nhiệm vụ chủ yếu của giáo viên là trở thành người thiết kế các giải pháp thực
hiện cho việc học tích cực của học sinh trong bối cảnh cụ thể. Nhiệm vụ truyền
thống của giáo viên trước đây là chuyển giao thông tin, nay được điều chỉnh và mở
rộng thành một nhiệm vụ tạo ra các điều kiện học tập và hổ trợ quá trình học tập
của học sinh, thông qua đó người học xây dựng mối liên hệ giữa thông tin mới và
những kiến thức kĩ năng sẵn có. Điều này có thể đạt được thông qua các phương
pháp dạy học và các hoạt động học tập khác nhau, trong đó có nhiệm vụ hướng dẫn
đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8.
Hiện nay, những hạn chế trong đọc vả thảo luận các văn bản trong SGK Địa lí
là:
- Đọc tên bài và lướt xem có những mục gì.
- Tìm hiểu cho rõ nghĩa những từ hoặc thuật ngữ khó, những câu chưa hiểu,
nếu cần thì tra cứu bằng thuật ngữ ở phần phụ lục ( nếu có ) hoặc nhờ sự giúp đỡ
của GV. Ví dụ bài 25: “Lich sử phát triển của tự nhiên Việt nam”, trước khi thảo
luận nhóm ở mục 1, cá nhân đọc mục 1 và phải hiểu được thuật ngữ “ Nền cổ” để
củng cố thêm các nền móng sơ khai hình thành lãnh thổ nước ta; bài 24 “ Vùng
buển Việt Nam” nếu nói về đặc điểm hải văn của biển, ngoài khái niệm về dòng
biển, chế độ triều thì vùng nước trồi, nước chìm là gì? HS phải hiểu được khái
niệm của hai hiện tượng trên. Như thế mới nói lên được tính đa dạng của hải văn
biển Việt Nam, HS có thể nhờ đến sự giúp đỡ của GV.
- Xác định vị trí các đối tượng địa lí tương ứng trên bản đồ trong SGK, gắn
chúng với những đối tượng địa lí đã biết để nhớ vị trí của chúng trên bản đồ. Bài
26:”Đặc điểm tài nguyên khoáng sản Việt Nam” đề biết Việt Nam là nước giàu tài
nguyên khoáng sản, HS đọc mục 1. Câu hỏi cuối mục “ Em hãy tìm trên hình 26.1
một số mỏ khoáng sản lớn nêu trên”, không chỉ đọc đoạn văn bản đó mà phải đưa
đoạn đó vào bản đồ, tức là đọc đến đâu xác định đến đấy rèn được kĩ năng đọc bản
11
đồ, để dễ nhớ các em gắn liền với một địa danh như than ( Quảng Ninh ), dầu khí
( thềm lục địa phía nam ).
- Khi gặp những số liệu trong bài thì cần hình dung ra và nắm được ý nghĩa
bằng cách đối chiếu, so sánh với những số liệu về cùng loại đối tượng mà chính
mình biết. Khi nói về diện tích của Biển Đông là 3.447.000km
2
HS phải phân biệt
với diện tích của biển Việt Nam khoảng 1 triệu km
2
, để biết rằng Biển Đông không
phải là biển của riêng Việt Nam.( bài 24:” Vùng biển Việt Nam”).
- Nếu bài có kênh hình ( lược đồ, tranh ảnh, biểu đồ…) thì cần quan sát, phân
tích thêm kênh hình để hiểu rõ và lĩnh hội sâu sắc các ý được trình bày trong bài
đọc chính, GV có thể cho HS đọc qua một lượt trên lớp hoặc cho HS về nhà đọc và
quan trọng là phải ghi những điểm quan trọng vào vở hay sổ tay địa lí. Khi tìm hiểu
sự đa dạng về hệ sinh thái ( mục 3, bài 37 “ Đặc điểm sinh vật Việt Nam” ), nói về
các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia GV cho HS đọc bài đọc thêm “ Cúc
Phương, vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam” ở trên lớp để thấy sự đa dang sinh
học nơi đây về nhà ghi nội dung quan trọng bổ sung bài học trên lớp. Sau bài 43 “
Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ” bài đọc thêm “ Kì thú vườn quốc gia Yok Đôn”
sẽ giới thiệu rõ hơn vể đặc đểm hệ sinh thái tự nhiên độc đáo ở đậy.
* Hướng dẫn HS sử dụng các văn bản hướng dẫn hoạt động và thực hành:
Các văn bản này có nhiệm vụ hướng dẫn HS tiến hành các hoạt động học tập, có
ý nghĩa trong phát huy tính tư duy độc lập ở HS. Việc hướng dẫn HS sử dụng văn
bản trên được tiến hành trước khi HS thực hiện các hoạt động học tập, thực hành
với kênh chữ, kênh hình. Khi hướng dẫn HS sử dung các văn bản hướng dẫn hoạt
động và thực hành, GV phải cần đặc biệt chú trọng tới việc yêu cầu HS đọc và hiểu
đúng các yêu cầu, chỉ dẫn của văn bàn; chẳng hạn, đọc đoạn nào, quan sát cái gì,
tiến hành những hoạt động nào vv…GV cũng nên yêu cầu HS thảo luận ( khi cần )
để nêu bật được những ý chính của văn bản khi HS tỏ ra chưa hiểu rõ văn bản. Bởi
chỉ trên cơ sở nắm vững các yêu cầu, các chỉ dẫn thì HS mới có thực hiện đúng các
công việc học tập, thực hành mà văn bản yêu cầu. Như mục 1, bài 33 “ Đặc điểm
sông ngòi Việt Nam” đoạn văn bản thực hành như sau : Dựa vào bảng 33.1 và cho
biết mùa lũ trên các lưu vực sông có trùng nhau không và giải thích vì sao có sự
13
khác biệt đó?, HS có thể tự làm việc cá nhân vừa xác định thời gian lũ vừa giải
thích tại sao lũ xuất hiện vào thời gian trên ở từng lưu vực. Như vậy sẽ mất nhiều
thời gian hoạt động, kiến thức HS thu thập nhiều hơn. GV nên tổ chức thảo luận ở
đoạn này để HS nêu suy nghĩ của mình trước tập thể, hình thành kĩ năng hợp tác
trong hoạt động học tập, đồng thời khắc phục được những khó khăn trên.
* Tổ chức các hoạt động đọc và thảo luận văn bản:
Trong dạy học địa lí, việc tổ chức cho HS đọc và thảo luận các văn bản thường
được tổ chức theo các hình thức sau đây:
C và tăng dần từ bắc vào nam .
+ Khí hậu chia hai mùa, phù hợp với hai mùa gió: gió mùa đông bắc và gió
mùa tây nam.
+ Lượng mưa lớn ( 1500-2000mm/năm ), độ ẩm rất cao trên 80%.
- Đối chiếu với hình vẽ, bản đồ, số liệu để hiểu rõ hơn các nội dung của văn bản,
Ví dụ: Quan sát bảng 31.1 sẽ làm rõ hơn những tháng có nhiệt độ cao nhất và thấp
nhất, biên độ chênh lệch; những tháng nào có nhiệt độ không khí giảm dần từ nam
ra bắc và giải thích tại sao?; lượng mưa phân bố ra sao và tập trung vào những
tháng nào?
- Ghi các ý chính ( dàn ý ) của văn bản. Ví dụ: ghi các biểu hiện tính chất nhiệt
đới gió mùa ẩm của khí hậu nước ta, có ba biểu hiện:
+ Chế độ nhiệt: ( các biểu hiện của tính chất nhiệt đới )
+ Chế độ gió: ( các biểu hiện của tính chất gió mùa )
+ Chế độ mưa: ( các biểu hiện của tính chất mưa ẩm )
- Trình bày các hiểu biết của bản thân về nội dung văn bản. Đây là mục đích mà
GV muốn hình thành cho HS, các em có thể tự mình trình bày một vấn đề trước lớp
thay cho phần khởi động vào bài mới, GV có nhiệm vụ giúp HS kiểm chứng lại
những ý kiến của HS trên lớp.
b. Đọc và thảo luận văn bản theo nhóm/lớp:
Ngoài việc đọc cá nhân, việc tìm kiếm kiến thức từ văn bản còn được tồ chức
theo hình thưc đọc và thảo luận theo nhóm hoặc theo lớp. Thông qua hình thức đọc
và thảo luận này, HS hiểu và nắm vững hơn các nội dung học tập, các yêu cầu hoặc
hướng dẫn thực hành trong văn bản, đồng thời phát triển được kĩ năng trình bày
thông tin, khả năng phối hợp hay chia sẻ các hoạt động, tính tự tin trong học tập và
cuốc sống, nói khác đi là hình thành kĩ năng sống thông qua môn Địa lí. Tuy nhiên,
nếu việc tổ chức đọc và thảo luận văn bản không tốt sẽ không phát huy được tính
tích cực của tất cả HS trong nhóm/lớp hoặc HS chỉ đọc lại các nội dung của văn
15
bản mà không có sự suy nghĩ, tìm hiểu bản chất của nội dung học tập có trong văn
bản. Đây là một vấn đề mà bản thân đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm từ các tiết
* Ví dụ 1: Bài 25 “ Lịch sử phát triển của tự nhiên Việt Nam”, GV tổ chức hoạt
động nhóm cho toàn bài.
Bước 1: GV khởi động bằng cách gọi một HS trình bày những hiểu biết của
mình về bài học hôm nay.
Bước 2: GV phân công nhóm có 6 nhóm, nhiệm vụ của từng nhóm:
- Nhóm 1,2: Tìm hiểu giai đoạn Tiền Cambri ( đọc mục 1 )
- Nhóm 3,4: Tìm hiểu giai đoạn Cổ kiến tạo ( đọc mục 2 )
- Nhóm 5,6: Tìm hiểu giao đoạn Tân kiến tạo ( đọc mục 3 )
Bước 3: GVgợi ý cho các nhóm
- Đọc cá nhân đoạn văn bản và thảo luận theo gợi ý: Thời gian từng giai
đoạn, đặc điểm chính từng giai đoạn, ảnh hưởng của từng giai đoạn tới địa
hình, khoáng sản, sinh vật.
- Các nhóm phải lập ra được sơ đồ về lịch sử phát triển của tự nhiên Việt nam
( Kĩ thuật lược đồ tư duy )
Bước 4: HS tự đọc và thảo luận nhóm
- Nhóm 1,2 lập sơ đồ như sau:
17
Giai đoạn Tiền Cambri
Đặc điểm chính
- Tạo lập nền móng sơ
khai của lãnh thổ.
- Đại bộ phận nước ta còn
là biển.
Thời gian
Cách đây 542 triệu năm
Ảnh hưởng tới địa hình,
khoáng sản, sinh vật
- Các mảng nền cổ tạo
thành các điểm tựa cho sự
phát triển lãnh thổ sau này
chính
Ảnh
hưởng
Thới
gian
Đặc
điểm
chính
Ảnh
hưởng
+ Tính chất nhiệt đới gió mùa của biển Việt Nam thể hiện qua các yếu tố nào?
+ Phân tích chế độ gió trên biển Đông. Dẫn chứng.
+ Chế độ nhiệt của biển biểu hiện ra sao? Dẫn chứng.
+ Chế độ mưa của biển như thế nào? Cụ thể số liệu.
+ So sánh khí hậu của biển và trên đất liền và rút ra kết luận.
Với từng câu hỏi giáo viên hướng dẫn học sinh lập sơ đồ đến hết nội dung.Sơ đồ thể hiện tính chất nhiệt đới gió mùa của biển Việt Nam
* Ví dụ 3: Cũng ví dụ 2 để khai thác đặc điểm khí hậu của biển ( mục 1b, bài 24),
GV có thể hoạt động cả lớp, kết hợp với các kĩ thuật dạy học: thuyết trình tích cực,
viết tích cực và trình bày 1 phút. Phương pháp này tổng hợp nhiều kĩ năng nghe,
viết, nói; HS phải tự giác, suy nghĩ, tự tin mới hoàn thành bài báo cáo trước lớp. Cụ
thể:
Bước 1: Thuyết trình tích cực, GV nêu câu hỏi và lưu ý HS tìm câu trả lời trong
khi lắng nghe thuyết trình ( đọc mục 1b SGK ), câu hỏi khí hậu của Biển Đông nói
chung và biển Việt Nam nói riêng có những đặc điểm gì?
Bước 2: Viết tích cực, GV yêu cầu HS dựa vào đoạn văn bản trên và hoàn thành
theo mẫu sau:
ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU CỦA BIỂN VIỆT NAM
Bước 3: Trình bày 1 phút, GV chỉ định một vài HS trình bày 1 phút những nội
dung mình đã làm trước lớp.
c. Tổ chức các trò chơi dựa vào nội dung văn bản:
Dựa vào nội dung văn bản ( bài đọc chính, bài đọc thêm ) GV có thể tổ chức cho
HS chơi các trò chơi như sắm vai, thi kể chuyện, đố vui… Thông qua các trò chơi,
HS hiểu nội dung văn bản, nắm vững kiến thức, kĩ năng, phát triển trí thông minh,
óc sáng tạo. Các trò chơi còn giúp cho việc học tập bớt căng thẳng, tạo cho HS
những cảm xúc tốt đẹp và niềm vui trong học tập
* Ví dụ 1: Bài 26 “ Đặc điểm tài nguyên khoáng sản Việt Nam”, mục 3 của bài
là kiến thức nâng cao và đây cũng là địa chỉ tích hợp giáo dục môi trường, tiết kiệm
năng lượng hiệu quả. GV có thể tổ chức trò chơi cho nội dung này. Trò chơi “ Tôi ở
đâu”
- Mục tiêu: Qua trò chơi này, học sinh hiểu rõ thêm loại hình của các loại tài
nguyên có trong môi trường tự nhiên.
- Hoạt động:
+ Mỗi học sinh có1 mảnh giấy trắng và tự ghi lên đó tên một loại tài nguyên
( ví dụ : dầu mỏ, than, sắt, năng lượng thuỷ triều, sức gió…).
+ Chọn 3 học sinh đứng vào 3 góc lớp. Mỗi em mang một bảng giấy ghi rõ “
Tài nguyên vô tận”, “ Tài nguyên tái sinh”, “ Tài nguyên cạn kiệt”.
+ Nhóm ( khoảng 10 HS) đứng thành vòng tròn khép kín, chuyển nhanh liên
tục mảnh giấy của mình cho người bên cạnh, theo chiều kim đồng hồ.
20
+ Giáo viên phát hiệu lệnh “ngừng chuyển”. Mỗi học sinh nhìn vào nội dung
mảnh giấy mình đang cầm trên tay và ngay lập tức chạy đến một trong ba vị trí
thích hợp ở góc lớp, chỗ có em mang mảnh giấy “ Tài nguyên vô tận”, “ Tài
nguyên tái sinh”, “ Tài nguyên cạn kiệt”. Ví dụ : em cầm mảnh giấy có ghi “ dầu
mỏ” thì chạy về phía góc có mang bảng hiệu “ Tài nguyên cạn kiệt”.
+ Em học sinh đứng ở góc kiểm tra nội dung các mảnh giấy bằng cách đọc to
lên cho mọi người cùng nghe và xác nhận, giáo viên làm trọng tài. Ai đứng không
đúng vị trí thì mời ra ngoài.
Bước 1: GV chuẩn bị sẳn những mảnh giấy có ghi: Vùng nội thủy, lãnh hải,
vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, 2 mảnh giấy 12 hải lí, 1
mảnh ghi 176 hải lí và một số mảnh có ghi những khoảng cách hải lí khác giới
thiệu trước lớp.
Bước 2: GV mời 5 HS đại diện cho 5 bộ phận vùng biển. Gọi 1 HS đọc bài đọc
thêm
Bước 3: Bài đọc thêm xướng lên bộ phận nào thì HS đại diện cho bộ phận đó
chạy lên chọn mảnh giấy mà mình mang tên cùng với mảnh giấy bao nhiêu hải lí,
sau đó đứng vào vị trí theo thứ tự. Cứ như thế cho đến HS cuối cùng
Bước 4: yêu cầu vài HS nhận xét kết quả, GV chuẩn xác kiến thức.
Việc tổ chức các trò chơi học tập dựa vào nội dung của các văn bản trong SGK,
chỉ thực sự mang lại hiệu quả khi GV biệt cách đề xuất và có kĩ năng tổ chức trò
chơi, nếu không thì sẽ mất nhiều thời gian, tạo nên sự nhàm chán hoặc làm cho bài
học bị mất trọng tâm. Vì vậy, GV cần phải lựa chọn, cân nhắc kĩ khi quyết định cho
HS chơi các trò chơi, đồng thời phải biết cách tổ chức các trò chơi cho HS; mặt
khác, GV cũng cần hình thành và phát triển ở HS những hiểu biết và kĩ năng tham
gia các trò chơi ( luật chơi, cách chơi…), tính tự tin, hơn thế nữa tạo tự tin khi tham
gia các hoạt động xã hội.
Trình tự tiến hành tổ chức các trò chơi dưa vào việc đọc văn bản có thể tiến hành như
sau:
- GV định hướng cho HS biết việc sắp phải làm
- GV đề xuất trò chơi và luật chơi
- HS các nhóm phân công nhiệm vụ cho các cá nhân
22
- HS tự đọc văn bản để nắm được nội dung
- HS trong nhóm trao đổi với nhau về các nội dung và cách thể hiện ( khi cần )
- Cả lớp tham gia trò chơi dưới sự điều khiển của GV hoặc HS
- Đánh giá kết quả trò chơi.
* Tổ chức chuyên đề về “ Hướng dẫn học sinh đọc, thảo luận văn bản trong
sách giáo khoa môn Địa lí ”
%
7 20% 13
37.1
%
25
71.4
%
10
28.6
%
KSC
L
GIỮ
A
HKI
8A
1 35 10
28.6
%
10
28.6
%
8
22.8
%
28 80% 7 20%
Tăn
g/
giảm
5(
T)
2.9
%
0
2(
T)
5.7
%
2(
G)
5.7%
KSC
L
GIỮ
A
HKI
I
8A
1 35 22
62.8
%
11
31.4
%
1
2.9
%
34
97.1
%
tiến hành sau khi tác động đề kiểm tra do
trường ra:
- Từ TB trở lên là: 80%
- Dưới TB là: 20%
- Lần 2 so với lần 1 thì từ TB trở lên tăng 5.7%
Bài kiểm tra lần 3 là bài kiểm tra HK
I
tiến hành sau khi tác động đề kiểm tra do
SGD ra:
- Từ TB trở lên là: 87.5%
- Dưới TB là: 14.3%
- Lần 3 so với lần 2 thì từ TB trở lên tăng 5.7%
Bài kiểm tra lần bốn là bài kiểm tra giữa HK
II
tiến hành sau khi tác động đề kiểm
tra do trường ra:
24
- Từ TB trở lên là: 97.1%
- Dưới TB là: 2.9%
- Lần 4 so với lần 3 thì từ TB trở lên tăng: 11.4 %
Nhận định:
Sau khi hướng dẫn HS đọc, thảo luận văn bản trong SGK địa lí 8 đã giúp phát huy
tính tích cực nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS một cách rõ rệt
III. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm:
Qua việc thăm lớp, dự giờ khảo sát trước tác động HS khai thác các văn bản chỉ
dừng lại ở hoạt động đọc lướt qua, chưa xem đó là hoạt động cần thiết. Trên lớp HS
thụ động, GV chủ động cung cấp kiến thức, chất lượng học tập chưa cao
Đề tài này sẽ hạn chế những tồn tại trên bằng các giải pháp được đưa ra, đồng
thời rút ra được cần hướng dẫn HS đọc và thảo luận các văn bản như thế nào để