tiểu luận kinh tế vĩ mô tình hình cung cầu hàng dệt may của việt nam - Pdf 24

Hiện nay, ngành công nghiệp dệt may đang có xu hướng chuyển dịch từ các
nước phát triển sang các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước châu Á có giá
nhân công rẻ. Tuy nhiên, công tác quản lí, tổ chức sản xuất kinh doanh vẫn là điểm
yếu của ta trong việc hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của ngành dệt
may Việt Nam. Để khắc phục chúng ta phải có những biện pháp tích cực như đẩy
mạnh sản xuất, xuất khẩu, mở rộng thị trường, đón bắt nhu cầu về mẫu mã và chủng
loại của khách hàng. Điều này quyết định chỗ đứng của ngành công nghiệp dệt may
Việt Nam trên thị trường quốc tế và khu vực khi chúng ta gia nhập vào thế giới cũng
như khu vực.
Ngành công nghiệp dệt-may có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân,
vừa là ngành cung cấp hàng tiêu dùng thiết yếu cho xã hội, vừa có khả năng thu hút,
tạo việc làm cho nhiều lao động nhất trong các ngành công nghiệp. Từ những năm
qua, dệt-may còn là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai trong cả nước, công
nghiệp dệt-may luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm trong chính sách phát triển
chung của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
Ngày nay, các sản phẩm dệt may của Việt Nam không ngừng được phát triển cả
về sản lượng và chủng loại sản phẩm. Những thành tựu của công nghiệp dệt-may
đóng góp vào sự nghiệp kinh tế-xã hội ở nước ta đã đánh dấu bước khởi đầu tốt đẹp
trong sự nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt Nam.Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thực tế
hơn, các sản phẩm dệt may còn nhiều bất cập so với nhu cầu phát triển. Hơn nữa,
trong xu thế quốc tế hoá hiện nay, Việt Nam cũng đă trở thành thành viên ASEAN
(5/1995), APEC (11/1998) và đã gia nhập tổ chức WTO năm 2007. Như vậy, các sản
phẩm dệt may của Việt Nam đã có điều kiện mở rộng, xâm nhập thị trường tiêu thụ,
đồng thời chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, nghiên cứu xu hướng vận động, phát
triển hàng dệt may là hết sức cần thiết, chính vì những lí do đó nên chúng ta hãy cùng
nhau tìm hiểu về: “Tình hình cung cầu hàng dệt may của Việt Nam.”
1
MỤC LỤC

1. Lời mở đầu. 1

phải nhập với một khối lượng lớn nguyên liệu lẫn hàng dệt may thành phẩm. Mặt
khác ngành dệt may sản phẩm cho tiêu dùng trong nước chất lượng còn thấp, mẫu mã
chưa phong phú, giá cả lại cao so với sản phẩm dệt may nhập khẩu. Tuy nhiên trong
những năm gần đây, ngành dệt may đã có kế hoạch đổi mới trang thiết bị, tăng sản
lượng , giảm giá thành, đa dạng hoá mẫu mã nhằm đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu
của nhân dân trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.
Với đặc tính sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là đối với ngành dệt may Việt
Nam còn thiếu nhiều thiết bị công nghệ hiện đại vì thế còn rất nhiều công đoạn sản
xuất thủ công, nên ngành dệt may có khả năng giải quyết việc làm cho rất nhiều lao
động. Hiện nay toàn ngành dệt may Việt Nam đang sử dụng hơn 500.000 lao động,
con số này là nhỏ khi so với tổng số 38 triệu người trong độ tuổi lao động của Việt
Nam nhưng là một con số khá lớn đối với một ngành công nghiệp, có ý nghĩa không
chỉ trên phương diện kinh tế mà còn góp phần bình ổn chính trị – xã hội.
Không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, hiện nay sản phẩm dệt may của Việt
Nam đã có mặt ở rất nhiều thị trường nước ngoài. Các xí nghiệp dệt may lớn ở Trung
ương và địa phương đều đang cố gắng giành năng lực tốt nhất cho sản xuất hàng dệt
may. Ngành dệt may đã phát huy và tận dụng hết tiềm năng sẵn có của đất nước, thúc
đẩy mạnh mẽ quá trình mở rộng thị trường. Trong thời gian tới, chúng ta cần phải có
những chính sách phù hợp để khai thác hiệu quả những ưu thế của ngành dệt may
nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.2: Tầm quan trọng của việc cung-cầu hàng dệt may ở Việt Nam.
Ngành công nghiệp dệt may đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, có khả năng tạo nhiều việc làm cho người lao
động, tăng doanh thu để tích luỹ làm tiền đề phát triển cho các ngành công nghiệp
khác. Ngành dệt may đang góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn thông qua
tăng trưởng sản xuất bông, đay, tơ tằm…
3
Như chúng ta đã biết, xã hội ngày càng phát triển theo hướng tích cực dẫn đến
nhu cầu của con người càng được nâng cao. Chúng ta không phải chỉ muốn ăn no mặc
ấm mà nhu cầu hiện nay của con người là muốn được ăn ngon, mặc đẹp. Tuy nhiên

Cung cầu là lỹ thuyết nền tảng của kinh tế học nói chung và kinh tế học vi mô
nói riêng. Phân tích cung cầu cung cấp một công cụ hữu ích để giải thích và dự đoán
các hiện tượng kinh tế phát sinh trên thị trường và trong đời sống kinh tế xã hội.
Trước hết, mô hình cung cầu giải thích cơ chế hình thành giả cả hàng hóa, dich vụ
thông qua sự tương tác giữa người mua và người bán trên thị trường. Từ đó, lý thuyết
cung cầu giúp ta hiểu và dự đoán ảnh hưởng của việc thay đổi các điều kiện kinh tế
4
đến giá cả, tình hình sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, đánh giá tác động của
chính sách can thiệp của chính phủ thông qua kiểm soát giá, thuế, trợ cấp,…
+Khái niệm về cầu:
Cầu (sức mua) là nhu cầu có khả năng thanh toán, số lượng hàng hóa dịch vụ
mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại những mức giá khác nhau, tại những
thời điểm nhất định. Quy mô của cầu phụ thuộc vào những yếu tố như thu nhập, sức
mua của đồng tiền, thị hiếu của đồng tiền trong đó giá cả là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Thực tế, số lượng của một loại hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng
quyết định mua không phải chịu sự chi phối bới yếu tố giá của chính hàng hóa đó mà
còn chịu sự chi phối bởi rất nhiều yếu tố như: thu nhập của người tiêu dùng, giá của
các hàng hóa liên quan, giá dự kiến của hàng hóa đó, thị hiếu hay sở thích, kỳ vọng và
những ảnh hưởng đặc biệt của người tiêu dùng… Vì vậy khi nghiên cứu định nghĩa
cầu chúng ta cần phải giả định các yếu tố khác (các yếu tố ngoài giá cả của chính
hàng hóa đó) tác động đến cầu là không đổi nhằm tránh những lập luận sai lầm do ảnh
hưởng của các yếu tố này đến cầu.
Ví dụ: khi giá của các sản phẩm hàng dệt may thấp thì nhu cầu mua sắm những
sản phẩm đó của con người cao lên.
+Khái niệm về cung:
Cung (sức bán) là tổng số hàng hóa có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế
cung cấp cho thị trường và số hàng hóa dịch vụ mà người bán muốn bán và sẵn sàng
bán ở những mức giá khác nhau vào những thời điểm nhất định. Cung mô tả hành vi
của người bán. Quy mô cung phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng, chất lượng, các
yếu tố sản xuất, chi phí sản xuất trong đó những nhu cầu giá cả có ý nghĩa vô cùng

PHẦN 3: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CUNG-CẦU HÀNG DỆT MAY Ở VIỆT
NAM.
3.1: Phân tích tình hình cung-cầu hàng dệt may ở Việt Nam.
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, với 85 triệu dân hiện nay và sẽ tăng lên 100
triệu dân trong năm 2015, thị trường tiêu thụ nội địa rất lớn, các doanh nghiệp sản
xuất hàng dệt may không thể bỏ qua cơ hội để chiếm lĩnh thị trường nội địa. Năm
2006, tổng tiêu thụ nội địa ước đạt 1,8 tỷ USD, trong khi đó, xuất khẩu dệt may đạt
gần 6 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trong tiêu thụ hàng nội địa đạt khoảng 15%/năm,
nhưng thực tế chỉ chiếm 1/4 năng lực sản xuất. Phần lớn doanh nghiệp dệt may trong
nước chỉ chú trọng đầu tư để xuất khẩu là chính, chưa quan tâm nhiều cho phát triển
xây dựng thương hiệu tại thị trường nội địa.
Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc của thị trường trong nước tương
đương 389.000 tấn sản phẩm dệt/năm. Như vậy, mỗi năm trung bình một người Việt
Nam tiêu thụ khoảng 4,8 kg hàng dệt. Hiện chưa có một công thức chính xác để quy
đổi con số trên ra số bộ quần áo (và sản phẩm may mặc khác) một người Việt Nam
tiêu thụ trung bình mỗi năm. Tuy nhiên có thể khẳng định là tiêu dùng nội địa hiện
thấp hơn nhiều so với mức chung thế giới. Trong những năm tới, nhu cầu hàng may
mặc của thị trường trong nước sẽ ngày càng tăng cao cùng với sự tăng trưởng đều đặn
thu nhập và mức sống dân cư (khoảng 5%/năm). Mặc dù mức tiêu dùng còn khiêm
tốn nhưng xét về tương quan thì quy mô thị trường nội địa không quá nhỏ bé so với
thị trường xuất khẩu: năm 2000. tổng giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 1,9 tỷ
USD thì tiêu thụ dệt may nội địa cũng khoảng 1 tỷ USD.
Ngoài đặc điểm thuận lợi đói với ngành dệt may Việt Nam là dung lượng thị
trường khá lớn và tiềm năng tăng trưởng kinh tế khá, thì tiêu dùng nội địa hiện nay
còn khá “dễ tính”. Chỉ ở thành phố, thị xã… mới có sự lữa chọn về kiểu dáng, chất
liệu , màu sắc, thời trang… còn đa số người dân nông thôn chỉ mới chú trọng đến yếu
6
tố “ăn chắc, mặc bền”. Trong tiêu dùng hàng may mặc hiện nay thì hàng may sẵn là
hình thức chủ yếu vì nhanh gọn, đơn giản và tiện lợi, giá rẻ lại phong phú, đa dạng về
mẫu mã chủng loại. Đồ may sẵn thường xuyên phải giảm giá do chất lượng thấp, tiêu

vượt bậc. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành khoảng 30%/năm, trong lĩnh vực
xuất khẩu tốc độ tăng trưởng bình quân 24,8%/năm và chiếm 20% tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước. Tính đến nay cả nước có khoảng 822 doanh nghiệp dệt may,
trong đó doanh nghiệp quốc doanh là 231 doanh nghiệp, doanh nghiệp ngoài quốc
doanh là 370 doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 221 doanh
nghiệp. Ngành dệt may có năng lực như sau:
• Thiết bị: có 1.050.000 cọc kéo sợi, 14.000 máy dệt vải; 450 máy dệt kim và
190.000 máy may.
• Về lao động: ngành dệt may đang thu hút được khoảng 1,6 triệu lao động,
chiếm 25% lực lượng lao động công nghiệp.
7
• Về thu hút đầu tư nước ngoài: tính đến nay có khoảng 180 dự án sợi-dệt-
nhuộm-đan-len-may mặc còn hiệu lực với số vốn đăng ký đạt gần 1,85 tỷ USD, trong
đó có 130 dự án đã đi vào hoạt động, tạo việc làm cho trên 50.000 lao động trực tiếp
và hàng ngàn lao động gián tiếp.
• Tổng nộp ngân sách thông qua các loại thuế ngày càng tăng, tốc độ tăng bình
quân khoảng 15%/ năm.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ngành công nghiệp dệt may hiện có 3.710
doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhìn vào hiện trạng ngành dệt may có thể thấy sự phân bố
không đồng đều giữa các tỉnh, thành phố, giữa các vùng miền.
Ngành dệt may Việt Nam đang là ngành dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu, là
ngành giải quyết nhiều việc làm cho người lao động. Hiện nay nguyên liệu chính cho
ngành là bông xơ, tuy nhiên ngành vẫn phải nhập khẩu hơn 90% nguyên liệu đầu vào.
Ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong những năm vừa
qua. Xuất khẩu hàng dệt may cũng đạt được những kết quả tăng trưởng khá ấn tượng.
Tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may đã tăng liên tục từ mức 1,15 tỷ USD vào năm
1996 lên gần 2 tỷ USD vào năm 2001 và xấp xỉ 7,8 tỷ USD vào năm 2007 và khoảng
9,1 tỷ USD vào năm 2008.
Việc tiêu thụ hàng dệt may của nước ta rất lớn do nhu cầu tiêu dùng của nước
ta. Nước ta có nguồn lao động dồi dào khoảnh 39 triệu người với đặc điểm cần cù,

khi doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam thì gặp một số rào cản nhất định như chỉ
cho họ hiện diện ở một số vị trí xa trung tâm thành phố một chút. Nhưng trên thực tế
thì những mặt bằng đẹp nhất thì rơi vô tay của các hệ thống bán lẻ nước ngoài.
Như vậy là chủ trương đường hướng và thực tế lại trái ngược với nhau. Cho
nên phần lớn doanh nghiệp phải tập trung xuất khẩu, còn rất ít các doanh nghiệp
chuyên nghiệp quay về làm hàng nội địa, khiến cho nguồn cung và cầu không được
cân bằng.
Theo số liệu mới công bố của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), trong 6
tháng đầu năm 2012, khủng hoảng kinh tế thế giới, vấn đề nợ công châu Âu đã ảnh
hưởng mạnh đến nền kinh tế Việt Nam, trong đó ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình
xuất khẩu hàng dệt may.
Bà Đặng Phương Dung – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VITAS cho biết, nửa
đầu năm 2012, ngành dệt may toàn cầu gặp khó khăn chung về thị trường, nhất là việc
xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Mỹ và EU. Trong đó, ngành dệt may Việt Nam chỉ
đạt mức tăng trưởng 3% so với năm 2011 tại thị trường Mỹ; 2,7% tại thị trường EU;
8,9% tại thị trường Nhật Bản và 2% tại thị trường Hàn Quốc.
Cùng trong bối cảnh này, 6 tháng đầu năm 2012, lượng hàng dệt may xuất khẩu
đạt 7,8% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ chỉ tăng
9,2% so với năm 2011. Tuy vậy, lượng hàng xuất khẩu vào EU lại giảm 2,7%. Tại các
thị trường khác cũng bị sụt giảm nghiêm trọng ở mức 8,9% so với 6 tháng đầu năm
2011.
Cũng theo đánh giá của VITAS, Mỹ, EU và Nhật Bản hiện là 3 thị trường xuất
khẩu lớn của ngành dệt may Việt Nam với tỷ trọng xuất khẩu dành cho thị trường Mỹ
chiếm 49%; EU là 15%; Nhật Bản là 12%; Hàn Quốc 9%, còn lại 17% dành cho các
thị trường khác.
Mặc dù đặt nhiều kỳ vọng xuất khẩu hàng dệt may tại thị trường EU, nhưng
yêu cầu của người tiêu dùng về chất lượng và kiểu dáng sản phẩm dệt may tại thị
trường này có phần khắt khe hơn ở Mỹ, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng
được các tiêu chuẩn kỹ thuật khiến hàng dệt may sang EU không tăng như mong đợi.
Theo bà Đặng Phương Dung ngành dệt may sụt giảm về sản lượng xuất khẩu

Nhật Bản 290,5 3158 325,1 320 330 620 650 700
Mỹ 15 20 23 27 70 49 50 200
(Thống kê của tổng cục hải quan 1995 - 2002)
Hiện nay hàng dệt may xuất khẩu đạt 1,44 tỷ USD, nâng trị giá xuất khẩu nhóm
hàng này trong 7 tháng đâu năm 2012 lên 8,27 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm
2011. Trong đó: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ đạt 4,22
tỷ USD, tăng 10,6% (tương ứng tăng hơn 404 triệu USD); sang EU đạt 1,39 tỷ USD,
giảm 4,7%; sang Nhật Bản đạt 1,06 tỷ USD, , tăng 23,4% (tương ứng tăng hơn 200
triệu USD) và sang Hàn Quốc: 453 triệu USD, tăng 19,4% so với 7 tháng/2011.
10
Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang một số thị trường
chính 7 tháng đầu năm giai đoạn 2009-2012
Theo số liệu thực tế, trong tháng 8, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam đạt 1,522 tỷ USD, tăng 6% so với tháng trước và tương đương với cùng kỳ năm
ngoái. Nguyên nhân là do đây là thời điểm chính vụ của ngành dệt may, hầu hết các
doanh nghiệp đã có đơn hàng cho cả tháng. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của
nước ta sang Mỹ và EU cũng không được cải thiện nhiều, kim ngạch xuất khẩu vẫn
giảm nhẹ so với tháng trước và so với cùng kỳ năm 2011.
+ Xuất khẩu mặt hàng này của ta sang Mỹ đạt 729 triệu USD, tương đương với
tháng trước và giảm nhẹ 2,4% so với cùng kỳ năm 2011.
+ Xuất khẩu hàng dệt may của ta sang các nước EU chính đạt trên 247 triệu USD,
giảm 8,86% so với tháng 7 và giảm 5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong khi xuất khẩu hàng dệt may của ta sang hai thị trường lớn không tăng thì
xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc lại có những tín hiệu tích cực.
+ Sau khi chững lại trong các tháng quý II, xuất khẩu hàng dệt may của nước ta
sang thị trường Hàn Quốc đã tăng mạnh trở lại trong tháng 8, tăng 85% so với tháng 7
và tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 131 triệu USD.
+ Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đã tăng 21% so với tháng trước
và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2011, đạt 213,4 triệu USD.
+ Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của ta sang Mỹ chỉ tăng 8,15% trong 8 tháng

ASEAN 26.926.798 6,96 -2,70 214.603.024 32,60
Đài Loan 24.715.652 54,85 7,05 133.543.743 -3,51
Hồng Kông 10.407.075 3,96 31,43 64.501.183 36,36
Mexico 10.404.553 -17,93 -16,63 62.533.354 10,34
Nga 9.528.992 -36,19 -24,44 84.681.349 15,85
Arap Xeut 6.964.871 17,56 42,90 43.464.031 48,48
Thổ Nhĩ Kỳ 6.914.109 26,07 8,49 46.819.732 -42,88
Ôxtraylia 6.692.995 30,42 39,59 42.894.173 35,14
UAE 5.992.262 20,48 25,03 37.318.694 11,38
Braxin 2.868.059 -2,49 24.545.999 30,51
Panama 1.824.622 -21,38 48,65 22.300.841 68,91
Thụy Sỹ 1.676.094 -36,30 10,04 9.552.642 -3,50
Ixraen 1.648.725 7,75 180,26 9.931.683 111,82
ấn độ 1.611.672 -11,50 -21,72 13.006.860 0,00
Chile 1.395.918 -20,68 15.553.958
Bangladesh 1.196.783 37,24 12.351.119
Nauy 1.116.839 -13,53 -48,02 8.425.252 -20,06
Ăngola 1.045.447 -10,55 12,01 9.819.450 115,06
Nam Phi 1.028.046 -27,40 -47,00 10.671.828 -23,60
Ucraina 867.786 -44,79 -28,65 14.269.377 33,83
Ai Cập 739.568 -40,91 8,31 5.655.602 3,71
12
3.2: Thuận lợi và khó khăn của ngành dệt may Việt Nam.
Liên tục trong những năm gần đây, dù phải chịu nhiều ảnh hưởng do suy giảm
kinh tế toàn cầu nhưng ngành dệt may nước ta vẫn dạt kim ngạch xuất khẩu khá ấn
tượng. Năm 2012, mặc dù được dự báo nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhưng
ngành dệt may khẳng định rằng sẽ vượt khó để tiếp tục duy trì quán quân trong xuất
khẩu. Năm 2011, ngành dệt may đã thực hiện nhiều biện pháp để vượt qua khó khăn.
Bên cạnh mở rộng thị trường xuất khẩu ngành dệt may đặc biệt chú trọng phát triễn
thị trường nội địa và từng bước thực hiện việc tái cơ cấu, mấy năm trở lại đây ngành

đầu và yếu tố công nghệ đòi hỏi không quá cao, việc thu hồi vốn lại nhanh nên việc
13
phát triển ngành này ở nước ta rất phù hợp, thuận lợi cho thị trường xuất khẩu của
nước ta.
- Nước ta có điều kiện địa lý, nhiều vùng chuyên canh công nghiệp
với quy mô lớn đã và đang được hình thành phù hợp cho những đặc tính của các loại
cây sản xuất nguyên liệu cho ngành như: bông, đay, cói, dâu tằm….Cơ sở hạ tầng
cùng trang thiết bị phục vụ cho ngành dệt may tương đối hiện đại, thường xuyên được
đầu tư, nâng cấp và đổi mới.
- Do nhu cầu mở rộng thị trường xuất khẩu, ngành dệt may đã chú
trọng đến công tác đào tạo đội ngũ lao động lành nghề và đội ngũ cán bộ khoa học,
cán bộ kĩ thuật, nghiên cứu KHCN. Nhờ vậy năng suất lao động của ngành ngày càng
được nâng cao.
- Không những thế nước ta có nguồn lao động dồi dào, khéo léo, cần
cù, chịu khó. Tiền gia công sản phẩm rẻ, chi phí nhân công thấp. Chất lượng các sản
phẩm may mặc của Việt Nam được các nước xuất khẩu đánh giá cao.
- Những điều kiện trên đã giúp cho ngành dệt may ngày càng phát
triển đáp ứng được hầu hết nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra
nước ngoài. Những năm qua kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam ngày
càng tăng và thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng.
- Các doanh nghiệp may đang chú trọng và kế hoạnh đầu tư nâng cao năng lực
thiết kế, năng suất lao động, ứng dụng công nghệ vào sản xuất nhằm lãng phí về
nguyên vật liệu. Trang thiết bị may mặc của ngành đã được đổi mới và hiện đại hóa
đến 90%. Các sản phẩm có chất lượng ngày một tốt hơn, được nhiều thị trường khó
tính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản… chấp nhận. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt
may đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhiều nhà nhập khẩu, nhiều
tập đoàn tiêu thụ lớn trên thế giới. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam cũng được
bạn hàng đánh giá là có lợi thế về chi phí lao động, kỹ năng và tay nghề may tốt. Cuối
cùng Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị và an toàn xã hội có sức hấp
dẫn đối với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài. Bản thân Việt Nam tích

may còn có nhiều hạn chế về cả số lượng và chất lượng. Những nguyên liệu như xơ
PE, xơ Visco, xơ Liber, thuốc nhuộm… cho ngành dệt may hầu hết phải nhập khẩu
từ nước ngoài. Vì nguyên liệu là yếu tố chính trong đầu vào của quá trình sản xuất
nhưng lại phải nhập khẩu từ bên ngoài nên ngành dệt may Việt Nam thường bị rơi vào
tình trạng bị động, thiếu đồng bộ, bị hạn chế về thời gian. Với hình thức phải mua
nguyên liệu bên ngoài bán thành phẩm thì ngành dệt may thu được lợi nhuận rất thấp
và làm giảm tính cạnh tranh của hàng hoá, ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu của
Việt Nam. Không những thế nguyên phụ liệu phục vụ cho ngành may mặc chủ yếu là
từ nguồn nhập khẩu. Trong khi đó, ngành dệt hầu như chưa đáp ứng được đủ yêu cầu
(cả về số lượng và chất lượng) cho ngành may. Nói cách khác, mối liên kết giữa
ngành dệt và ngành may mặc còn chưa thật sự chặt chẽ. Ngành dệt còn mang hơi
hướng thay thế nhập khẩu, nhưng lại chưa đạt hiệu quả và quy mô sản xuất cần thiết.
Trong khi đó, ngành may mặc có tính định hướng xuất khẩu cao, nhưng lại phải dựa
vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.
15
- Mặc dù cơ sở hạ tầng thường xuyên được nâng cấp nhưng so với các
nước khu vực và quốc tế còn lạc hậu và cũ kỹ từ 15 - 20 năm gây cản trở cho việc
nâng cao công suất, chất lượng sản phẩm. Năng lực và thiết bị công nghệ của ngành
mới chỉ huy động được gần 40% công suất, còn lạc hậu và không đồng bộ giữa các
khâu. Do các thiết bị công nghệ của ngành dệt đổi mới được 40 - 50%, trình độ tự
động hoá ở mức trung bình, còn phải cần sự can thiệp của con người nên chất lượng
sản phẩm không ổn định.
- Tuy có lực lượng lao động đông nhưng số lượng công nhân có trình
độ, là bậc thợ cao còn ít, đa số còn thiếu tác phong công nghiệp, tay nghề thấp, đội
ngũ cán bộ còn hạn chế khi tiếp cận với phong cách quản lý hiện đại, kinh nghiệm về
xuất khẩu và nghiên cứu thị trường còn ít nên việc phát triển sản xuất ngành dệt may
có nhiều khó khăn; lượng công nhân lành nghề không đủ, các doanh nghiệp dệt may
hầu hết tuyển người qua các trung tâm môi giới việc làm. Những điều này làm ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển sản xuất kinh doanh của ngành dệt may Việt Nam
trong thị trường xuất khẩu sang các nước khu vực và thế giới trong quá trình hội nhập

Dân số Việt Nam đông sẽ cung cấp một nhu cầu lớn cho ngành dệt may Việt
Nam. Mức sống và thu nhập của người dân ngày càng tăng sẽ khiến cho nhu cầu đối
với các sản phẩm may mặc ngày càng tăng, đặc biệt là các sản phẩm trung và cao cấp.
Hàng may mặc của Việt Nam ngày càng nhận được nhiều sự tín nhiệm của các nước
nhập khẩu (Mỹ, EU, Nhật Bản…) do chất lượng sản phẩm cao nên sẽ có thể mở rộng
hơn thị phần xuất khẩu cũng như tăng giá trị xuất khẩu. Việt Nam trở thành thành
viên của WTO sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế suất khi xuất khẩu hàng may mặc
vào các nước khác.
Ngành may mặc trong thời gian tới được coi là ngành ưu tiên và khuyến khích
phát triển nên sẽ nhận được những nguồn vốn đầu tư lớn cả trong và ngoài nước.
Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển ngành dệt may và ban hành một
số cơ chế chính sách hỗ trợ ngành dệt may tăng tốc để các doang nghiệp dệt may có
cơ hội tung ra thị trường nhiều sản phẩm với chất lượng tốt nhưng giá thành rẻ để đáp
ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời để xuất khẩu ra nước ngoài.
Hiện nay xu hướng chuyển dịch vốn và công nghệ thế giới diễn ra mạnh mẽ.
Xu hướng này sẽ giúp cho ngành dệt may của nước ta phát triển hơn so với trước.
• Thách thức:
Theo các chuyên gia đã khuyến cáo là ngành dệt may cũng gặp những thách
thức không nhỏ. Những biến động bất lợi về giá dầu thế giới, giá lương công nhân có
thể làm tăng giá thành sản xuất của doang nghiệp may. Nếu giá sản phẩm may mặc
của Việt Nam tăng lên và cao hơn các nước khác thì các nước nhập khẩu sẽ chuyển
hướng sang những nước có giá thành rẻ hơn và không nhập khẩu hàng dệt may của
Việt Nam nữa, do đó sẽ làm giảm sút kim ngạch xuất khẩu.
Sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng may mặc Trung Quốc với giá thành rẻ và mẫu
mã đa dạng, phù hợp với nhu cầu của người dân.
Để thu được lợi nhuận cao thì Việt Nma cần phải đầu tư các sản phẩm thiết kế
thời trang để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước cũng như để xuất khẩu.
Các quốc gia nhập khẩu thường có nhứng yêu cầu nghiêm khắc đối với chất
lượng cũng như nguồn gốc của sản phẩm. Trong hồ sơ kèm theo hợp đồng xuất khẩu
hàng sang các nước luôn phải có những yêu cầu chứng minh xem vải được mua ở

tạo ra được những sản phẩm có tính cạnh tranh, chất lượng tốt, giá cả phù hợp cũng
như đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước.
4.1: Kết luận:
Hiện nay muốn trụ vững và phát triển được trên thị trường thì ngành dệt may
phải thực hiện tốt quy luật cung-cầu (quy luật giá trị của sản xuất hàng hóa). Muốn
kinh doanh thành công ngành dệt may thì nhà sản xuất, người sản xuất phải nắm rõ
được nhu cầu của thị trường như khả năng thanh toán số lượng hàng hóa dịch vụ mà
người tiêu dùng muốn mua, chất lượng của sản phẩm, thu nhập của người tiêu dùng
và thị hiếu của đồng tiền… để sản xuất cung cấp ra thị trường những hàng hóa dịch
vụ phù hợp và đem lại lợi nhuận cho mình.
Qua đó ta có thể thấy được ngành dệt may Việt Nam là một ngành công nghiệp
có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nhất là trong giai đoạn công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước. Ngành dệt may là ngành thu hút nhiều lao động, vốn đầu
tư ban đầu không cao và có thể thu hồi vốn nhanh nên việc phát triển ngành này ở
nước ta là rất thích hợp đồng thời phù hợp với đường lối và chính sách đẩy mạnh thị
trường xuất khẩu của Đảng Nhà nước ta.
18
Mặc dù trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới của ngành dệt may còn gặp
nhiều khó khăn, thách thức nhưng ngành dệt may Việt Nam vẫn đứng vững và vượt
qua để đạt được những thành tựu lớn góp phần đáp ứng được nhu cầu của người tiêu
dùng trong và xuất khẩu ra nước ngoài, xứng đáng là ngành công nghiệp mũi nhọn
của đất nước và là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status