TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ:
TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ CỦA SINGAPORE
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình
SVTH: Nhóm 12 (Chiều thứ 2):
Phạm Quế Chi
Nguyễn Thị Thu Huyền
Nguyện Thị Thu Hà
Nguyễn Thị Cẩm Lý
Phạm Thị Cẩm Giang
Chu Thị Hằng
Mai Thị Minh Tâm
Đặng Thảo Trâm
TP.HCM - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
KHOA KINH TẾ - LUẬT
MÔN HỌC: KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
LỜI CẢM ƠN
Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
• Thầy Quan Minh Quốc Bình đã truyền đạt những kiến thức quý báu và hướng dẫn
chúng tôi trong suốt quá trình học tập.
• Các thành viên trong nhóm đã làm việc hết sức để có được kết quả ngày hôm nay.
Nhóm chúng tôi rất mong sẽ nhận được sự góp ý và hướng dẫn để đề tài này ngày một hoàn
thiện hơn.
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 2
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
MỤC LỤC
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 3
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
- GDP danh nghĩa là tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng hoá và dịch
vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành. Sản phẩm sản xuất ra trong thời kỳ nào thì
lấy giá của thời kỳ đó. Do vậy còn gọi là GDP theo giá hiện hành.
= (1)
- GDP thực là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối
cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc do đó còn gọi là GDP theo
giá so sánh.
= (2)
Hình 1: GDP danh nghĩa và GDP thực của Singapore: 1995-2011
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 5
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
Biểu đồ trên cho ta thấy sự biến động GDP danh nghĩa và GDP thực của Singapore
trong giai đoạn 1995-2011. Vì cùng chọn năm 1995 làm năm gốc nên ta thấy GDP danh
nghĩa và GDP thực của năm đó đều bằng nhau và xuất phát cùng một điểm. Từ năm 1995
đến năm 1999, GDP danh nghĩa luôn cao hơn GDP thực, điều này cho ta thấy mức giá
chung của Singapore đang tăng cao hơn so với những năm trước. Đặc biệt năm 1997 khi
cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ ảnh hưởng đến Singapore. Ta thấy GDP danh nghĩa
giảm xuống đáng kể chứng tỏ nền kinh tế sản xuất ra ít sản lượng hơn, giá cũng đã giảm
xuống so với những năm trước. Và GDP thực giảm nhẹ chỉ do sản lượng đã giảm hơn,
còn giá cả thì giữ nguyên năm gốc. Sau cuộc khủng hoảng chính phủ Singapore đã nhanh
chóng tìm niện pháp điều tiết lại nền kinh tế nên như quan sát từ năm 1999 cả GDP danh
nghĩa và GDP thực đều tăng tuy nhiên không đồng đều. Trong giai đoạn 1999-2005, GDP
thực có cao hơn so vơi GDP danh nghĩa tuy nhiên không nhiều. Điều nay cho thấy mức
giá chung của Singapore không những không tăng mà còn giảm hơn so với năm gốc (năm
1995). Từ năm 2006 đến 2011, GDP của Singapore tăng mạnh và sự khác biệt giữa GDP
danh nghĩa, GDP thực ngày càng lớn. Cho thấy hiện tượng lạm phát ở Singapore ngày
càng gia tăng.
- GDP bình quân đầu người của một quốc gia hay lãnh thổ tại một thời điểm nhất
định là giá trị nhận được khi lấy GDP của quốc gia hay lãnh thổ này tại thời điểm
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 7
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
đoạn. Ở đây ta dùng tốc độ tăng trưởng kinh tế để đo lường tăng trưởng kinh tế
của Singapore.
Tốc độ tăng trưởng (%) = ( (3)
Hình 3: Tốc Độ Tăng Trưởng Kinh Tế
Biểu đồ trên cho ta biết tốc độ tăng trưởng kinh tế của Singapore giai đoạn 1995-
2011. Khi đã loại trừ khả năng lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh trung thực
sự thay đổi khả năng và quy mô sản xuất hàng hoá và dịch vụ của Singapore. Nền kinh tế
Singapore chủ yếu phụ thuộc vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân),
những năm đầu thập niên 90, nền kinh tế Singapore đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế vào
loại cao nhất thế giới: năm 1994 đạt 10%, năm 1995 đạt 7,3%. Tuy nhiên từ cuối năm
1997 do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính, đồng đô la Singapore đã bị mất giá,
tốc độ tăng trưởng giảm mạnh từ 8,5% (năm 1996) xuống còn -2,17% (năm 1997). Từ
năm 1999, singapore bắt đầu hồi phục với tốc độ nhanh chóng, năm 1999 là 6.2%, năm
2000 là 9,04%. Năm 2001, sự kiện 11/9 ở Mỹ và sau đó là dịch SARS lan rộng toàn cầu,
kinh tế Singapore bị ảnh hưởng nặng nề. Năm 2001 tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt
được -1,12%, năm 2002 đạt 4,2% và năm 2003 đạt 4,5%. Từ năm 2004, kinh tế Singapore
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 8
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
tăng trưởng mạnh mẽ hơn. Năm 2004 đạt 9,5%, năm 2005 đạt 7,3, năm 2006 đạt 8,6%,
năm 2007 đạt 9,02%. Năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Singapore giảm xuống
còn 1,74% (năm 2008), và -0,8% (năm 2009) do cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra năm
2008. Năm 2010, Singapore có tốc độ tăng trưởng kinh tế là 14,7%, vượt qua Trung Quốc
để trở thành nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới. Năm 2012, tốc đọ
tăng trưởng kinh tế của Singapore là 5,1%, cao hơn mức dự kiến là 4,8% do viễn cảnh
lạm phát tăng cao, tình hình kinh tế không mấy sáng sủa: kinh tế Mỹ hồi phục chậm,
Châu Âu trai qua cuộc khủng hoảng nghiêm trọng do những khó khăn về tài chính của Hy
Lạp, Ailen và một số nước khác.
giá lương thực thực phẩm và cước vận tải, bưu chính viễn thông tăng vọt.
d) Lãi suất
Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả tín dụng – giá cả của quan hệ
vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc dưới dạng tài
sản khác. Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay khoản tiền dôi ra ngoài
số tiền vay vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số vốn đó gọi là lãi suất.
Trong nền kinh tế vĩ mô, lãi suất được coi là một công cụ điều tiết cho vay kinh tế
nhạy bén và hiệu quả; thông qua việc cho thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời
kỳ.
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 10
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của SingaporeHình 5: Lãi Suất.
Năm 1997, Hệ thống ngân hàng ở Singapore chủ trương tăng lãi suất lên 7,44% để
có thể thu hút phần lớn số tiền trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong lưu thông giảm;
cơ số tiền và lượng tiền cung ứng giảm, nhằm kiềm chế lạm phát gia tăng. Tuy nhiên năm
1998, nền kinh tế trong tình trạng suy thoái, đầu tư giảm mạnh, dòng tiền không xoay
vốn, người dân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn. Singapore có chính sách giảm lãi suất
(năm 1998 là 5,83% ) nhằm tăng cung tiền, kích cầu đầu tư, giúp nền kinh tế thoát khỏi
thời kỳ khó khăn. Nhìn chung giai đoạn 1999-2011, lãi suất của Singapore luôn ở mức ổn
định và không cao. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển, mở rộng
quy mô sản xuất, tổng thể nền kinh tế tăng.
e) Tỷ giá hối đoái.
Trong điều kiện của một nền kinh tế mở, việc giao thương buôn bán giữa các nước
ngày càng phổ biến. Việc thanh toán giữa các quốc gia nhất định phải sử dụng tiền tệ của
nước này hay nước khác. Để thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ của các nước, các quốc gia
phải trên tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái được định nghĩa là mức giá mà một đồng tiền trao đổi để lấy một
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 12
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
với người nước ngoài làm sức cạnh tranh hàng hoá với nước ngoài kém. Điều này gây bất
lợi cho xuất khẩu, đặc biệt là với một nước phụ thuộc rất nhiều vào việc xuất khẩu như
Singapore.
f) Tình hình xuất nhập khẩu.
Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự mở rộng của các quan hệ mua bán trong nước và
ngoài nước. Trước đây, khi chưa có quan hệ trao đổi hàng hoá, cá nhân mỗi con người
cũng như mỗi quốc gia đều tự thoả mãn lấy các nhu cầu của mình, lúc đó mọi nhu cầu của
con người cũng như của quốc gia bị hạn chế. Quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá xuất
hiện khi có sự ra đời cuả quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá, sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất. Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và tác động của
những quy luật kinh tế khách quan, phạm vi chuyên môn hóa và phân công lao động xã
hội ngày càng rộng, nó vượt ra khỏi một nước và hình thành nên các mối quan hệ giao
dịch quốc tế. Chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế càng sâu sắc, các mối quan
hệ quốc tế càng được mở rộng, các nước càng có sự phụ thuộc lẫn nhau và hình thành các
mối quan hệ buôn bán với nhau.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước
ra nước ngoài.
Ngược lại với xuất khẩu, nhập khẩu là hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ từ
nước ngoài.
Xuất khẩu ròng (hay cán cân thương mại) là mức chênh lệch giữa kinh ngạch xuất
khẩu và nhập khẩu. NX = X – M.
Singapore là một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động xuất nhập khẩu. Do đó
Singapore được xem là trung tâm xuất nhập khẩu hoạt động theo phương thức: mua sản
phẩm thô, tinh luyện và xuất khẩu trở lại. Theo tổng cục thống kê Singapore, từ năm 1964
đến năm 2013, nhập khẩu của Singapore trung bình là 11.945.996,5 nghìn SGD, đạt mức
cao nhất là 43.135.700,0 nghìn SGD vào 7/2013 và mức cao nhất là 266.3811,0 SGD vào
7/1964. Nhập khẩu chính của Singapore là: nhiên liệu (33%), linh kiện điện tử (25%),
Singapore phụ thuộc chặt chẽ vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới; đặc biệt là
các bạn hàng lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, , điều này đồng nghĩa với việc Singapore
phải chịu chung số phận, chịu chung bước thăng trầm của những nền kinh tế này.
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 14
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
2. Các chính sách vĩ mô.
a) Tốc độ tăng cung tiền.
Cung ứng tiền tệ, gọi tắt là cung tiền, chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh
tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản, v.v của các cá nhân (hộ gia
đình) và doanh nghiệp.
Chính sách tiền tệ quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng
trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định
tỷ giá hối đoái, đạt được những toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế.
Tốc độ tăng cung tiền và lạm phát có mối liên hệ chặt chẽ và gắn bó lẫn nhau:
• Trong các tình huống kinh tế bình thường, nếu cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng
thực tế sẽ gây ra lạm phát.
• Trong nền kinh tế khủng hoảng (gặp bẫy thanh khoản - thuyết kinh tế học Keynes),
mối tương quan "bị phá vỡ" bởi một sự suy giảm của tốc độ chu chuyển tiền tệ. Điều
đó giải thích tại sao trong nền kinh tế suy thoái các NHTW có thể tăng cung tiền mà
không gây lạm phát. Điều này đã xảy ra ở Mỹ trong giai đoạn 2008-2011 khi mà tăng
mạnh cung tiền không gây lạm phát.
• Tuy vậy, khi nền kinh tế phục hồi trở lại và tốc độ chu chuyển tiền tăng lên, tăng cung
tiền có nhiều khả năng sẽ gây ra lạm phát.
Hình 8: Cung Tiền
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 15
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
Nhìn chung tốc độ tăng cung tiền của Singapore không cao và khá ổn định. Nguyên
nhân là do tỷ lệ lạm phát của Singapore luôn được duy trì ở mức thấp (<10%).Trong đó
Cán cân thanh toán là một công cụ rất quan trọng trong việc quản lý kinh tế vĩ mô.
Thông qua cán cân thanh toán, chính phủ có thể đối chiếu giữa những khoản tiền thực tế
thu được từ nước ngoài với khoản tiền thực tế mà nước đó chi ra cho nước ngoài, Từ đó,
đưa ra các quyết sách về điều hành kinh tế vĩ mô như chính sách tỷ giá, chính sách xuất
nhập khẩu. Ngoài ra, cán cân thanh toán còn là công cụ đánh giá tiềm năng kinh tế của
một đất nước.
a Tài khoản vãng lai.
Tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán của một quốc gia ghi chép những giao
dịch về hàng hoá và dịch vụ giữa người cư trú trong nước với người cư trú ở nước ngoài.
Hình 10: Tài Khoản Vãng Lai.
Giai đoạn 2005-2011, tài vãng lai của Singapore luôn thặng dư. Mặc dù trong giai
đoạn này, nền kinh tế thế giới cũng như nên kinh tế Singapore có nhiều biến động nhưng
tài khoản vãng lai của Singapore vẫn thặng dư. Điều nay có nghĩa là thu nhập từ nước
ngoài của Singapore lớn hơn mức chi tiêu trả cho phía nước ngoài. Năm 2005 cán cân
vãng lai thặng dư ở mức là: 26869422719 USD. Đến năm 2007, tăng lên mức
46347570005 USD. Năm 2008, cả thế giới chao đảo vì cuộc khủng hoảng tài chính xuất
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 17
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
phát từ Mỹ và lan rộng khắp thế giới, Singapore cũng vì thế mà bị ảnh hưởng theo. Năm
2008, cán cân vãng lai giảm xuống ở mức: 28838313309 USD, giảm 37,7% so với năm
trước đó nhưng vẫn có mức thặng dư cao hơn năm 2005. Sau năm 2008, khi nền kinh tế
Singapore dần hồi phục, mức thặng dư đã tăng dần, năm 2009 thặng dư đạt: 33482026376
USD, năm 2010 đạt 62025510173 USD và năm 2011, tăng lên mức là 65323005068
USD.
c) Tài khoản vốn.
Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn) là một bộ phận của cán cân thanh toán của
một quốc gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động
sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú trong nước với
người cư trú ở quốc gia khác. Khi những tuyên bố về tài sản nước ngoài của người sống
trở lại. Năm 2009, mức đầu tư đạt: 24939245829 USD, năm 2010 đạt 53622774583 USD
và năm 2011 là 55922840687 USD. Điều này chứng tỏ Singapore vẫn luôn là thị trường
tiềm năng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 19
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu tình hình kinh tế vĩ mô của Singapore, chúng ta hiểu rõ về
tình hình kinh tế và những chính sách kinh tế vĩ mô của Singapore. Là một đất nước vốn
không có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên nhưng chính phủ Singapore luôn đưa ra những
chính sách phát triển kinh tế để cho phù hợp với hoàn cảnh của mình. Bằng việc chuyển
đổi sang nền kinh tế tri thức, chú trọng việc buôn bán giao thương với các nước trên thế
giới, áp dụng những chính sách mậu dịch thương mại mở rộng; điều này đã tạo ra một
trường kinh doanh lành mạnh và thuận lợi cho các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, là
một điểm sáng về kinh tế vô cùng hấp dẫn trên bản đồ thế giới. Singapore cũng đang thực
hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới,
một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và châu Á và một nền kinh tế
đa dạng nhạy cảm kinh doanh. Singapore một lần nữa khẳng định với bạn bè thế giới
rằng: “chúng tôi phải cho thế giới biết đến sự tồn tại của chúng tôi trên bản đồ chứ không
phải là một dấu chấm mờ nhạt khó tìm.”
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 20
Đề tài: Phân Tích Tình Hình Kinh Tế Vĩ Mô Của Singapore
GVHD: Th.s Quan Minh Quốc Bình.
Nhóm 12 - Lớp KTVM Buổi Chiều. Page 21