tiểu luận lịch sử văn hóa việt nam - Pdf 24

PHẦN I.SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN TRÚC VIỆT
NAM
Thế kỉ Triều đại Đặc điểm lịch sử Loại hình kiến trúc Công trình tiêu biểu
I-VI Thời kì Bắc Thuộc Thành quách, mộ táng,
Dinh lũy, nhà ở dân gian
Thành Luy Lâu
VI-IX Thời kì đấu tranh của nhân dân chống chế độ Bắc thuộc Kiến trúc Phật giáo_Chùa Chùa thấp Luy Lâu
X-XII Ngô
Đinh
Tiền Lê

XII-XIV Trần
Hồ
Thời kì nhà nước phong kiến tiếp tục cũng cố
nền độc lập tự chủ
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Nguyên-Minh
Thành quách
Cung điện
Chùa tháp
Thành nhà Hồ
Chùa và tháp Phổ Minh
Chùa Dâu
XV-XVII Hậu Lê Thời kì nhà nược phong kiến thịnh vượng và
từ thịnh vượng chuyển sang suy yếu
Thời kì nội chiến Trịnh Nguyễn
Cung điện
Lăng mộ
Chùa tháp
Đình
Chùa Bút Tháp

từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” (1)PHẦN 1
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những kiến trúc truyền thống với những nét đặc trưng riêng của mình.
Nét đặc trưng đó được thể hiện trong bố cục không gian kiến trúc, trong việc sử dụng vật liệu đệ tạo nên
công trình kiến trúc với trình độ khoa học, tư duy thẩm mỹ; bằng công cụ và bàn tay khéo léo của mình.
Những nét đặc trưng đó toát lên từ tỷ lệ hình khối, kết cấu đến các thành phần chi tiết, các hoa văn trang
trí, mầu sắc nội ngoại thất công trình. Và chính từ những yếu tố đó, công trình trở thành tiêu biểu, dấu ấn
của thời đại, phản ánh các đặc thù về kinh tế, chính trị xã hội… của dân tộc theo từng giai đoạn phát
triển của lịch sử xã hội.
Sự hình thành bản sắc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam
Cùng với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, mầm mống của sự tạo ra các không gian ở của con
người có thể nói cũng đã bắt đầu từ 4000 năm nay và lịch sử kiến trúc Việt Nam được tính từ thời kỳ
khởi dựng đất nước, thời kỳ Vua Hùng (trước 207 trước công nguyên) với nền văn hóa Văn Lang – Âu
Lạc, hay còn gọi là nền văn minh lúa nước, với trình độ kỹ thuật đúc đồng nổi tiếng – thời kỳ văn hóa
Đông Sơn.
Thời kỳ này, qua các di tích khảo cổ, đặc biệt là trên mặt trống đồng Ngọc Lũ còn ghi lại nét sinh hoạt
thời xưa và những kiểu loại nhà sàn. Đó là những kiến trúc truyền thống lâu đời, phù hợp với môi
trường thiên nhiên của đất nước, phù hợp với khí hậu vùng nhiệt đới nóng ẩm.
Tiếp theo là thời Bắc thuộc (từ 207 đến 906 trước công nguyên). Hàng nghìn năm dưới ách thống trị của
phong kiến Trung Hoa, với âm mưu đồng hóa và ấp đặt; song nền văn hóa dân tộc Việt Nam vẫn trường
tồn chắc chắn đã có sự đổi mới để phát triển. Những di sản kiến trúc trên mặt đất từ thế kỳ x trở về trước
đến nay không còn; chỉ còn lại một số di tích dưới long đất. Đó là những ngôi mộ thời Hán, các di tích
khảo cổ này nói lên kỹ thuật xây dựng cổ truyền Hán Việt trên đất việt nam thể hiện qua những viên
gạch nung có hoa văn xây trong mộ cổ, cũng như kỹ thuật xây mộ.
Dấu ấn rõ nét nhất của nền kiến trúc cổ Việt Nam còn để lại cho đến ngày nay phải kể từ đời Lý (XI –
XVI), Trần (XIII – XIV), Hồ (XV), Lê (XV – XVI), Tây Sơn (XVIII), Nguyễn (XIX). Trong đó, các di
sản kiến trúc tô giáo tính ngưỡng khởi dựng từ đời Lý, Trần đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn trùng tu
tôn tạo và hầu như không còn đúng với trạng thái ban đầu. Ngay các di tích thời Nguyễn gần đây nhất,
trải qua trên 100 năm với những biến động lịch sử, do chiến tranh, khí hậu nóng ẩm, do sự xuống cấp,
nhiều công trình và tổng thể công trình cũng trong trình trạng không còn nguyên vẹn, Song thể loại còn
lại cũng đa dạng phong phúhơn là ở các triều đại khác.

- Kiến trúc Khơ – me tiêu biểu của miền Đông Nam Bộ, kiến trúc đồng bào các dân tộc Tây nguyên tiêu
biểu cho khu vực miền Nam Trung Bộ.
- Kiến trúc Mường tiêu biểu cho vùng Hòa Bình, kiến trúc Thái vùng núi Tây Bắc Bắc Bộ và kiến trúc
đồng bào Tày Nùng tiêu biểu cjo vùng Đông Bắc…
Kiến trúc dân tộc Kinh tiêu biểu cho cả nước vời các bản sắc sau:
4
1. Kiến trúc có ý đồ bố cục, có tính biểu tượng, ẩn dụ, hàm súc, có hình tượng nghệ thuật, từ nội dụng
đến hình thái chứa đựng tính triết lý ( triết học phuơng Đông) nghệ thuật thâm trầm, tế nhị, kín đáo
nhưng sâu lắng và thâm thúy trí tuệ.
2. Kiến trúc xinh xắn, dàn trải, gắn bó, hài hòa với thiên nhiên, không gian và hình khối kiến trúc như
là một yếu tố hữu cơ của cảnh quan thiên nhiên. (Tháp chùa Phật tuy nhiều tầng nhưng cũng bé nhỏ,
điểm xuyết cho không gian).
3. Không gian sử dụng linh hoạt, đa năng, dể dàng biến đổi thích ứng cho các điều kiện sinh hoạt, hoạt
động trong không gian kiến trúc. Có sự kết hợp khéo léo 3 loại không gian: không gian kín, không gian
bán kín, bán hở, và không gian hở.
4. Tỷ lệ không gian rất gần gũi, gắn bó với hoạt động của con người. Tỷ lệ giửa các bộ phận công trình
hài hòa, thống nhất.
5. Kiến trúc sử dụng điêu khắc, chạm khắc màu sắc như một yếu tố phụ trợtích cực tăng tính nghệ
thuật cho ông trình, mặt khác là phương tiện diển đạt ý nghĩa biểu trưng, cái thần của công trình, như sử
dụng các hoa văn ( động vật quý, cây cối hoa lá…) đầy ý nghĩa tượng trưng
6. Tính hợp lý của kết cấu, tính đơn giản, thống nhất tính điển hình và tính tiêu chuẩn thấy rõ trong bộ
khung gỗchịu lực của công trình.
7. Về ngoại hình của kiến trúc truyền thống Việt nam đầu là loại có mái dốc thẳng – đấu dốc mái có
loại uốn cong với các trang trí trên dốc mái, trên góc mái phong phú – có loại hai đầu hồi thẳng mái che
cho than nhà – than nhà là hệ cột khung với hang hiên.
2.Đặc điểm kiến trúc Việt Nam thời cổ đại và trung cổ(từ thế kỷ 18 trở về trước)
Ở thời kỳ này, kiến trúc chủ đạo là nhà ở dân gian, chùa chiền, cung điện, thành quách , chiến lũy……
tuy được xây dựng công phu, hoành tráng nhưng những gì còn lại vào thời điểm này là rất ít và đang có
nguy cơ bị hủy hoại.
Đặc điểm của loại hình kiến trúc này là hết sức xa hoa, tráng lệ, tiêu tốn rất nhiều tiền của nhưng tồn tại

phục được những bất lợi của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm đã được phát triển, tạo ra những bản sắc mới
trong kiến trúc ở Việt Nam vào những thập kỷ 30-40, đó là khuynh hướng “kiến trúc Đông Dương”. Nét
đặc biệt của các công trình này là việc sử dụng các hệ mái với con sơn đỡ mái để che nóc nhà, nhà có
tầng hầm để thong thoáng chống ẩm, sử dụng cửa 2 lớp: kính, chớp… phóng áp mái có trần nhà, không
gian dưới mái chỉ là để chống nóng có cửa thoát khí… Tất cả những khía cạnh nêu trên bắt nguồn từ các
nhà dân gian truyền thống cùng kết hợp với các kinh nghiệm chống nắng nóng trong kiến trúc của các
nước.
Tỷ lệ không gian kiến trúc công trình đáp ứng nhu cầu sử dụng tốt độ cao phòng vừa đủ đảm bảovề khối
tích không khí, đảm bảo thoáng mát, đảm bảo thẩm mỹ. Xử lý kiến trúc mặt đứng trên nguyên tắc của
phong cách kiến trúc Tân cổ điển Châu Âu. Song sự xuất hiện các yếu tố thông hơi thoáng gió ở trên,
dưới cửa sổ, cái mái hiên che, cùng các ban công, lô gia, sử dụng các hoa văn trang trí dân tộc… đó
chính là tạo ra những truyền thống mới, bản sắc mới.
4.Đặc điểm của kiến trúc Việt Nam thời hiện đại từ 1945 đến nay.
Trong giai đoạn này kiến trúc Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển của những truyền thống kiến trúc ở giai
đoạn trước, nhưng sự thể hiện ở 2 miền có khác nhau.
Ở phía Bắc, do chính sách tiết kiệm; tiêu chuẩn trong kiến trúc xây dựng có hạn hẹp đã phần nào ảnh
hướng đến khai thác đặc trưng và tìm tòi sáng tạo trong mọi lĩnh vực tạo ra những tiện nghi thuận lợi
nhất cho môi trường sống, làm việc.
6
Kiến trúc thực hiện theo phương châm “thích dụng, bền vững, kinh tế, mỹ quan trong điều kiện có thể”.
Song thích dụng ở đây cũng chỉ đạt tới mức tối thiểu và mỹ quan thực sự chưa được chú trọng – bệnh sơ
lược nghèo nàn trong hình thức và đơn điệu tổng thể là điều không thể tránh khỏi. Chủ nghĩa tập thể
được đề cao trong kiến trúc, không có khái niệm nhà ổ chuột trong những đô thị phía Bắc trước 1975.
Ở phía Nam – kiến trúc kế thừa phát huy được các giá trị sẳn có từ trước – hình thức kiến trúc nhanh
nhẹ, chú trọng trang trí nội ngoại thất, các biện pháp chắn nắng, thông thoáng – kiến trúc theo phong
cách hiện đại chung chung là đặc trưng; chủ nghĩa cá nhân, tính muôn hình muôn vẻ được thể hiện trong
kiến trúc – sự tương phản về kiến trúc trong đô thị thấy rõ rệt: Đó là những khu nhà ổ chuột của dân
nghèo, dân di cư, dọc các kênh, mương, với các nhà lầu, dinh thự của các tầng lớp giầu có trong đô thị
(trước 1975).5.
5.Đặc điểm kiến trúc Việt Nam từ 1980 đến nay – Bước đầu của sự hòa nhập quốc tế:

PHẦN 2: CÁC KHÁI NIỆM
Kiến trúc dưới con mắt của những người hâm mộ đang nôn nóng tìm hiểu, khám phá chắc hẳn lấp lánh
như một hình ảnh tươi đẹp đầy hấp dẫn, mới lạ. Ở trước mọi ngưỡng cửa, bao giờ người ta cũng thường
ngỡ ngàng với những điều hãy còn mới lạ. Sự lạ lẫm buổi đầu luôn có một sự hấp dẫn đặc biệt và
thường để lại trong ta những ấn tượng khó phai. Kiến trúc thật sự vẫn còn là một đại dương mênh mông
bao la và sâu thẳm.
Một số định nghĩa về Kiến trúc, kiến trúc cổ
I.KIẾN TRÚC
• là một lĩnh vực hoạt động sáng tạo đặc biệt và khá phức tạp của con người, nó bao hàm nhiều
khái niệm : Nghệ thuật, kỹ thuật, xã hội, kinh tế và luôn vận động theo sự biến đổi của thời
đại.Nó là nghệ thuật mang tính tổng hợp, phức tạp. Nó sử dụng những phạm trù không chỉ của
loại hình nghệ thuật anh em mà cả những phạm trù của khoa học, kỹ thuật và kinh tế, nhằm phục
vụ đối tượng con người với cuộc sống đa dạng của họ trong toàn xã hội.
• là Nghệ thuật tổ chức môi trường sống, là thế giới vật chất bao quanh con người, là không gian
có tổ chức đạo diễn quá trình sống, là nghệ thuật làm biến đổi môi trường tự nhiên thành môi
trường lý tưởng cho con người, bẵng cách sử dụng các công trình xây dựng, công trình kiến trúc
sao cho hài hòa với cảnh quanh thiên nhiên và đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu vật chất
và tinh thần ngày càng cao của con người.
II.KIẾN TRÚC CỔ
Cũng xuất phát từ định nghĩa về kiến trúc như(Nghệ thuật, kỹ thuật, xã hội, kinh tế, tổ chức môi trường
sống…) nhưng kiến trúc cổ còn là những thứ mà từ xưa ông cha ta đã thiết kế, xây dựng từ ngàn xưa,
nó chứa đựng tinh hoa quý giá về kỹ thuật, con người, văn hóa, nó minh chứng cho khát vọng sáng tạo,
sống, hy sinh chiến đấu cho 1 thời kỳ lịch sử oai hung của dân tộc Việt Nam.
Quá trình phát triển nền kiến trúc cổ Việt Nam gắn liền với môi trường thiên nhiên và hoàn cảnh kinh tế
- xã hội. Những công trình kiến trúc cổ hầu hết được xây dựng trong thời kỳ phong kiến - chủ yếu là
trước thế kỷ 19. Dù là công trình nhỏ bé như kiến trúc dân gian hoặc đồ sộ, phức tạp như kiến trúc cung
đình, vật liệu xây dựng sẵn có ở địa phương đã được khai thác và sử dụng phổ biến và rộng
khắp: tranh, tre, nứa, lá, gỗ, đá , sau này còn có các vật liệu khác như gạch, ngói, sành, sứ Hệ thống
kết cấu khung cột, vì kèo và các loại xà đều có quy định thống nhất về kích thước, tương quan về tỷ lệ
và qua đó, những nghệ nhân trước đây đã sáng tạo ra một thức kiến trúc riêng biệt trong kiến trúc cổ và

Trải qua gần 100 năm với bao biến động lịch sử, khí hậu khắc nghiệt và thời gian tàn phá, một số lớn -
trên 80% - cung điện dinh thự Hoàng cung nhà Nguyễn đã bị hủy hoại. Đây là một con số không nhỏ,
ảnh hưởng sâu sắc đến quy mô di sản kiến trúc cổ của Việt Nam ngày nay
Kiến trúc cung điện - dinh thự là kiến trúc tiêu biểu và điển hình của các triều đại phong kiến Việt Nam.
Loại hình kiến trúc này huy động tập trung được cao độ vật tư và tài lực của cả nước hoặc một địa
phương, thể hiện sự giàu có và quyền lực trong từng giai đoạn của từng hoàng đế trị vì. Có thể nói đây là
loại hình kiến trúc phong kiến quy mô nhất trong các loại hình kiến trúc thời phong kiến, mà di sản còn
được gìn giữ lại cho đến ngày nay
3. Kiến trúc tôn giáo - tín ngưỡng :
+Chùa: tiêu biểu là Chùa trăm gian: Chùa được lập từ đời Lý Cao Tông nhà Lý, niên hiệu Trinh Phù thứ
10, 1185. Đến thời nhà Trần, có hòa thượng Bình An, quê ở Bối Khê tu ở đây, tương truyền là người có
nhiều phép lạ. ( nay ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội)
9
Chùa Trăm Gian là một quần thể kiến trúc độc đáo. Theo cách tính cứ 4 góc cột là một "gian" thì chùa
có cả thảy 104 gian, chia thành 3 cụm kiến trúc chính:
-Cụm thứ nhất gồm 4 cột trụ và 2 quán, trước đây là nơi đánh cờ người trong ngày hội, tiếp đó là
nhà Giá Ngự nhìn ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để xem trò múa rối nước.
-cụm thứ hai gồm một toà gác chuông 2 tầng mái, có lan can chạy quây 4 mặt. Các ván bằng đều có
chạm hình mây hoa. Tại đây treo một quả chuông cao 1,10 m, đường kính 0,6 m, đúc năm Cảnh
Thịnh thứ hai, 1794. Trên chuông có khắc một bài minh của Phạm Huy Ích. Qua gác chuông, leo 25 bậc
đá xanh hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập đá hình chữ nhật.
- cụm thứ 3 đó là chùa chính, gồm nhà bái đường, toà thiêu hương và thượng điện. Hai bên là 2
dãy hành lang. Trong cùng là nhà tổ, giữ lại có lầu trống bên trong treo một cỗ trống lớn, đường kính 1
m và một tấm khánh đồng dài 1,20 m, cao 0,60 m đúc năm 1749, Cảnh Hưng thứ 10 . Ở giữa thượng
điện có một bệ bằng đất nung đỏ hình khối chữ nhật, giống kiểu các bệ đá thời nhà Trần. Trên bệ đá là
đài sen, xung quanh trang trí nhiều hình động vật và hoa lá, bón góc có hình chim thần. Trên bệ đặt các
tượng Phật tam thế. Trong chùa còn có nhiều bia, hoành phi, câu đối Riêng có hai câu đối khảm trai,
tương truyền có từ thời nhà Hồ (1400-1406).
Điều đáng buồn là: Chùa Trăm gian đã nhiền lần được trùng tu, tôn tạo theo những cách thức phá hỏng
di tích như sơn lại tranh tượng quý bằng sơn công nghiệp; làm mới bệ tượng, bàn thờ bằng ximăng, gạch

(工), chữ Môn (門). không gian chủ yếu vẫn là tòa đại đình (đại bái),
Đại đình bao giờ cũng là tòa nhà lớn nhất trong quần thể, bề thế, trang trọng. Đại đình ở các đình cổ
thường có sàn lát ván, cao từ 60 đến 80cm, chia làm ba cốt cao độ, là sự phân chia thứ bậc cho những
người ngồi ở Đại đình.
Đình làng không những có giá trị về mặt kiến trúc cao, là kiến túc thuần Việt nhất của dân tộc, mà còn là
kho tàng hết sức giá trị về mặt điêu khắc dân gian. Đây là thế giới cho nền nghệ thuật điêu khắc dân gian
phát triển mạnh mẽ. Trên các vì kèo, tất cả các đầu bẩy, đầu dư, đố, xà kẻ, ván gió, ván nong (dong) là
nơi các nghệ sĩ điêu khắc dân gian chạm khắc các đề tài tái hiện cuộc sống và lao động của con người,
cảnh sắc thiên nhiên giàu tính dân gian và phong phú, sinh động. Chính vì vậy, các điêu khắc đình làng
còn có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu về cuộc sống vật chất, tinh thần của người Việt Nam trước
đây. Nó có giá trị lịch sử sâu sắc.
4. Kiến trúc dân gian
+ Nhà ở dân gian: Nhà ở dân gian đã trải qua một quá trình chuyển biến từ nhà sàn đến nhà nền đất.
Nhà nền đất vùng xuôi có kết cấu khung tre hay gỗ, thường làm vách và lợp bằng tranh, rạ hay lá dừa
nước; nếu là kết cấu khung gỗ loại tốt lại thường được lợp bằng ngói, tường bao quanh bằng gạch với vì
kèo gỗ. Khuôn viên nhà bao gồm: nhà chính, nhà phụ (nhà ngang, nhà bếp) và chuồng gia súc cùng sân,
vườn, ao, giếng hoặc bể nước và hàng rào, tường vây quanh, cổng ngõ. Nhà chính thường có số gian lẻ
(1, 3 hay 5) cùng với 1 hoặc 2 chái. Nhà chính thường quay về hướng nam, hướng này có thể đón ánh
nắng khi trời lạnh, đón được gió mát để giải nồng. Phía trước thường trồng cây có tán cao đề làm cảnh,
đón gió tốt. Phía sau, trồng cây bụi để ngăn gió lạnh.
+Cổng làng: Làng xóm Việt Nam được bao bọc bới lũy tre và cổng làng chính là cửa ngõ của làng xóm.
Vật liệu xây dựng của cổng làng thường là gạch, gỗ, ngói, đá ong, Những cổng làng có quy mô thường
có cửa đóng then cài và bảo vệ nghiêm ngặt, kết hợp với lũy tre làm thành pháo đài kiên cố chống lại
giặc giã, cướp bóc hay ngoại xâm
5. Kiến trúc vườn cảnh
Vườn cảnh là nghệ thuật tạo hình mô phỏng thiên nhiên trong một không gian giới hạn, làm nền tạo
cảnh tôn cao giá trị công trình chính hoặc quần thể công trình. Vườn cảnh của Việt Nam chịu ảnh hưởng
của vườn cảnh Á Đông, có nhiều nét tương tự vườn cảnh Trung Quốc và Nhật Bản, thường gồm 3 thành
phần: mặt nước, cây xanh và đá núi nhỏ.
Vườn cảnh Việt Nam không nổi tiếng như vườn Nhật, vườn Trung Hoa do không có những nét đặc

người Việt Nam gắn liền với môi trường sông nước.
Những người sống bằng nghề sông nước (chài lưới, chở đò, ) thường lấy ngay thuyền, bè làm nhà ở :
đó là các nhà thuyền, nhà bè; nhiều gia đình quần tụ lập nên các xóm chài, làng chài. Đây là lời của JB
Tavernier viết năm 1909 : "Họ (người Việt Nam) rất thích ở nước, thích ở trên nước hơn là trên cạn.
Cho nên phần nhiều sông ngòi thì đầy thuyền. Những thuyền đó thay cho nhà cửa của họ. Thuyền rất
sạch sẽ ngay cả khi họ nuôi gia súc ở trong đó"
2.Nhà sàn-Nền tảng kiến trúc cổ:
Nhiều người tuy không sinh kế trực tiếp bằng nghề sông nước nhưng cũng thích làm nhà sàn
trên mặt nước để đối phó với ngập lụt quanh năm. Dưới con mất của Finlayson, một nhà ngoại giao
người Anh thì Sài Gòn đầu tk. XIX có "nhiều nhà cao cẳng, sàn bằng ván, xếp hàng dọc theo bờ kênh,
bờ sông hay dọc theo đường cái rộng thoáng đãng. Phố xá ngang hàng thẳng lối hơn ở nhiều kinh thành
châu Âu". Nhà sàn chính là kiểu nhà rất phổ biến ở Việt Nam từ thời Đông Sơn, nó thích hợp cho cả
miền sông nước lẫn miền núi. Nó không chỉ có tác dụng đối phó với (a) môi trường sông nước ngập lụt
quanh năm mà còn có tác dụng đối phó với (b) thời tiết mưa nhiều gây lũ rừng ở miền núi và ngập lụt
định kỳ ở vùng thấp, (c) khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao, và (d) hạn chế và ngăn cản côn trùng, thú dữ
(ruồi muỗi, sâu bọ, rắn rết, cá sấu, hổ báo ) Ngày nay, nhà ở những vùng hay ngập nước (như đồng
bằng sông Cửu Long) và các nhà kho (nơi phải đối phó với độ ẩm) vẫn duy trì kiến trúc nhà sàn. Vào tk.
XVII, nhiều ngôi đình như đình Đình Bảng (Hà Bắc), đình Chu Quyến (Hà Tây), v.v. vẫn làm theo lối
nhà sàn.
3.Đặc điểm của kiến trúc cổ:
+Kỉ niệm về cuộc sống gắn bó với thiên nhiên sông nước mạnh đến mức những ngôi nhà
của người Việt Nam đã được làm với chiếc mái cong mô phỏng theo hình thuyền. Người ta quen cho
rằng đặc điểm này là vay mượn của kiến trúc Trung Hoa trong khi thực ra là ngược lại. Nhà sàn Việt
Nam từ thời Đông Sơn (chưa hề giao lưu với Trung Hoa) đã có mái cong rồi. Các dấu tích còn lưu lại
qua hình khắc trên trống đồng và trong lòng đất cho thấy rõ điều này. Nhà rông Tây Nguyên đến giờ vẫn
làm theo kiểu mái cong tuy rằng cũng không hề có giao lưu với Trung Hoa. Tháp Chàm cũng có loại
13
mái cong trong khi đó, nhà Trung Hoa thời Hán mái vẫn thằng đến cuối đời Đường, lối làm nhà mái
cong mới thâm nhập dần từ Nam lên Bắc. Thậm chí Cố Cung ở Bắc Kinh được xây dựng vào thời Minh
mà mái mới chỉ hơi cong nhẹ.

dụng hướng Nam này để chống nóng và chống rét : phần lớn hang động Hòa Bình có người ở đều quay
về hướng Nam hoặc Đông Nam. Không một hang có người ở nào lại có cửa quay về hướng bắc. Các tòa
thành có nhiều cửa mở ra bốn phía thì cửa chính bao giờ cũng là cửa phía Nam (Ngọ Môn của kinh
thành Huế có nghĩa là cửa phía Nam, "ngọ" là phương Nam theo trục tư ngọ trên la bàn của thầy địa lý).
14
• Nhà nhìn về hướng Nam cho nên cây đòn nóc nằm theo hướng đông-tây. Theo truyền thống văn
hóa nông nghiệp trọng bên trái, người ta quy ước đặt gốc cây đòn nóc ở phía Đông (phía Đông
bên trái ) cho nên đòn nóc còn có tên gọi là đòn đông, nhiều nơi dọc chệch thành đòn dông.
Cũng do truyền thống trọng bên trái, bàn thờ Thổ công (ông Táo) - vị thần quan trọng nhất, cai
quản cái bếp, cái nhà - được đặt ở gian bên trái; bài vị của ông vì thế được ghi là Trù tư mệnh
Táo phủ thần quân.
• Cả cái bếp cũng được đặt bên trái (phía Đông), biệt lập và vuông góc với nhà chính, nhìn về
hướng lây. Tại sao bếp lại nhìn về hướng Tây? Kinh nghiệm dân gian cho rằng nếu bếp làm
không đúng hướng thì gia đình sẽ lục đục và hay sinh hỏa hoạn. Đó là do chức năng đặc biệt của
bếp là nấu nướng: bếp nhìn về hướng Tây sẽ tránh được ngọn gió thường xuyên thổi từ phía biển
(hướng Nam và Đông); trong trường hợp ngược lại. ngọn lửa sẽ bị gió tạt về phía vách gây cháy
nhà, chí ít là cơm chẳng lành canh chẳng ngọt (như thế thì làm gì mà gia đình không sinh lục
đục!).
• Nhưng nếu chỉ chọn hướng một cách giản đơn thì nhiều khi không giải quyết được vấn đề. Bởi lẽ
tùy thuộc vào địa hình địa vật xung quanh, vào sự có mặt của núi, của sông, của con đường.v.v.
mà ảnh hưởng của gió, nắng sẽ khác nhau. (cho nên ngoài việc chọn hướng, còn phải chọn
nơi, chọn chỗ: (chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở).
+ Để giải quyết vấn đề một cách triệt để hơn, ở một mức độ cao hơn, truyền thông văn hóa
phương Nam đã hình thành nên cả một nghề Chọn đất để làm nhà, đặt mộ, gọi là nghề phong
thủy. Nghề phong thuỷ bắt nguồn từ những nhu cầu tinh tế trong quá trình sống định cư và những kinh
nghiệm lao động phong phú của người nông nghiệp. Đất làm nhà gọi là dương cơ, đất đặt mộ gọi là âm
phần; dương cơ được coi trọng hơn âm phần (nhất dương thắng thập âm), song trên thực tế thì người ta
chỉ chú trọng đến đất dương cơ khi lập đình chùa, đặt đô thị, còn nhà thường dân thì chủ yếu chỉ chọn
hướng mà thôi; nhưng âm phần thì thường nhờ thầy địa lí đi tìm đất rất cẩn thận.
• Họ lại lấy đồ đựng nước đem thả con cá vào nuôi.rồi chôn xuống đất vài năm, hễ cá sống là đất

Các kinh đô khi xưa đều là những địa điểm được chọn theo con mắt phong thủy. Trong Chiếu dời đô, Lí
Công Uẩn miêu tả vị trí thành Đại La - mà rồi sẽ được đổi tên là Thăng Long như sau "Thành Đại La ở
vào nơi trung tâm Trời Đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện
hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn
khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng
địa". Thành Huế ở trung tâm đất nước, nhìn rộng thì có biển đằng tờớc, núi đằng sau; nhìn hẹp thì có
núi Ngự Bình ở phía trước làm án, sông Hương chảy lững lờ bao quanh, trên sông ở hai đầu có hai cồn
đất như hai hòn đảo chầu vào - cồn Dã Viên ở bên phải là Bạch Hổ. Cồn Hến ở bên trái lớn hơn là
Thanh Long, đoạn sông nằm giữa hai cồn đất ấy chính là Minh Đường. Con mắt phong thủy đã giúp tìm
cho các đó thị những địa thế có núi có sông, có âm dương hòa hợp, tạo nên một môi trường thiên nhiên
trong sạch và lành mạnh : Thăng Long có sông Nhị núi Nùng; Huế có sông Hương núi Ngự; Vinh có
sông Lam núi Hồng Lĩnh; Đà Nẵng có sông Hàn núi Sơn Trà
Ngoài ra, trong việc "chọn nơi mà ở", người Việt, với tính cộng đồng nông nghiệp của mình, rất quan
tâm đến việc chọn hàng xóm láng giềng xung quanh
+Đến thời kì kinh tế hàng hóa đã phát triển, người Việt còn rất coi trọng việc chọn vị trí
giao thông thuận tiện : nhất cận thị, nhị cận giang. Những đô thị có tốc độ phát triển nhanh đều là đô
thị gần biển, sông, có giao thông thuận tiện. Các thôn ấp miền Nam và các khu dân cư mới hình thành
đã từ bỏ cách tổ chức theo xóm làng với lũy tre khép kín cổ truyền mà chuyển sang quy tụ theo trục
đường sông, đường bộ. Trong đô thị, vị trí nhà mặt tiền được đánh giá cao. Tuy nhiên các yếu tố phong
thủy và cộng đồng vẫn không bị lãng quên; khi xét đến nhiều tiêu chuẩn thì yếu tố hàng xóm (lân) vẫn
được xếp vào thứ hai : nhất cận thị. nhị cận lân, tam cận giang, tứ cận lộ. ngũ cận điền.
Biện pháp thứ ba để đối phó với môi trường tự nhiên là tận dụng tối đa thế mạnh của môi trường tự
nhiên trong việc chọn và sử dụng vật liệu xây dựng.
• Vật liệu xây dựng tự nhiên sẵn có nhất là tre. Cây tre có mặt ở khắp nơi. Tre có tác dụng cải
thiện môi sinh, làm cho không khí mát mẻ, che chắn gió bão, được dùng làm vật liệu quan trọng
16
cho việc làm nhà. Họ hàng nhà tre theo đặc tính của mình mà được phân công mỗi loại một
việc: bương, vầu thân to dầy, đốt ngắn chịu sức nén khỏe có thể làm cột nhà; tre đằng ngà thân
gần như đặc lại dẻo nên chịu sức kéo tốt có thể dùng làm đòn tay; mai thẳng và dày đều được bổ
ra thành lá làm sàn nhà cho bà con miền núi; nứa mỏng có thể đập dập lợp mái hoặc đan vách;

được liên kết lại với nhau bằng các (xà nóc, xà thượng, xà trung, xà hạ, xà chân). Để tăng thêm sự vững
chắc cho ngôi nhà. các cột phải được đẽo theo hình đầu cán cân, chân quân cờ (ngọn cột nhỏ, gần gốc
phình to và chân cột thắt lại theo tỉ lệ 6-10-8), khi dựng vì kèo thì các cột phải đứng theo thế choãi chân
gọi là thượng thu hạ thách (thách 2 phân cho mỗi thước cao của cột). Không cần đến móng, tường.
Tường đất vách nứa, hoặc ván bưng xung quanh chỉ có tác dụng che nắng mưa chứ không chịu lực.
Tất cả các bộ phận của ngôi nhà được lắp ghép lại bằng dây buộc, néo con xỏ (đối với nhà tre) hoặc
mộng (đối với nhà gỗ). Mộng là phần gờ lồi ra của một bộ phận này lắp khít vào chỗ lõm có hình dáng
và kích thước tương ứng ở một bộ phận khác (theo nguyên lí âm dương). Kĩ thuật ghép mộng áp dụng
17
cho toàn bộ đồ mộc truyền thống, từ nhà đến giường tủ, bàn ghế tạo nên sự liên kết chắc chắn nhưng
lại rất động và linh hoạt. Khi di chuyển chỉ cần làm ngược lại là có thế tháo dỡ ra rất dễ dàng.
Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi biết rằng vua Gia Long đã cho dỡ một số cung điện của thành
Hà Nội chở theo đường thủy vào dựng ở Huế; ngược lại, một nhà thờ họ ở Huế đã được chở ra Hà Nội
dựng ở làng Vẽ; đền Hai Bà Trưng và chùa Trấn Quốc ở Hà Nội đã được di chuyển từ ngoài bờ sông
vào trong đồng để tránh lụt; cũng để tránh lụt, vào năm 1903, đình Chèm ở bờ sông phía bắc Hà Nội đã
được nâng cao hơn so với mặt nền cũ là 6 thước ta. Với kiều nhà này, việc mua bán nhà và đất là hai
việc khác hẳn nhau.
+Để thống nhất kích thước, trong khi phương Tây dùng bản vẽ kĩ thuật phức tạp, chi li
và cứng nhắc thì người Việt Nam dùng cái thước tầm (còn gọi là rui mực sào mực). Đó là một thân
tre bổ đôi dài hơn chiều cao của cột cái, trong lòng máng vạch những kí hiệu cho phép xác định các
khoảng ngang, khoảng đứng và khoảng chảy, từ đó mà ấn định được kích thước của các bộ phận như
chiều cao của cột hiên, cột con, cột cái Cấu tạo của thước tầm là chung cho mọi nhà, nhưng mỗi thước
lại được tính theo một đơn vị gốc mang tính rất cá biệt là dốt gốc ngón tay út hoặc gang tay của người
chủ nhà (truyền thống coi con người là trung tâm, lấy kích cỡ con người làm chuẩn để đo đạc tự nhiên
và vũ trụ). Thành ra nhà nào thước ấy, không thể mượn thước người khác mà làm nhà cho mình được.
Thước tầm trở thành vật xác định quyền sở hữu ngôi nhà của chủ nhân. Khi hoàn thành nhà, phải làm lễ
cài sào để báo cáo với thần linh thổ địa và long trọng đưa cây thước tầm lên gác ở vị trí cao nhất dưới
nóc giữa hai vì kèo. chỉ khi nào cần sửa chữa thì thợ cả mới lấy xuống để đo cắt các chi tiết thay thế.
Về hình thức kiến trúc thì ngôi nhà Việt Nam là tấm gương phản ánh đặc điểm của truyền thống văn
hóa dân tộc.

Hình tượng trang trí trong kiến trúc truyền thống
Trong các công trình kiến trúc gỗ truyền thống tại Việt Nam, nhất là đối với các công tình mang yếu tố
tôn giáo và tín ngưỡng như đình, đền, chùa , miếu thì mảng điêu khắc được đánh giá là một trong
những yếu tố quan trọng bậc nhất tạo nên vẻ đẹp cho công trình. Sau đây giới thiệu các hình tượng trang
trí thường gặp trong kiến trúc cổ từ Bắc tới Nam, mang đậm ảnh hưởng của Phật giáo và một số đạo
khác như Đạo Giáo, Nho giáo.
Các hình tượng trang trí đơn lẻ
Con rồng
Các dạng trang trí hình rồng phát triển theo từng thời kỳ, mang những đặc điểm mỹ thuật khác nhau.
Trong kiến trúc truyền thống ở Việt Nam, hình tượng con rồng thể hiện cho tâm linh, gắn liền với vua
(theo quan niệm phong kiến), biểu hiện ước mong mưa thuận gió hoà (quan niệm dân gian). Từ thời Lý,
rồng bắt đầu được trang trí trên bệ tháp, cấu kiện gỗ, đỉnh mái của các chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa
Long Ðọi (Hà Nam)
19
H1a. Rồng chạm đầu dư
H1b. Rồng trang trí trên cửa
Con lân
Được gọi đầy đủ là kỳ lân (còn gọi là con ly và dân gian gọi là con sấu). Hình tượng con Lân được định
hình từ thời Lý và phát triển cho đến suốt thời Nguyễn.
Kỳ lân là phát triển của long mã, biểu tượng cho sự kết hợp thời gian và không gian, cho sự an bình.
Thường được trang trí trên cấu kiện gỗ (gặp ở nhiều chùa), thành bậc (chùa Bà Tấm, Hà Nội), tượng
tròn (chùa Phật Tích, Bắc Ninh).
20
H2. Tượng lân đá tại chùa Phật Tích
Rùa
Biểu trưng cho sự bền vững của xã tắc (trong phạm vi cung đình) và sự sống lâu, trường thọ (dân gian).
Tuy ít gặp trong kiến trúc Phật giáo, nhưng hình tượng rùa đã được sử dụng như vật đỡ chân bia tại các
chùa.
21
H3. Rùa đội bia

H9. Hình tượng con trâu trên lan can đá chùa Bút Tháp
Sư tử
Là đề tài trang trí phổ biến ở thời Lý hơn các thời sau này. Sư tử hí cầu có ý nghĩa như vật bảo vệ giáo
pháp. Có thể gặp tượng sư tử ở chùa Hương Lãng, bệ có 2 con sư tử đỡ ở chùa Bà Tấm. Các chòm lông
và đuôi sư tử thường xoắn lại theo kiểu trôn ốc hoặc xoè ra.
25

Trích đoạn Kết cấu chung của làng Việt truyền thống. PHẦN 4: Ý NGHĨA CỦA CÁC KIẾNTRÚC CỔ VIỆT NAM PHẦN 5: HIỆN TRẠNG VỀ KIẾNTRÚC CỔ Ở VIỆT NAM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status