Một thế kỷ nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam (qua một số công trình văn học sử) - Pdf 12



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN VĂN HỌC
YY D ZZ
LÊ QUANG TƯ MỘT THẾ KỶ NGHIÊN CỨU
LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM
(QUA MỘT SỐ CÔNG TRÌNH VĂN HỌC SỬ) CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ : 62.22.32.01


Công trình được hoàn thành tại:
Viện Văn học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện
2. TS. Đinh Thị Minh Hằng CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Lê Quang Tư (2004), “Quan điểm về lý thuyết lịch sử văn học của Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt
Nam”, Nghiên cứu văn học, (4), tr. 103-111.
2. Lê Quang Tư (2008), “Quá trình nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học Việt Nam trong thế kỷ XX”, Tạp chí
Khoa họ
c và Giáo dục, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Huế, (1), tr. 38-50.
3. Lê Quang Tư (2008), “Tiến trình tư duy lý luận văn học sử ở Việt Nam”, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, (165), tr.
66-71.
4. Lê Quang Tư (2008), “Nhận xét và đề nghị xung quanh việc viết lịch sử văn học Việt Nam”, Văn nghệ quân đội,
(692), tr. 92-97.
5. Lê Quang Tư (2008), “Các công trình văn học sử Việt Nam-nhìn t
ừ cách đặt tên”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội, (6), tr. 88-95.
6. Lê Quang Tư (2008), “Phương pháp viết văn học sử trong Việt Nam văn học sử trích yếu”, Thông tin Đại học Huế,
(68), tr. 53-57.
7. Lê Quang Tư (2008), “Cách tiếp cận mới về lịch sử văn học trong Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX”, Tạp chí Sông
Hương, (238), tr. 92-95.
8.
Lê Quang Tư (2008), “Sự xuất hiện và vài đặc điểm của các công trình văn học sử Việt Nam”, Tạp chí Nhà văn,

thực tiễn nghiên cứu lịch sử văn học ở Việt Nam, liên quan đến lãnh vực giao thoa giữa lý luận văn học và
văn học sử, thuộc phương pháp nghiên cứu và viết lịch sử văn học.
2.3 Phạm vi của vấn đề nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong bốn lãnh vực liên quan đến tư duy và cách viết văn học sử
như sau: 1. Đặc trư
ng tư duy và phương pháp biên soạn của các công trình biên soạn lịch sử văn học Việt
Nam trong thế kỷ XX. 2. Cách tiếp cận và cấu trúc tổng thể của lịch sử văn học Việt Nam. 3. Những vấn đề
phương pháp luận lịch sử văn học. 4. Trình bày về quan điểm xung quanh việc viết lịch sử văn học Việt Nam
hiện nay.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. 1 Những ý kiến bàn về một số công trình văn học sử Việt Nam
Trước năm 1954, từ khi các công trình văn học sử Việt Nam ra đời, một số bài báo đã xuất hiện, luận
bàn về chúng. Ở giai đoạn trước 1945, tư duy về lý luận văn học sử không được giới thiệu trực tiếp. Các bài
báo trên các tạp chí Tri Tân, Tin mới của Vũ Văn Lợi, Nguyễn Văn Minh, Nguyễ
n Văn Tố, Thượng Sỹ… chỉ
là những bài phê bình sách liên quan nhiều đến vấn đề tư liệu, cách trình bày của các công trình văn học sử
mới xuất hiện. Sau 1945, quan điểm nghiên cứu lịch sử văn học đã bắt đầu rẽ thành hai hướng tư duy về lý
luận văn học sử: phương pháp viết văn học sử phương Tây, và quan điểm Mác-xít trong khi biên soạn lịch sử
v
ăn học Việt Nam.
Từ sau 1954, nhìn chung, khuynh hướng thứ hai đã chiếm ưu thế. Trong phần đầu của một số cuốn lịch
sử văn học Việt Nam, các soạn giả như Phạm Văn Diêu, Thanh Lãng… đã bàn về cách tiếp cận lịch sử văn học của
các bộ sách trước họ, và trình bày quan điểm của mình khi viết bộ lịch sử văn học đó. Các soạn gi
ả đã thể hiện
quan niệm về văn học, văn học sử, cách viết lịch sử văn học và cách phân kỳ văn học của mình. Các nhà nghiên
cứu khác như Nguyễn Văn Hoàn, Triêu Dương, Cánh Hồng, Lê Bá Hán, Thanh Lãng, Nguyễn Đức Đàn, Huệ Chi,

2
Phong Lê cũng có ý kiến về các công trình văn học sử mới xuất bản hoặc về công việc biên soạn lịch sử văn học
trên Nghiên cứu văn học, Tạp chí Văn học.

Luận án này có đóng góp trên các phương diện sau: 1. Phác hoạ tiến trình thực tiễn nghiên cứu và biên
soạn lịch sử văn h
ọc Việt Nam và quá trình tư duy lý luận về lịch sử văn học, 2. Khảo cứu các vấn đề lý luận về
lịch sử văn học qua việc khảo sát và đánh giá các bộ lịch sử văn học Việt Nam và các công trình nghiên cứu về
phương pháp luận văn học sử. 3. Trình bày yêu cầu về việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học Việt Nam
hiện nay dưới góc nhìn mới và yêu cầu c
ủa thời đại mới.
6. Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, Phần nội dung gồm ba chương như sau:
Chương 1: Tiến trình biên soạn lịch sử văn học Việt Nam
Chương 2: Đặc trưng tư duy, phương pháp biên soạn của các bộ lịch sử văn học Việt Nam
Chương 3: Các vấn đề lý luận từ thự
c tiễn biên soạn văn học sử Việt Nam

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TIẾN TRÌNH BIÊN SOẠN LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM
1.1 Tình hình biên soạn lịch sử văn học Việt Nam
1.1.1 Khái niệm lịch sử văn học

3
Ở Việt Nam, nhà văn học sử thường không phân biệt hai khái niệm lịch sử văn học và văn học sử.
Lịch sử văn học thường được chỉ cho toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của một nền văn học hoặc
một bộ môn khoa học nghiên cứu về quá trình đó. Nhiệm vụ của lịch sử văn học phải giúp người đọc nhận
diện diệ
n mạo toàn cảnh của một nền văn học và những đặc điểm, quy luật vận động, phát triển của nền văn
học đó; cũng như những giá trị của văn học đối với đời sống xã hội, những cách tiếp nhận văn học trong các
thời kỳ lịch sử. Đối tượng chủ yếu của lịch sử văn h
ọc là phương diện sinh thành của văn học, là những yếu
tố tạo nên lịch sử văn học và các quy luật vận động của nền văn học.
1.1.2 Sự xuất hiện và vài đặc điểm cơ bản của các công trình văn học sử Việt Nam

1.2 Quá trình biên soạn lịch sử văn học Việt Nam
Quá trình biên soạn lịch sử văn học Việt Nam được khởi đầu bằng Nữ lưu văn học sử (1929) của Lê Dư,
khẳng định bằng Việt Nam văn học sử yếu (1943) của D
ương Quảng Hàm. Đó là sự kế thừa thành quả nghiên
cứu của những thế kỷ trước và sự tiếp thu tư duy cũng như phương pháp nghiên cứu khoa học về lịch sử văn
học của phương Tây, đặc biệt là G. Lanson, G. Cordier, P. Berger. Những nhà văn học sử có đóng góp lớn
trong quá trình này từ 1929 đến 1945 là Dương Quảng Hàm, Lê Dư, Nguyễn Sĩ Đạo, Hoa Bằng, Nguyễn
Đổng Chi, Mộc Khuê, Ngô Tất T
ố, Kiều Thanh Quế, Phan Trần Chúc. Những đóng góp của các cuốn sách
này thể hiện qua các lãnh vực thu thập xử lý tư liệu, thử phân kỳ lịch sử văn học, ngôn ngữ văn học, bước

4
đầu đi tìm cơ sở phương pháp viết văn học sử. Đặc biệt, qua Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm
cho thấy quan niệm xem trọng tính chân thực về tư liệu, tầm quan trọng của bộ phận văn học dân gian, vận
dụng hệ thống thi pháp thể loại vào trong nghiên cứu lịch sử văn học. Ông cũng để lại phương pháp nghiên
cứu liên ngành, phê bình giáo khoa và so sánh v
ăn học.
Năm 1949, Nghiêm Toản cho xuất bản Việt Nam văn học sử trích yếu, đánh dấu việc biên soạn lịch sử
văn học theo quan điểm Mác-xít. Một số soạn giả tiêu biểu từ 1945 đến 1954 là Nghiêm Toản, Hoàng Xuân
Hãn, Nguyễn Tường Phượng, Bùi Hữu Sủng.
Ở miền Bắc, giai đoạn từ 1954 đến 1975 là thời kỳ nghiên cứu văn học sử thành công nhất cho
đến
nay, với sự đóng góp của các nhà văn học sử trong Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, Nhóm Lê Quý Đôn, Viện
Văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội… Các bộ Sơ thảo lịch sử văn
học Việt Nam, Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Vă
n học Việt Nam
đã khẳng định được vị trí của mình lúc đó cả về sau này. Quan điểm Mác – Lênin được vận dụng có chủ đích
trong các công trình văn học sử. Ở miền Nam, các nhà văn học sử như Thanh Lãng, Lê Văn Siêu, Phạm Văn
Diêu, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Văn Sâm, Hoàng Trọng Miên, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Hữu Lợi, Thạch Trung
Giả… có tham vọng biên soạn những bản văn h

trích yếu những tác phẩm có giá trị thẫm mỹ. Do chịu ảnh hưởng tư tưởng Mác-xít, soạn giả đã xác định lập
trường văn học phản ánh xã hội dựa trên hai động lực đấu tranh và dân chúng hóa. Tư duy văn học sử thể

5
hiện qua cách giới thuyết văn học, văn học sử, các bộ phận văn học, thể loại văn học, phân kỳ văn học, ảnh
hưởng văn hóa, văn học… Đặc biệt, tư duy vận dụng phương pháp xã hội học Mác-xít vào nghiên cứu văn
học sử Việt Nam đã bộc lộ rõ nét.
2.2 Các bộ lịch sử văn học Việt Nam ở miền Bắ
c (1954-1975)
Ở miền Bắc, các nhà văn học sử nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam trên quan điểm duy vật lịch sử,
phản ánh luận, phương pháp xã hội học Mác-xít.
2.2.1 Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của Ban nghiên cứu Văn Sử Địa (1957-1960) và Viện Văn học
(1964)
Mục đích biên soạn ở đây hướng đến tác dụng của văn h
ọc đối với dân tộc. Văn học Việt Nam phản
ánh tính chất chống xâm lăng của dân tộc ta. Đối tượng văn học gồm cả văn học dân gian và văn học viết,
Hán văn và Việt Văn. Các soạn giả đã bước đầu sử dụng quan niệm phân kỳ văn học đối với văn học dân
gian. Các tác giả muốn phân kỳ lịch sử viết dựa trên chính b
ản thân sự vận động của văn học. Trong đó, văn
học chữ Nôm được các soạn giả lấy làm căn cứ phân kỳ. Mặt khác, họ yêu cầu các nhà văn học sử phải vận
dụng thành quả của các nhà phê bình văn học trong quá trình biên soạn lịch sử văn học Việt Nam.
2.2.2 Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn (1957)
Các soạn giả
dựa trên lập trường tư tưởng Mác-xít, nổi bật là quan điểm lịch sử. Đối tượng chính của
lịch sử văn học là các tác phẩm văn học tiêu biểu của dân tộc, nhưng, chỉ những tác phẩm viết bằng ngôn
ngữ dân tộc. Quan niệm phân kỳ văn học ở đây chịu chi phối bởi quan điểm lịch sử xã hội, chưa phân kỳ văn
học truyền miệng. Định hướng tư tưởng chi phối quan niệm về văn học, phân kỳ văn học và phương pháp
trình bày về lịch sử văn học Việt Nam của các soạn giả.
2.2.3 Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1961-1962)
Bộ giáo trình này đảm bảo được tính hệ thống, gồm 6 quyển, chịu ảnh hưở

Hán chỉ được đưa vào phần phụ. Số lượng tác gia văn học là 70, rộng về cơ cấu. Phân kỳ văn
học trên tiêu chí ngôn ngữ văn học, nhưng còn hạn chế. Mặt khác, quan điểm thể loại văn học ở đây theo lối
cũ. Thể loại văn học là hằng số trình bày văn học sử.
2.3.2 Bảng lược đồ văn học Việt Nam
của Thanh Lãng (1967)
Thanh Lãng muốn có một quan niệm sống động trong khi viết văn học sử qua chín công việc. Soạn giả
dựa theo phương pháp thế hệ văn học để phân kỳ văn học. Điểm khó khăn khi phân kỳ văn học là văn học cổ
điển Việt Nam ít có những biến động, ít có những trường phái và tiểu sử tác giả cũng như thời kỳ xuất b
ản
của tác phẩm còn nhiều mơ hồ. Đặc biệt, ông đã khảo sát cách nhìn nhận và đánh của người tiếp nhận qua
các thời kỳ văn học đối với tác phẩm văn học. Thanh Lãng cũng bàn đến vấn đề ảnh hưởng văn hóa, văn học
trong văn học thời đại cổ điển và văn học thời đại mới của Việt Nam.
2.4 Các bộ
lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ thống nhất đất nước (từ 1975 đến thập niên đầu thế kỷ
XXI)
2.4.1 Vấn đề tái bản và xuất bản các bộ lịch sử văn học Việt Nam sau 1975
Sự thay đổi tư duy trong nghiên cứu lịch sử văn học thúc đẩy vấn đề tái bản có chỉnh sửa, bổ sung và
xuất bản những công trình mới của Vi
ện văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội.
2.4.1.1 Viện Văn học
Viện Văn học biên soạn các công trình mới về hai bộ phận văn học chống Mỹ và văn học chống Pháp,
khảo sát lịch sử lý luận văn học, văn học thiếu nhi, văn học yêu nước miền Nam dựa trên các thể loạ
i văn học
để thấy đầy đủ hơn lịch sử văn học Việt Nam.
2.4.1.2 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bộ Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam được tái bản bổ sung, có sửa chữa thành Lịch sử văn học Việt
Nam. Sau này, một số công trình mới xuất hiện với tên gọi Văn học Việt Nam. Quan điể
m tư tưởng, lịch sử
xã hội vẫn chi phối việc nghiên cứu lịch sử văn học. Vấn đề văn học sử được nhìn nhận lại như phân kỳ văn

CHƯƠNG 3: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TỪ THỰC TIỄN BIÊN SOẠN VĂN HỌC SỬ VIỆT NAM
3.1 Quan điểm tiếp cận lịch sử văn học Việt Nam
3.1.1 Tác phẩm và tác gia văn học
Các nhà văn học sử Việt Nam đã lấy tác phẩm, tác giả là
đối tượng nghiên cứu lịch sử văn học. Họ
viết về các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của các thời kỳ, giai đoạn văn học. Vị trí và vai trò của các tác phẩm,
tác gia văn học trong lịch sử văn học Việt Nam tuỳ thuộc vào quan điểm của nhà văn học sử. Phương pháp
viết theo thế hệ nhà văn đã được vận dụng trong biên soạn lịch s
ử văn học. Tuy nhiên, quan điểm này sử
dụng các tác giả, tác phẩm văn học cụ thể như một hằng số đo lường tiến trình văn học.
3.1.2 Thể loại văn học
Các quan điểm của các bộ văn học sử Việt Nam đều được viết dựa trên cơ sở thể loại. Sự khác biệt giữa
các nhà văn học sử là số
lượng và mức độ khảo cứu các thể loại trong các thời kỳ, giai đoạn tách biệt. Mặt
khác, các quan điểm trên, sử dụng thể loại như những hằng số để trình bày lịch sử văn học; xem thể loại là
tĩnh tại, hoặc có sự thay đổi đi nữa thì cũng chỉ trong ý niệm chứ chưa viết lịch sử văn học trên quan điểm
vận động của thể loại văn học.
3.1.3 Phân kỳ văn học
Tùy vào quan niệm văn học, lịch sử văn học, các soạn giả có quan điểm phân kỳ văn học khác nhau.
Càng về sau, quan niệm phân kỳ là sự kết hợp giữa logic nghiên cứu và logic trình bày. Hệ thống tiêu chí
phân kỳ chưa nhất quán, chỉ dựa tiêu chí cơ bản là lịch sử dân tộc rồi kết hợp các tiêu chí khác. Tiêu chí Thế
kỷ đang chiếm ưu thế. Phần văn học dân gian có khi được phân kỳ. Sự thống nhất quan điểm và tiêu chí phân
kỳ chưa được thể hiện.
3.1.4 Trào lưu, khuynh hướng và quy luật vận động văn học
Quan điểm viết lịch sử văn học dựa trên khuynh hướng tư tưởng là một hướng quan trọng của nhiều
nhà văn học sử Việt Nam. Sự thay
đổi của các khuynh hướng tư tưởng chính là sự vận động của văn học, của
lịch sử văn học Việt Nam. Tuy nhiên, các khuynh hướng nghệ thuật, giá trị thẩm mĩ chưa được chú tâm đúng
mức. Các trào lưu văn học chỉ xuất hiện trong văn học Việt Nam hiện đại. Các soạn giả cũng đã phác họa
được những quy luật vận động cơ bả

phương pháp nghiên cứu các đối tượng của lịch sử văn học; và mang theo nhiều mô hình biên soạn lịch sử
văn học Việt Nam.
Những hạn chế cơ bản của các công trình văn học sử Việt Nam được thể hiện qua một số vấn đề về tư
duy lý luậ
n văn học sử, phương pháp biên soạn, quy mô công trình, tư liệu và đánh giá các hiện tượng văn
học.
3.3 Các công trình lý luận về lịch sử văn học
3.3.1 Những phương diện cơ bản trong lý luận về lịch sử văn học
3.3.1.1. Vài nét về những thành tựu cơ bản của việc nghiên cứu lý luận về lịch sử văn học trên thế giới
Đặc trưng lý lu
ận về lịch sử văn học thể hiện qua những vấn đề như đối tượng được phản ánh, nhiệm
vụ, chức năng, mục đích, nguyên tắc phương pháp luận, kết cấu, hệ thống, phương pháp viết lịch sử văn
học…Quan niệm mới về văn học và lịch sử văn học trong mối quan hệ truyền thống và hiện đạ
i là mấu chốt
quan trọng trong lý thuyết lịch sử văn học hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu đã xác định tính lịch sử và tính kết
cấu là những nguyên tắc cơ bản của phương pháp luận lịch sử văn học.
Quan niệm và phương pháp phân kỳ lịch sử văn học cũng được bàn đến nhiều, nhưng chưa thống nhất.
Quan niệm và cách tiếp cận tác phẩ
m văn học khi viết lịch sử văn học có nhiều thay đổi. Và khoa lịch sử văn
học cũng bộc lộ một số nhược điểm, hạn chế trong cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu của nó.
3.3.1.2 Nhiều khoa học, trường phái, học thuyết khác nhau tác động đến lịch sử văn học
Bên cạnh nhiều khoa học, trường phái, học thuyết khác, hiện nay ba quan đ
iểm Lý thuyết tiếp nhận
văn học, Thi pháp học và Văn học so sánh đang tác động lớn đến lý luận về lịch sử văn học.
3.3.2 Những ý kiến, công trình lý luận về lịch sử văn học ở Việt Nam
3.3.2.1 Qua các công trình biên soạn lịch sử văn học Việt Nam
Từ khi các công trình biên soạn lịch sử văn học Việt Nam ra đời, các nhà nghiên cứu như Nguyễn
Đổng Chi, Dương Quảng Hàm, Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, nhóm Lê Quý Đôn… đều bộc lộ trực tiếp hay
gián tiếp quan điểm về lịch sử văn học qua các công trình văn học sử của họ. Đối tượng nghiên cứu văn học
sử Việt Nam của họ tập trung vào các tác phẩm, tác giả, thể loại, ngôn ngữ, sự ảnh hưởng văn học, phân kỳ

lịch sử văn học, thời gian văn học sử và không gian văn họ
c sử. Những công trình này là các công trình lý
luận văn học sử chuyên biệt, có những đặc trưng riêng, góp phần và quá trình phát triển lý luận về lịch sử
văn học ở Việt Nam.

3.4 Yêu cầu mới khi biên soạn lịch sử văn học Việt Nam
3.4.1 Về nghiên cứu văn học sử Việt Nam
Trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam, vấn đề sưu tầm và xác minh tư liệu; phân kỳ v
ăn học,
đánh giá các hiện tượng văn học, mở rộng đối tượng được đặt lại trong tư duy lý luận văn học sử mới. Từ
mục đích và phương pháp cụ thể, nhà văn học sử có thể kết cấu công trình thích hợp. Vấn đề nghiên cứu lịch
sử văn học đang hướng đến nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu trong tầm nhìn so sánh và căn cứ trên chính
bản thân v
ăn học.
3.4.2 Về phương pháp viết lịch sử văn học Việt Nam
Trên cơ sở các phương pháp biên soạn truyền thống, các nhà văn học sử đang muốn thể hiện phương
pháp viết mới tiếp thu hướng nghiên cứu nội tại của văn học (với các mô thức thảo mộc, vạn hoa, ngày và
đêm). Trong quá trình viết, các nhà văn học sử Trung Quốc đã để lại bài học v
ề vấn đề viết lại và viết mới
lịch sử văn học trong thời đại mới. Nhà văn học sử ngày càng được trang bị bởi các nguyên tắc viết văn học
sử cụ thể.
3.4.3 Về lý luận văn học sử
Các nhà văn học sử Việt Nam trong thế kỷ XX đã để lại cơ sở lý luận văn học s
ử qua thực tiễn biên
soạn lịch sử văn học Việt Nam. Trên tiến trình đó, luôn tiếp thu những tư duy lý luận mới để vận dụng trong
nghiên cứu lịch sử văn học. Với những gì họ để lại và những tư duy lý luận văn học sử hiện nay, người

10
nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam có thể xác lập được một hệ thống lý luận văn học sử trong khi nghiên
cứu lịch sử văn học dân tộc.

vấn đề văn học sử được nhìn nhận lại, nên quá trình tái bản, có sửa chữa tiếp tục diễn ra. Từ thập niên 90 của
thế kỷ XX cho đến nay, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế của
đất nước được thực hiện, do đó phương
pháp nghiên cứu lịch sử văn học cũng có nhiều thay đổi, biểu hiện mới nhất là ở hai công trình Văn học Việt
Nam thế kỷ XX (2004) do Phan Cự Đệ chủ biên và Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX (2007) do Trần Ngọc
Vương chủ biên. Tuy nhiên, một thời kỳ biên soạn lịch sử văn học Việt Nam trên quan đi
ểm mới vẫn chưa
xuất hiện.
Nếu phân định lịch sử nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ khi Khoa nghiên cứu văn học Việt Nam
ra đời (1945), thì một thế kỷ nghiên cứu này được phân làm hai thời kỳ trước và sau 1945. Khi đó, đỉnh cao
nghiên cứu, biên soạn lịch sử văn học Việt Nam ở thời kỳ trước 1945 là Dương Quảng Hàm. Còn thành tựu
của một th
ế kỷ nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam chủ yếu bộc lộ trong thời kỳ sau 1945 đến nay.
2. Khi khảo sát Một thế kỷ nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam, chúng tôi đã nghiên cứu và trình bày
quá trình thực tiễn biên soạn lịch sử văn học Việt Nam và quá trình tư duy lý luận về lịch sử văn học trong
thế kỷ XX. Hai phươ
ng diện thực tiễn và lý thuyết này đủ để nhận diện kết quả của việc viết lịch sử văn học,
thành tựu nổi bật nhất của Khoa nghiên cứu văn học trong thế kỷ XX. Đương nhiên, thành tựu chính là ở kết
quả của quá trình thực tiễn nghiên cứu.

11
3. Quá trình thực tiễn biên soạn lịch sử văn học Việt Nam trong thế kỷ XX đã để lại một nguồn tài
liệu đồ sộ khoảng hơn một trăm công trình lớn nhỏ về lịch sử văn học. Những nhà nghiên cứu tên tuổi nhất
trong quá trình biên soạn lịch sử văn học Việt Nam có thể được phân làm hai nhóm. Thứ nhất là các nhà văn
học sử nghiên cứ
u độc lập như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi, Ngô Tất Tố, Vũ Ngọc Phan, Nghiêm
Toản, Phạm Văn Diêu, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Lê Văn Siêu Thứ hai là các tập thể, các nhóm nghiên
cứu, biên soạn như Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, nhóm Lê Quý Đôn, các nhà văn học sử Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Viện Văn học. Trong đ
ó, các nhà văn học sử có công

ử văn học của thế giới đối với nền văn học Việt Nam trong thế kỷ
XX không phải khi nào cũng thích hợp. Các bộ phận của tiến trình lịch sử văn học Việt Nam luôn được chọn
lựa và đánh giá khác nhau như các vấn đề văn học chữ Hán, phân kỳ văn học, văn học 1930-1945, văn học
các dân tộc thiểu số, văn học miền Nam Do v
ậy, qua các công trình văn học sử, diện mạo và đặc điểm của
lịch sử văn học Việt Nam luôn luôn thay đổi trên tính lịch sử và tính kết cấu khác nhau. Vì thế, cấu trúc của
lịch sử văn học Việt Nam luôn luôn biến động.
5. Những quan điểm của các nhà văn học sử Việt Nam trong các bộ lịch sử văn học Việt Nam và
trong các công trình lý luận về
lịch sử văn học có ưu điểm và nhược điểm. Trên tinh thần khoa học, nó khiến
chúng ta vừa phải công nhận vừa phải vượt qua để đổi mới, đổi mới về tư duy lý luận, đổi mới phương pháp
nghiên cứu, phương pháp viết văn học sử. Đó là do sự chênh lệch giữa một bên là bản thân nền văn học Việt
Nam phong phú, đa dạng, mộ
t bên là nỗ lực tái hiện tiến trình lịch sử văn học của các nhà văn học sử. Bản
thân văn học thì vận động, phát triển, thay đổi những giá trị liên tục, còn các bộ lịch sử văn học thì muốn

12
định hình nền văn học vào các khung lịch sử văn học để nhận diện. Bản thân văn học tương tác với nhiều
hình thái ý thức xã hội khác nhau, còn khả năng tri thức, khả năng tiếp cận văn học của nhà văn học sử thì có
hạn.
Vì vậy, nhìn vào thực tiễn nghiên cứu lịch sử văn học quá khứ với ngổn ngang các vấn đề chưa có kết
luậ
n cuối cùng, chúng ta cần nỗ lực cho những định hướng nghiên cứu, biên soạn lịch sử văn học trong nay
mai. Đó là một công việc khó có thể thực hiện trọn vẹn đối với năng lực của một cá nhân nghiên cứu lịch sử
văn học. Tuy nhiên, sự chọn lọc được những thành tựu, những giá trị nghiên cứu, những kinh nghiệm của các
nhà văn học sử đi trướ
c trên cả lý luận và thực tiễn nghiên cứu ở một mức độ nhất định, cũng giúp cho chúng ta
hiểu sâu hơn về lịch sử văn học dân tộc và có cơ sở phương pháp luận văn học sử vững chắc hơn. Đồng thời,
cũng vì thế, khi chúng tôi tạm dừng việc nghiên cứu Một thế kỷ nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam của các
nhà văn học sử trong luận án này, cũng là lúc chúng tôi nhận ra sự vênh lệch ít nhiều, nhận ra rằng còn nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status