Hoàn thiện công tác lập kế hoạch hàng năm ở Cổ phần ô tô vận tải Hà Tây - Pdf 24

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Nhìn lại chặng đờng hơn mời năm đã qua kể từ khi nớc ta thực hiện đổi mới
cơ chế từ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có định h-
ớng của nhà nớc. Đó là quãng thời gian đủ để đất nớc ta phục hồi và, hồi sinh và
phát triển. Cơ chế thị trờng đã làm cho đất nớc ta phát triển nhanh và đang lớn
mạnh dần lên để có thể sánh vai với các nớc trong khu vực và thế giới. Nhng cũng
chính cơ chế thị trờng đang tạo ra những thách thức khó khăn rất lớn đối với các
doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nớc Việt Nam nói riêng vốn từ lâu đã
quen với sự bảo hộ, nâng đỡ của nhà nớc nay phải tự lập để tồn tại, đứng vững để
phát triển. Sự đổi mới này tạo ra một bớc ngoặt lớn cho sự phát triển kinh tế của
Việt Nam. Trở về với thực tại, đất nớc Việt Nam ta lại đang hoà mình vào chung
cùng thế giới để tồn tại và phát triển thông qua việc mở rộng giao lu, hội nhập khu
vực và thế giới mà đặc trng nhất là việc tham gia hội nhập AFTA. Đây đang là xu
thế chung của toàn thế giới. Mặt khác cùng với sự phát triển nh vũ bão của khoa
học công nghệ, các nớc đều đang muốn và cố gắng hoà nhập với bên ngoài để mở
mang tri thức và tìm kiêm các cơ hội cho nớc nhà. Tuy nhiên điều gì cũng có tính
hai mặt của nó, hội nhập sẽ mở ra cho đất nớc rất nhiều cơ hội song nó cũng đem
lại những khó khăn, thách thức và thử thách lơn đối với các doanh nghiệp Việt Nam
.Vậy các doanh nghiệp phải làm gì đây để có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế
thị trờng và cạnh tranh với các doanh nghiệp khu vực và thế giới? Quả là sẽ thật
khó khăn nhng qua đó nó sẽ giúp cho các doanh nghiệp năng động và sáng tạo hơn
rất nhiều. Để có đợc điều đó thì các doanh nghiệp đều đang phải cố gắng nhìn nhận
lại mình, điều chỉnh lại mình, nắm bắt đợc thị trờng và vận hành hoạt động của các
doanh nghiệp một cách năng động, sáng tạo. Nhng mọi hoạt động dù có cố gắng
đến đâu cũng không thể đem lại hiệu quả cao đợc nếu không có công tác lập kế
hoạch.
Lập kế hoạch chính là một công cụ chủ yếu, hữu hiệu để doanh nghiệp xây
dựng chiến lợc phát triển cho mình với hy vọng sẽ đem lại cho việc sản xuất kinh
doanh đạt hiệu quả cao hơn. Trong những năm gần đây, công tác lập kế hoạch đã
1

hơn trong kinh doanh, bám sát nhu cầu thị trờng và đạt đợc mục tiêu kinh doanh
của mình.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong quá trình thực tập tại công ty và hoàn thiện đề tài này của mình, em đã
nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của cô giáo TS Nguyễn Thị Hồng Thuỷ và các thầy cô
trong khoa Khoa Học Quản Lý cùng các cô các bác là cán bộ của công ty Cổ Phần
Ô Tô Vận Tải Hà Tây đã giúp đỡ em cả về mặt nội dung phơng pháp luận và cách
thức tiếp cận vấn đề một cách khoa học nhất. Qua chuyên đề này em muốn bày tỏ
lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Khoa Học Quản Lý và
đặc biệt là TS Nguyễn Thị Hồng Thuỷ cùng tập thể cán bộ ở công ty Cổ Phần Ô Tô
Vận Tải Hà Tây đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đợc đề tài cũng nh hoàn thiện
thêm kiến thức chuyên môn của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!

Chơng I
những lý luận cơ bản về kế hoạch trong doanh
nghiệp
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lập kế hoạch là xuất phát điểm của quá trình quản trị, bởi nó gắn liền với
việc lựa chọn mục tiêu và chơng trình hành động trong tơng lai. Trong quản lý
chúng ta biết rằng có bốn chức năng cơ bản đó là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và
kiểm tra. Trong đó lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yếu đối với tất cả
các nhà quản trị ở mọi cấp trong doanh nghiệp, vì dựa vào nó mà các nhà quản trị
mới xác định đợc các chức năng còn lại khác nhằm bảo đảm tính đạt đợc các mục
tiêu đề ra.
I.Tổng quan về kế hoạch
1. Khái niệm
Cũng nh mọi phạm trù quản lý khác, đối với công tác lập kế hoạch cũng có

phơng thức tốt nhất để đạt đợc các mục tiêu đó.
Lập kế hoạch có liên quan tới mục tiêu cần phải đạt là đợc cái gì?
Cũng nh phơng tiện đạt đợc cái đó nh thế nào? Nó bao gồm việc xác định rõ
các mục tiêu, xây dựng một chiến lợc tổng thể, nhất quán với mục tiêu đó và triển
khai một hệ thống các kế hoạch để thống nhất các hoạt động
Mặc dù chúng ta ít khi dự đoán đợc một tơng lai chính xác và những yếu tố
nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta có thể phá vỡ cả những kế hoạch tốt nhất đã
có. Nhng nếu không có một kế hoạch thì chúng ta có thể để cho các sự kiện sảy ra
một cách ngẫu nhiên và ta sẽ mất đi khả năng tự chủ.Điều này có thể sẽ gây ra
những hậu quả to lớn mà đôi khi chúng ta không thể lờng trớc đợc
2. Vai trò của lập kế hoạch
Tại sao các nhà quản trị lại phải lập kế hoạch?
Nh chúng ta đã biết, hầu hết các nớc trên thế giới hiện nay đều để nền kinh
tế vận động theo cơ chế thị trờng chỉ khác là có sự can thiệp của nhà nớc hay không
và mức độ can thiệp nh thế nào?
Cơ chế thị trờng đem lại nhiều u điểm cho bất kỳ nền kinh tế nào vì nó tạo ra
sự năng động, thích nghi cao và sự tạo trớc các biến động của đời sống kinh tế,
chính trị và xã hội. Nó mở ra mở ra vô vàn các cơ hội cho nền kinh tế mà thông qua
đó làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, vững mạnh. Song cái gì cũng có tính hai
mặt của nó, cơ chế thị trờng mở ra nhiều cơ hội nhng cũng đem lại không ít những
khó khăn, hạn chế, các mối đe doạ cho nền kinh tế. Đó chính là những cuộc khủng
hoảng thừa thiếu, tình trạng độc quyền, sự tự phát .Gây ra sự mất ổn định cho
nền kinh tế, làm lãng phí nguồn lực, phân hoá giàu nghèo và quan trọng nữa chính
là sự ô nhiễm môi trờng trầm trọng đe doạ đến cuộc sống của toàn bộ nhân dân thế
giới. Khi hoà mình vào cơ chế thị trờng chúng ta phải tuân theo những quy luật của
nó. Các ông chủ doanh nghiệp khi muốn kinh doanh phải chấp nhận độ mạo hiểm
nào đó để kỳ vọng vào lợi nhuận thu đợc trong tơng lai. Vậy phải làm gì để kinh
doanh có hiệu quả? Việc đầu tiên cho bất kỳ một tổ chức nào đó là phải lập kế
hoạch. Bởi lập kế hoạch cho biết phơng hớng hoạt động, làm giảm sự tác động của
những thay đổi, tránh đợc sự lãng phí d thừa và thiết lập nên những tiêu chuẩn

hoạch để sao cho mỗi bộ phận của tổ chức cần phải đóng góp nh thế nào vào công
việc phải làm.
Ngay cả khi có thể dễ dàng dự đoán đợc sự thay đổi thì vẫn nảy sinh những
khó khăn khi lập kế hoạch. Việc sản xuất loại ô tô nhỏ sử dụng ít nhiên liệu là một
ví dụ. Không thể ngay lập tức chuyển từ sản xuất ô tô cỡ lớn và cỡ trung bình sang
cỡ nhỏ, nhà sản xuất phải quyết định tỷ lệ sản xuất giữa các loại ô tô và làm thế nào
để trang bị máy móc cho cả dây truyền này sản xuất có hiệu quả. Tuy nhiên, nhà
sản xuất có thể lựa chọn các phơng hớng rất khác nhau khi đã lắm bắt chắc chắn về
sự thay đổi của Công ty có thể phải cân nhắc kỹ lỡng để bán lỗ kinh doanh xe cỡ
lớn và cỡ trung bình để tập trung vào việc thiết kế và sản xuất loại xe cỡ nhỏ. Thực
tế đó là cách mà các công ty Nhật Bản đã làm
Khi các nhà quản lý không thể thấy đợc các xu thế một cách dễ dàng thì việc
có đợc một kế hoạch tốt có thể gặp nhiều khó khăn hơn nữa. Nhiều nhà quản trị đã
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đánh giá thấp hoặc không đánh giá đủ sớm về tầm quan trọng của giá cả lạm phát,
về sự tăng lãi suất nhanh chóng và khủng hoảng năng lợng những năm bảy mơi.
Kết quả là họ đã không đối phó kịp thời với những biến động về thị trờng và vật
liệu dẫn tới sự tăng chi phí sản xuất. Thậm chí đến cuối những năm sáu mơi và đầu
những năm bảy mơi sự cố ô nhiễm nớc và không khí cũng cha đợc quan tâm đúng
mức.
Khi lập kế hoạch hoặc những ngời quản lý phải nhìn về phía trớc, dự toán
những thay đổi trong nội bộ doanh nghiệp cũng nh ngoài môi trờng cân nhắc ảnh h-
ởng của chúng và đa ra những phản ứng đối phó thích hợp.
*Lập kế hoạch làm giảm đợc sự chồng chéo những hoạt động lãng phí :
Hiển nhiên là khi mục tiêu và những phơng tiện đã rõ ràng thì những yếu tố
phi hiệu suất cũng đợc bộc lộ. Việc lập kế hoạch sẽ đợc cực tiểu hoá chi phí vì nó
chủ động vào các hoạt động hiệu qủa và phù hợp.
Kế hoạch thay thế cho sự hoạt động manh mún, kế hoạch không đợc phối
hợp bằng sự nỗ lực có định hớng chung, thay thế những phơng án xét vội vàng bằng

nhiều tệ nạn xã hội khác. Nền kinh tế Việt Nam thực sự đã bị trao đảo trớc cơn lốc
thị trờng. Mặt khác, kinh nghiệm của các nớc trên thế giới và khu vực đã chỉ ra
rằng: không thể chỉ để bàn tay vô hình điều khiển nền kinh tế vi mô đến vĩ mô mà
phải có sự can thiệp của nhà nớc bằng nhiều cách, trong đó có sử dụng kế hoạch và
sự thành công trong phát triển kinh tế ở các nớc nh Nhật, Pháp, Đức hay Hàn Quốc,
Thái Lan, Malayxia là phải kể đến sự đóng góp của kế hoạch.
Còn với bản thân mỗi cá nhân chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta không biết
lập kế hoạch thì chúng ta không thể xác định đợc rõ mục tiêu của chúng ta là gì?
với thực lực của mình thì chúng ta có thể làm gì để đạt đợc mục tiêu? Chúng ta sẽ
không có những lịch biểu, những sự nỗ lực và cố gắng hết mình để đạt đợc mục
tiêu. Từ đó, chúng ta cứ để thời gian trôi đi và hành động một cách thụ động trớc sự
thay đổi của môi trờng xung quanh ta. Do vậy, việc đạt đợc mục tiêu của mỗi cá
nhân ta sẽ là không cao, đôi khi không thể đạt đợc mục tiêu mà mình mong muốn.
Tóm lại, chức năng lập kế hoạch là chức năng đầu tiên, là xuất phát điểm của
mọi quá trình quản trị. Bất kể cấp quản trị là cao hay thấp, việc lập ra đợc những kế
hoạch hiệu quả là chiếc chìa khoá cho việc thực hiện một cách hiệu suất những
mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.
3. Hệ thống kế hoạch trong các doanh nghiệp
Có rất nhiều tiêu thức để phân chia kế hoạch ra làm nhiều loại kế hoạch khác
nhau.
3.1. Theo mức độ tổng quát
Đợc thể hiện trong sơ đồ sau:8
Đờng lối Sứ mệnh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ 1: Sơ đồ các cấp độ kế hoạch
3.1.1. Sứ mệnh
Là bức thông điệp thể hiện lý do tồn tại của tổ chức, nó trả lời cho câu hỏi: tổ

- Chính sách
- Thủ tục
- Quy tắc
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lần và kế hoạch sử dụng nhiều lần (kế hoạch hiện hành). Mọi kế hoạch sử dụng một
lần (single useplans) là những kế hoạch cho những hoạt động không lặp lại.
Ví dụ: việc xây dựng một nhà máy mới đa ra một loại sản phẩm mới liên
doanh với một công ty nớc ngoài là những hoạt động mà có thể lập ra những kế
hoạch sử dụng một lần cho chúng. Những ngân sách rơi vào phạm trù này, vì ngân
sách đợc lập ra cho những hoạt động cụ thể, trong khoảng thời gian cho trớc. Kế
hoạch tiến độ cũng là những kế hoạch sử dụng một lần vì chúng biểu thị sự phân bố
nguồn nhân lực cho những công việc cụ thể trong khoảng thời gian là một tháng,
một tuần hay một ngày
Kế hoạch sử dụng nhiều lần (kế hoạch hàng ngày), kế hoạch hiện hành tiết
kiệm thời gian và năng lợng cho phép các nhà quản trị tập trung vào giải quyết
những vấn để phức tạp không lặp lại. Có ba loại kế hoạch hiện hành là:
(1) Các chính sách
Các chính sách cho biết những hớng dẫn chung cho việc ra quyết định. Chính
sách đa ra những phạm vi hay những giới hạn cho phép mà các quyết định có thể
dao động trong đó. Ví dụ: Chính sách mức lơng hấp dẫn có nhiều cơ hội để phát
triển tài năng, chính sách: khuyến khích mọi thành viên trong tổ chức đóng góp
những ý kiến về mọi lĩnh vực cho ban quản trị sẽ cho phép những tiềm năng sáng
tạo của các nhân viên đợc bộc lộ, nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ. Và vì thế,
những khiếm khuyết của tổ chức có thể đợc phát hiện kịp thời
Chính sách có tác dụng làm giảm sự giám sát chặt chẽ, chúng cũng là những
bớc thông điệp về những giá trị trong một tổ chức. Những chính sách thông thoáng
là bức thông điệp cho thấy sự tin tởng lẫn nhau giữa các thành viên và đòi hỏi họ
tham gia vào quá trình quản trị. Ngợc lại, chính sách chặt chẽ để ít khe hở cho sự
sáng tạo khi ra quyết định, là bức thông điệp về sự tin tởng không cao. Chúng làm
giảm sự mềm dẻo của cả tổ chức và cá nhân.

dựng kế hoạch trung hạn và hằng năm. Nên những nhiệm vụ và nội dung của kế
hoạch đợc thực hiện trong nội dung và chiến lợc hàng năm.
3.3. Theo mức cụ thể:
Gồm có kế hoạch cụ thể và kế hoạch định hớng
* Kế hoạch cụ thể là những kế hoạch với những mục tiêu đã đợc xác định rất rõ
ràng, không có sự mập mờ và hiểu lầm trong kế hoạch này.
Ví dụ: công ty quyết định tăng 20% doanh thu trong năm nay. Vậy ngân sách,
tiến độ, phân công cụ thể.. ra sao để đạt đợc mục tiêu đó.
* Kế hoạch định hớng là kế hoạch có tính linh hoạt đa ra những hớng chỉ đạo
chung
Ví dụ: kế hoạch cải thiện lợi nhuận của doanh nghiệp khoảng 5- 10% trong
năm tới
Kế hoạch định hớng hay đợc sử dụng hơn kế hoạch cụ thể khi môi trờng có độ
bất ổn định cao, khi doanh nghiệp đang trong giai đoạn hình thành và suy thoái
trong chu kỳ xây dựng của nó
Tuy nhiên, việc phân loại cac kế hoạch theo các tiêu thức trên đây chỉ mang
tính chất tơng đối. Các kế hoạch có quan hệ qua lại với nhau. Chẳng hạn nh kế
hoạch chiến lợc có thể bao gồm cả kế hoạch dài hạn và ngắn hạn, tuy vậy, kế hoạch
chiến lợc nhấn mạnh bức tranh tổng thể và dài hạn hơn trong khi kế hoạch tác
nghiệp phần lớn là những kế hoạch ngắn hạn.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
4. Những yếu tố biến đổi trong lập kế hoạch
4.1. Cấp quản lý
Lập kế hoạch có nhiều loại nh vậy nhng không phải bất kỳ một doanh nghiệp,
một tổ chức nào cũng đều lập tất cả các loại kế hoạch. Điều này nó còn phụ thuộc
vào một số yếu tố, đợc thể hiện trong sơ đồ 2:
Lập kế hoạch chiến lợc
Lập kế hoạch tác nghiệp
12

những thay đổi khi cần thiết.
- Trong giai đoạn tăng trởng, các kế hoạch có xu hớng ngắn hạn và thiên về
cụ thể vì các mục tiêu đợc xác định rõ hơn các nguồn đang đợc đa vào và thị trờng
cho đầu ra đang tiến triển.
- Trong giai đoạn chín muồi, tính ổn định và tính dự đoán đợc của doanh
nghiệp là lớn nhất nên kế hoạch dài hạn và cụ thể trong giai đoạn này tỏ ra thích
hợp.
- Trong giai đoạn suy thoái, kế hoạch lại chuyển từ dài hạn sang ngắn hạn, từ
cụ thể sang định hớng. Giống nh giai đoạn đầu, thời kỳ suy thoái cần tới sự mềm
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
dẻo vì các mục tiêu phải đợc xem xét và đánh giá lại, nguồn cũng đợc phân phối lại
cùng với những điều chỉnh khác.
4.3. Độ bất ổn định của môi trờng
Môi trờng càng bất ổn định bao nhiêu thì kế hoạch càng mang tính định h-
ớng va ngắn hạn bấy nhiêu. Những doanh nghiệp hoạt động trong môi trờng tơng
đối ổn định thờng có những kế hoạch dài hạn, tổng hợp và phức tạp trong khi
những doanh nghiệp hoạt động trong môi trờng động lại có những kế hoạch hớng
ngoại và ngắn hạn. Điều này giải thích một phần tại sao những kế hoạch phát triển
kinh tế Việt Nam trong thời kỳ bao cấp thờng tỉ mỉ và phức tạp thể hiện tính tĩnh,
trì trệ của môi trờng lúc bấy giờ.
4.4. Độ dài của những cam kết trong tơng lai
Kế hoạch phải đủ dài để có thể thực hiện đợc những cam kết có liên quan tới
việc đa ra các quyết định ngày hôm nay. Nói cách khác, kế hoạch dài hay ngắn là
phụ thuộc và kế hoạch đó nhằm thực hiện mục tiêu gì. Kế hoạch cho một thời gian
quá dài hay quá ngắn đều phi hiệu suất.
II. Quá trình lập kế hoạch
14
Khẳng định kế hoạch
bậc cao hơn

và kế hoạch chiến lợc. Mục đích của việc khẳng định này là để bảo đảm tính thống
nhất của kế hoạch, bảo đảm mục tiêu chung của tổ chức. Và để có thể tiến hành
phân tích mọi nguồn lực, hoạt động của chúng ta cần giới hạn hệ thống mà chúng
ta lập kế hoạch cho nó.
2. Nghiên cứu và dự báo
Nghiên cứu và dự báo là điểm bắt đầu của việc lập kế hoạch. Để nhận thức
đợc cơ hội cần phải có đợc những hiểu biết về môi trờng, thị trờng, sự cạnh tranh,
về điểm mạnh, điểm yếu của mình so với đối thủ cạnh tranh. Chúng ta phải dự đoán
đợc các yếu tố không chắc chắn (đe doạ) và đa ra phơng án đối phó. Việc lập kế
hoạch đòi hỏi phải có những dự đoán thực tế về cơ hội.
Ví dụ: Đối với Công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây
Trớc khi xây dựng một kế hoạch chiến lợc dù là dài hạn hay ngắn hạn thì cần
phân tích những vấn đề sau:
*Điểm mạnh của công ty
- Có tên tuổi trên thị trờng vì thời gian hoạt động lâu
- Có kinh nghiệm phục vụ, chăm sóc khách hàng
- Có cơ sở vật chất tơng đối tốt
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Có đội ngũ quản lý và các lái xe có trình độ
- Đa dạng về chủng loại xe
*Điểm yếu
- Có nhiều xe cũ, lạc hậu cần phải thay mới
- Tiềm lực tài chính hạn chế
- Kinh nghiệm về kinh doanh, khai thác khách hàng trên các vùng còn yếu
*Cơ hội
- Cơ chế thị trờng phát triển, nhu cầu đi lại nhiều
- Hoạt động buôn bán, trao đổi diễn ra rất đông, xuất hiện nhu cầu vận
chuyển hàng hoá giữa các vùng miền.
- Đợc nhà nớc khuyến khích, khích lệ, quan tâm

Chúng là những giả thiết về môi trờng mà trong đó ta muốn thực hiện kế hoạch,
điều quan trọng đối với tất cả những quản lý có liên quan tới kế hoạch là sự nhất trí
về các tiền đề. Trong thực tế, một trong những nguyên tắc cơ bản của lập kế hoạch
là các cá nhân đợc giao nhiệm vụ lập kế hoạch hiểu biết và nhất trí hơn trong việc
sử dụng các tiền đề thích hợp cho việc lập kế hoạch từ đó, kế hoạch của doanh
nghiệp đợc phối hợp chặt chẽ và hiệu quả.
Dự báo đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các tiền đề, loại thị tr-
ờng, số lợng sản phẩm sẽ bán, giá bán sản phẩm gì, những triển khai kỹ thuật nào,
chi phí gì, mức lơng ra sao, mức thuế và chính sách thuế, xây dựng nhà máy mới
nào, chính sách nào ảnh hởng tới lãi cổ phần, làm thế nào để có tài chính mở rộng
sản xuất kinh doanh, môi trờng xã hội và chính trị nh thế nào? Một số tiền đề dự
báo những chính sách vẫn còn cha đa ra. Ví dụ: một công ty không có kế hoạch hu
trí và không có chính sách về vấn đề này, các tiền đề lập kế hoạch đôi khi phải dự
đoán xem chính sách đó có đợc ban hành hay không. Nếu có thì nó gồm những gì,
các tiền đề khác phát sinh một cách tự nhiên từ các chính sách hiện hành hoặc từ
các kế hoạch khác. Ví dụ: nếu nh công ty có một chính sách không quá 2% lợi
nhuận trớc thuế và không có ý định thay đổi chính sách này thì chính sách đó trở
thành một tiền đề là lập kế hoạch. Hoặc nếu nh một công ty đã đầu t lớn vào một
nhà máy và các máy móc có mục đích riêng cố định thì điều này trở thành một tiền
đề cho việc lập kế hoạch. Vì tơng lai quá phức tạp, cho nên, việc lập các giả thiết về
mọi chi tiết của môi trờng tơng lai của một kế hoạch, có lẽ là không có lợi hoặc là
phi thực tế. Do cũng nh vấn đề thực hành khác, các tiền đề hoặc cấp thiết, dễ dẫn
tới một kế hoạch mà các tiền đề này có ảnh hởng nhiều nhất tới sự hoạt động của
kế hoạch đó.
Nếu tất cả các thành viên của ban lãnh đạo một công ty ở mọi cấp đều nhất
trí một cách độc lập về tơng lai của mình thì thật đáng ngạc nhiên. Một nhà quản lý
có thể mong muốn hoà bình thế giới trong 10 năm, một số ngời khác lại muốn
chiến tranh thế giới kéo dài cũng trong khoảng thời gian ấy. Một nhà quản lý này
mong giá cả tăng 10% trong 5 năm, ngời quản lý khác muốn tới 50% còn có ngời
lại muốn giảm giá cả xuống, nếu các nhà quản lý sử dụng tập hợp các tiền đề lập kế

+ Phải xác định đợc giải pháp của kế hoạch: trả lời cho câu hỏi: làm gì để
thực hiện mục tiêu
+Phải xác định các công cụ, nguồn lực để thực hiện mục tiêu (trả lời câu hỏi:
thực hiện mục tiêu bằng gì?)
ít khi một kế hoạch lại không có những phơng án lựa chọn hợp lý, vì rất th-
ờng xuyên gặp một phơng án mà rõ ràng nó cha phải là phơng án tốt nhất. Vấn đề
phổ biến hơn không phải là việc tìm ra các phơng án mà là giảm bớt các phơng án
cần lựa chọn để sao cho chỉ còn những phơng án có nhiều triển vọng nhất đợc đa ra
phân tích. Ngay cả sử dụng kỹ thuật toán học và máy tính cũng chỉ có thể đánh giá
kỹ đợc một số lợng nhất định các phơng án, do đó, các nhà phân tích lập kế hoạch
thờng phải thực hiện bớc khảo sát sơ bộ để phát hiện ra các phơng án có triển vọng
nhất.
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
6. Lựa chọn phơng án tối u
Để lựa chọn đợc phơng án tối u trớc tiên chúng ta cần phải đánh giá các ph-
ơng án có triển vọng nhất.
- Sau khi tìm đợc các phơng án và xem xét các điểm mạnh, điểm yếu của
chúng ảnh hởng đến việc thực hiện mục tiêu thì bớc tiếp theo chúng ta phải tìm
cách định lợng chúng dới ánh sáng của các tiền đề và các mục đích. Một phơng án
có thể có lợi nhuận cao nhất song cần vốn đầu t lớn, thời gian thu hồi vốn đầu t
chậm, phơng án khác có thể có ít lợi nhuận song cũng ít rủi ro hơn. Một phơng án
khác nữa có thể thích hợp với mục tiêu dài hạn của công ty.
- Trong trờng hợp mục tiêu duy nhất là muốn cực đại hoá lợi nhuận trớc mắt
của một doanh nghiệp nào đó, nếu tơng lai chắc chắn, khả năng dự trữ tiền mặt và
vốn đầy đủ và hầu hết các yếu tố có thể có nhiều số liệu xác định, thì việc đánh giá
các phơng án sẽ tơng đối dễ dàng. Nhng những ngời xây dựng kế hoạch thờng gặp
phải những yếu tố bất định, những vấn đề khan hiếm vốn và các yếu tố tàng ẩn
khác nhau, do đó, việc đánh giá các phơng án thờng gặp nhiều khó khăn, ngay cả
những vấn đề tơng đối đơn giản. Một công ty muốn đa vào sản xuất một dây truyền

để phụ trợ. Khi hãng hàng không quyết định mua một phi đội máy bay mới, quyết
định này là tín hiệu để xây dựng một loạt các kế hoạch phụ trợ nh thuê và huấn
luyện các loại nhân viên, mua sắm và cất giữ phụ tùng dự phòng, triển khai các ph-
ơng tiện bảo dỡng, thiết kế lập lịch trình, in quảng cáo các cấp phát tài chính và bảo
dỡng.
Sau khi quyết định đã công bố, kế hoạch đã xây dựng xong, bớc cuối cùng
làm cho các kế hoạch có ý nghĩa nh đã nêu khi thảo luận về các kế hoạch đó là l-
ợng hoá chúng, chuyển sang dạng ngân quỹ. Ngân quỹ là bản tờng trình các kết
quả mong muốn bằng các con số. Ngân quỹ là bản tờng trình các kết quả mong
muốn bằng các con số. Ngân quỹ ở đây không đơn thuần là ngân quỹ bằng tiền mà
còn có ngân quỹ thời gian, ngân quỹ nhân công, ngân quỹ máy móc thiết bị, ngân
quỹ nguyên vật liệu Ngân quỹ chung của doanh nghiệp biểu thị toàn bộ thu nhập
và chi phí, lợi nhuận hoặc số d tổng hợp. Các ngân quỹ của khoản mục cân đối
chính nh là chỉ tiêu tiền mặt hay chi phí đầu t, mỗi bộ phận hay chơng trình của
một doanh nghiệp hay tổ chức đều có thể có ngân quỹ riêng của mình, thông thờng
là các ngân quỹ về chỉ tiêu và chi phí đầu t mà chúng có liên hệ chặt chẽ với ngân
quỹ chung.
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
III. Phơng pháp lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
hàng năm trong doanh nghiệp
1. Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh
Việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc
có thể nói là một bớc ngoặt lớn trong định hớng phát triển kinh tế ở nớc ta. Sự
chuyển đổi cơ chế kinh tế đã tạo ra cho các doanh nghiệp rất nhiều thuận lợi, đó là
sự tự chủ, năng động trong sản xuất kinh doanh trên cơ sở pháp luật của nhà nớc, tự
do liên doanh, liên kết Bên cạnh những thuận lợi đó thì cơ chế thị tr ờng cũng tạo
ra những điều kiện và yêu cầu rất khắc nghiệt mà doanh nghiệp hoạt động này
muốn tồn tại phải đáp ứng tốt các yêu cầu và các điều kiện đó. Muốn vậy, các
doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác quản lý, trong đó công tác kế hoạch là

lợi nhuận của doanh nghiệp.
Hơn nữa, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần khai thác triệt
để mọi khả năng của doanh nghiệp thông qua cân đối giữa nhu cầu và khả năng.
Khi nhu cầu cao hơn khả năng, doanh nghiệp nên tập trung tìm ra biện pháp nhằm
đáp ứng đợc cao nhất nhu cầu thị trờng. Lúc này doanh nghiệp nên lựa chọn đoạn
thị trờng mà khả năng phục vụ của doanh nghiệp là tốt nhất, hiệu quả nhất và đi vào
khai thác nó chứ không nên đầu t dàn trải. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thể
phát huy đợc khả năng liên doanh, hợp tác kinh tế, tổ chức hoạt động thơng mại
(mua để bán) nhằm phục vụ khách hàng với chất lợng tốt nhất.
Ngợc lại, khi nhu cầu thấp hơn khả năng, ban lãnh đạo doanh nghiệp phải
tìm cách đa dạng hoá, mở rộng phạm vi hoạt động trong điều kiện mình có thể.
Đây là lúc cần sự linh hoạt của doanh nghiệp. Ngời lao động có thể tạm thời nghỉ
việc nhng máy móc thiết bị ngừng hoạt động vẫn bị hao mòn, những bất ổn định
khác xảy ra khi ngời lao động không có thu nhập. Chính vì vậy, hoạt động kinh
doanh tổng hợp luôn gắn liền với hoạt động chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền chủ động khai thác những sản phẩm t-
ơng tự, các sản phẩm phụ bên cạnh mặt hàng chủ đạo của mình để đa vào kế hoạch
sản xuất.
Mục tiêu lợi nhuận của các doanh nghiệp hiện là mục tiêu hàng đầu. Do đó,
kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải đảm bảo đem lại lợi nhuận tối
đa cho doanh nghiệp. Bằng cách lựa chọn đúng mặt hàng sản xuất mà doanh
nghiệp có u thế, sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trờng về số lợng, chất lợng,
tận dụng tối đa những cơ hội thị trờng mang lại cho doanh nghiệp, thực hiện phân
tích đánh giá hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế (thu>chi). Kế hoạch sản xuất đợc
lập sẽ giúp cho doanh nghiệp thu đợc lợi nhuận tối đa.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Qua sự phân tích trên cho thấy: Một kế hoạch chất lợng là cơ sở chuẩn bị tốt
các điều kiện, yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất hàng hoá của doanh nghiệp,
tổ chức tốt quá trình kết hợp giữa các yếu tố để sản xuất hàng hoá có chất lợng cao

hiện song lại bắt buộc về nội dung và phơng pháp tính toán. Trong điều kiện nền
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
kinh tế thị trờng, các chỉ tiêu này đợc áp dụng rộng rãi nhằm phục vụ hoạt động
thông tin kinh tế và phân tích các chỉ tiêu kinh tế quốc dân.
+Các chỉ tiêu tính toán: là các chỉ tiêu từng doanh nghiệp quy định và tính
toán phục vụ cho công tác quản lý và kế hoạch trong phạm vi doanh nghiệp
3. Những yêu cầu đối với công tác lập kế hoạch hàng năm của doanh nghiệp
Trong quá trình lập kế hoạch, các doanh nghiệp phải luôn quán triệt đợc các
yêu cầu chủ yếu sau đây:
+Công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp cần quán triệt yêu cầu hiệu quả.
Doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng phải là tiêu chuẩn hàng đầu cho
việc xây dựng, lựa chọn và quyết định phơng thức kinh doanh.
Để quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
- Xây dựng kế hoạch theo phơng thức hạch toán kinh doanh, bảo đảm
nguyên tắc lấy thu bù chi, kinh doanh có lãi.
- Đặt nền tảng hoạt động của doanh nghiệp trên nguyên tắc kinh doanh đích
thực, mọi sự trợ giá, hỗ trợ, bảo hộ sản xuất (nếu thấy thực sự cần thiết) nên thực
hiện bên ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Lấy nhu cầu thị trờng và các tiềm năng của doanh nghiệp là những căn cứ
hàng đầu trong quá trình xây dựng và điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh của
dn
+ Kế hoạch hoá doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu hệ thống đồng bộ. Nền kinh
tế quốc dân là một hệ thống nhất, bao gồm các phân hệ là các doanh nghiệp. Thực
hiện yêu cầu này, trong các khâu công tác kế hoạch hoá phải đảm bảo cho mục tiêu
hoạt động của doanh nghiệp đồng hớng và góp phần thúc đẩy việc thực hiện mục
tiêu bao trùm của cả hệ thống. Đồng thời bộ phận kế hoạch sản xuất kinh doanh
cũng phải đồng bộ, ăn khớp với các bộ phận kế hoạch khác của doanh nghiệp.
Để quán triệt yêu cầu này đòi hỏi
-Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch của doanh nghiệp phải gắn liền với đổi

Để quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
-Hoạch định lựa chọn và điều chỉnh các phơng án kinh doanh phải quán triệt
yêu cầu toàn diện và hệ thống. Cân đối giữa lợi ích cục bộ với lợi ích của nền kinh
tế quốc dân.
-Xử lý các quan hệ tài chính giữa nhà nớc với doanh nghiệp và với các phơng
án phân phối trong nội bộ doanh nghiệp.
-Trong giải quyết các mối quan hệ hợp tác liên doanh và liên kết kinh tế phải
trên nguyên tắc : bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau cùng có lợi.
4. Quan điểm khi xây dựng công tác kế hoạch
Sau hơn 10 năm đổi mới công tác kế hoạch ở các doanh nghiệp tuy đã có
nhiều biến chuyển tích cực song cũng có nhiều khó khăn và hạn chế. Vì vậy, kế
hoạch trong doanh nghiệp đang tiếp tục đợc đổi mới và hoàn thiện trên các mặt sau:
thực hiện cơ chế tự chủ trong quá trình xây dựng, điều chỉnh, tổ chức thực hiện và
đánh giá thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trờng đều phải hớng vào mục
tiêu lợi nhuận và phục vụ khách hàng. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự
nghiên cứu để nắm vững thị trờng, xác định phơng án kinh doanh trên cơ sở nhận
thức các cơ hội và rủi ro trên thị trờng. Về nguyên tắc trong điều kiện mới các
25

Trích đoạn Nguyên nhân của các tồn tại này Tăng cờng định mức kỹ thuật.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status