LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước có tới 80% dân số ở nông thôn, nên lực lượng lao động nữ ở khu vực
này cũng chiếm một lượng đáng kể. Theo số liệu điều tra của Bộ Lao động - Thương binh và xã
hội, hàng năm nước ta có khoảng 1,1 triệu người đến tuổi bổ sung vào lực lượng lao động xã hội
và làm cho sức ép về lao động và việc làm gia tăng. Lực lượng lao động lên tới 45 triệu người,
chiếm trên 53% dân số toàn quốc. Trong 80% lược lượng lao động sống ở nông thôn có tới
50,3% là lao động nữ, tương đương khoảng 16 triệu người. Sự tham gia của lao động nữ trong
nông thôn là rất quan trọng.
Hiện nay, vấn đề lao động ở nông thôn đang rất phức tạp, số lao động làm tại địa phương
trong độ tuổi lao động ít đa phần đi các địa phương khác hoặc ra thành phố để vào các công
ty, các doanh nghiệp hoặc xuất khẩu lao động. Một số lao động nữ trong nông thôn ngoài
làm những công việc trên họ còn đi làm trong các hộ gia đình để giúp việc: Nấu cơm, giặt
quần áo, trông nom người ốm hoặc trông trẻ em Như chúng ta đã biết phụ nữ Việt Nam cần
cù, chịu khó và có tính nhẫn nại nên thực tế, người phụ nữ trong nông thôn làm những công việc
trong gia đình là chủ yếu, làm nông nghiệp, một số làng nghề thì có số lao động nữ tham gia
nhiều hơn.
Trước đây, người ta quan niệm rằng vị trí của người phụ nữ trong gia đình ở nông thôn
gắn liền với công việc như tái sản xuất, không có lương và lương chính thức, trong khi nam giới
được xem là phù hợp với công việc như sản xuất, có lương và chính thức. Cách suy nghĩ như vậy
đã làm cho đa số phụ nữ có suy nghĩ an phận. Họ theo quan niệm người phụ nữ là phải chăm lo
cho gia đình, chăm sóc con cái cho nên ít người phụ nữ có tham vọng làm những công việc lớn
lao mang tính chất quyết định đến kinh tế xã hội trong địa phương hay nói cách khác là công việc
lãnh đạo. Tuy nhiên ngày nay quan niệm đó đã thay đổi ngay ở tròng nông thôn. Người phụ nữ
đã tham gia vào công việc xã hội nhiều hơn và trong số đó cũng đã có một số tham gia vào công
tác lãnh đạo địa phương. Bên cạnh đó những lao động có trình độ tay nghề, có trình độ học vấn
cũng được nâng cao do vậy đời sống kinh tế và chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn
cũng đã được nâng cao.
Ngoài ra, một số bất cập nữa là người phụ nữ thường an phận, có khả năng tiếp cận thông
tin chậm, khả năng di động ít do phụ nữ còn có thể sinh con. Trong bối cảnh hiện nay dân số tăng
nhanh khiến cho diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ngày càng giảm, thiếu việc làm
2
nhiên, một quá trình trong đó bằng sức lao động của chính mình, con người làm trung gian điều
tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự nhiên”.
Theo giáo trình của tổ chức lao động khoa học quốc tế: “lao động là hoạt động có mục
đích của con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại
và phát triển của xã hội loài người”.
Theo bộ luật lao động: “lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người tạo ra của
cải vật chất và giá trị tinh thần của xã hội”.
Với những khái niệm trên, theo chúng tôi thì lao động được hiểu là hoạt động có mục đích
và quan trọng nhất của con người, để tạo ra của cải vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu
về đời sống của bản thân, gia đình và toàn xã hội.
1.1.2. Nguồn lao động.
Theo từ điển thuật ngữ lao động Pháp: “nguồn lao động không gồm những người có khả
năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc.
Theo giáo trình kinh tế lao động của trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội nguồn lao
động là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động trừ đi những người trong độ tuổi này hoàn toàn mất
khả năng lao động.
Với quan niệm này nguồn lao động sẽ không bao gồm dân số ngoài độ tuổi lao động đang
thực tế làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
1.1.3. Lực lượng lao động.
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “lực lượng lao động là một bộ phận
dân số trong độ tuổi quy định, thực trạng đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có
nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc.
Người không thuộc lực lượng lao động là những đối tượng là học sinh, những người mất
khả năng lao động, nội trợ và những người đã nghỉ làm việc vì lý do sức khỏe, tuổi tác cao…”
1.1.4. Phân loại lao động
• Theo tính chất, đặc trưng của ngành nghề.
Lao động nông nghiệp là những người hoạt động, làm việc trong ngành nông nghiệp. Đây
là loại lao động phổ biến ở các nước đang phát triển.
3
1.2.2. Thất nghiệp.
4
Thất nghiệp là tình trạng một bộ phận trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng
không thể tìm được việc làm với mức tiền công không thấp hơn mức lương tối thiểu hiện hành
hay những người đang chờ được trở lại làm việc.
1.2.3. Thiếu việc làm
Người lao động thiếu việc làm được hiểu là người có thời gian làm việc dưới mức quy
định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm. Mức thời gian chuẩn tùy
thuộc vào từng nghành nghề và tính chất công việc theo quy định cụ thể trong từng thời kỳ.
1.2.4. Tạo việc làm.
Tạo việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường đảm bảo cho mọi người có
khả năng lao động đều có cơ hội việc làm. Bao gồm tổng thể các biện pháp kinh tế, tổ chức
nhà nước, các tổ chức kinh tế và của chính người lao động, tác động đến cac hoạt động kinh
tế - xã hội nhằm cải biến môi trường phap lý, tạo ra các điệu kiện vật chất, nâng cao trình
độ người lao động và liên kết các yếu tố yếu tố đó để tạo ra việc làm mới, thu hút người lao
động vào các hoạt động đó
2. Đặc điểm việc làm của lao động nữ.
2.1. Lý luận về giới và giới tính
Nam giới và nữ giới là 2 nửa hoàn chỉnh của loài người đảm bảo cho việc tái sản
xuất con người và tái sản xuất xã hội. Sự phân biệt về giới quy định thiên chức của họ trong gia
đình và cộng đồng. Do đó đảm nhận những khả năng xã hội khác nhau, vai trò của giới khác với
vai trò sinh học của nam và nữ giới.
Phụ nữ và nam giới khác nhau ở 2 phương diện thể chất và xã hội. Phương diện thể
chất chủ yểu liên quan đến đặc tính sinh học, còn phương diện xã hội chủ yểu liên quan đến vai
trò, vị trí chức năng của nam và nữ giới.
Giới tính là những sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa phụ nữ và nam giới. Sự
khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình sản xuất giống nòi. Vai trò sinh học đó là đồng nhất
và không biến đổi.
Giới là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, các đặc điểm khác nhau
do xã hội quyết định, các mối quan hệ giữa nam và nữ do xã hội xác lập nên. Các vai trò
- Việc làm của lao động nữ thường có thu nhập thấp.
Phần lớn lao động nữ sinh sống và làm việc ở nông thôn và không phải công việc nào
cũng mang lại thu nhập và thu nhập thấp hơn lao động nam. Đó là các hoạt động phúc lợi xã hội,
xây dựng các khu trường học, trạm xá hay đường giao thông…các hoạt động này tuy người lao
động không có thu nhập trực tiếp nhưng họ lại được hưởng thụ những thành quả lao động về sau.
- Chịu ảnh hưởng bởi phong tục tập quán của địa phương.
Gia đình người Việt nói chung, của đồng bào huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình nói riêng
theo chế độ phụ quyền, có tục lệ thờ cúng tổ tiên, duy trì nòi giống, nên rất coi trọng
con trai và vì thế đề cao vai trò của nam giới. Người đàn ông được coi là trụ cột trong
gia đình, phụ nữ được quan niệm là người trông coi việc bếp núc.
Nhiều tục lệ của làng xã được văn bản hóa thành hương ước trở thành công cụ để
quản lý làng xã. Trong nhiều hương ước đã sử dụng triệt để thiết chế dòng họ và giáp
để gạt bỏ quyền dân sự, chính trị của người phụ nữ. Phụ nữ không được ghi tên trong
sổ hàng xã, không được tham gia hội đồng kỳ mục, cơ quan có toàn quyền tuyệt đối
với công việc của làng xã.
6
Trong quan hệ gia đình, chỉ có người chồng mới là đại diện chính thức cho quyền
ngoại giao đối với dòng họ, cộng đồng làng xã trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mọi hành vi giao thiệp của người phụ nữ với bên ngoài chịu sự kiểm soát, phán xét
khắc nghiệt của chồng và gia đình nhà chồng cũng như cộng đồng.
2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động nữ.
- Điều kiện tự nhiên
Đây là điều kiện quan trọng, có khả năng tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho hoạt động sản
xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
Trên thực tế, sự giàu có về tài nguyên không tỷ lệ thuận với khả năng phát triển ổn định
của đất nước, dự trữ kinh tế của quốc gia cũng như sự phát triển ở mức cao trên mọi lĩnh vực của
đời sống kinh tế chính trị.
- Điều kiện kinh tế-xã hội.
Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động, là yếu tố quyết định số lượng lao động.
quy mô và cơ cấu của dân số có ý nghĩa quyết định đến quy mô cơ cấu của nguồn lao động nói
chiếm phần lớn trong lực lượng người lao động nghèo.
3.1.2. Giải quyết việc làm của lao động nữ ở một số nước trên thế giới.
a.Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới với hơn 1.2 tỷ người, trong đó gần 70%
dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có trên 10 triệu người tham gia vào độ tuổi lao
động nên có nhu cầu việc làm rất cao, lao động nữ chiếm 4,8 triệu người. Trước nhu cầu cấp bách
trên chính phủ Trung Quốc đã coi vấn đề việc giải quyết việc làm là một vấn đề quan trọng nhằm
để giải quyết vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm. Đặc biệt trong quá trình đô thị hóa như hiện
nay, vấn đề việc làm ngày càng trở nên gay gắt, sức ép về việc làm đã làm cho các nhà lập chính
sách gặp nhiều khó khăn, tình trạng thất nghiệp ngày càng nhiều, đặc biệt là lao động nữ. Thế
nhưng Trung Quốc đã rất thành công trong việc giải quyết vấn đề việc làm trong quá trình đô thị
hóa như hiện nay, đặc biệt là đối với lao động nữ bằng một số biện pháp như:
• Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút việc làm. Các doanh nghiệp đóng vai trò
chính trong việc thu hút lực lượng lao động nhàn dỗi ở nông thôn trong quá trình đô thị
hóa. Các chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước và sự đầu tư của kinh tế tư nhân
vào công cuộc phi nông nghiệp đã thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương. Với hai mô
hình doanh nghiệp tư nhân ở miền nam tỉnh Giang Tô và mô hình doanh nghiệp tập thể
thành phố Văn Châu đã cho thấy bước đi lên trong quá trình phát triển kinh tế và giải
quyết việc làm của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn.
Trong những năm đầu đã có đến gần 20% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ
các doanh nghiệp địa phương-> chứng tỏ Trung Quốc có ưu tiên hàng đầu là tạo ra cơ hội
việc làm cho lao động dư thừa trong quá trình đô thị hóa. Mô hình doanh nghiệp tập thể
HTX được hình thành trong thời kỳ đầu của công nghiệp hóa.
• Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào các thành phố lớn.
Chính phủ Trung Quốc chủ trương tạo điều kiện hình thành 19.000 đô thị nhỏ. Trong những
năm 1990 các đô thị nhỏ đã thu hút khoảng 17 triệu lao động nữ dư thừa, chiếm hơn 30% số lao
động nữ dư thừa.
• Ngoài ra Trung Quốc chủ trương thúc đẩy sự phát triển cá ngành công nghiệp địa phương,
qua đó đẩy nhanh quá trình hình thành các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn. Chính sách
này góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn.
lao động là nữ chiếm 50,6%.
Theo số liệu điều tra về lao động việc làm năm 2007, lao động nữ tham gia thị trường lao
động sớm hơn nam giới chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao. Phần lớn phụ nữ khi tốt nghiệp
THCS, THPT không tiếp tục học mà tham gia vào thị trường lao động và làm việc trong các lĩnh
vực dệt, may, da giày (78,5%); chế biến lương thực, thực phẩm (66,8%) v v Nhìn chung lao
động phổ thông nữ chiếm tỷ lệ cao nhất trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(62,9%) sau đó đến các doanh nghiệp tư nhân (62,6%) và doanh nghiệp nhà nước (49,1%). Trình
độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ trong các cơ sở sản xuất kinh doanh thấp hơn so với
nam giới.
9
Tình trạng có việc làm của lao động nữ cũng kém hơn lao động nam. Tỷ lệ lao động nữ
thất nghiệp ở thành thị cũng cao hơn mức chung của cả nước. Năm 2007, các nước có trên 2,5
triệu lao động thiếu việc làm, trong đó nữ chiếm 51,6%. Lao động thiếu việc làm chủ yếu tập
trung vào nông thôn (88,87%), khu vực lao động nữ chiếm số lượng lớn.
Trong khu vực có quan hệ lao động, phụ nữ chỉ chiểm 40% số việc làm được trả lương và
chiếm tỷ lệ thấp trong ngành nghề bậc cao (Quản lý, chuyên môn kỹ thuật ) chiếm tỷ lệ cao trong
nghề bậc trung và bậc thấp.
3.2.2. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
Qua thực tiễn giải quyết việc làm cho lao động nữ của các nước trên thế giới và thực tiễn
ở Việt Nam, ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm. Cụ thể như sau:
Trước hết, cần xác định đúng vị trí của nền kinh tế trong xu thế phát triển để từ đó đề ra
các chính sách thích hợp.
Một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại
hóa nông thôn là sự quan tâm của các cấp chính quyền đặc biệt trong việc tạo môi trường
pháp lý thuận lợi, khuyến khích phát triển nông thôn. Cần đẩy mạnh các chính sách hỗ
trợ, đào tạo nghề cho lao động nữ.
Tiếp tục hoàn thiện các chính sách đất đai, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người nông
dân và đồng thời thu hồi đất nông nghiệp, phục vụ cho sự nghiệp đô thị hóa và giải quyết
việc làm cho số lao động thiếu việc làm do mất đất. Phát triển nông nghiệp, nông thôn
trước hết phải nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo. Cần có sự phối hợp giữa địa phương
hang động hồ nước tạo cho nơi đây có cảnh quan thiên nhiên danh thắng tuyệt đẹp có tiềm năng
lớn về phát triển du lịch, dịch vụ. Vùng đất mới gồm Thị trấn Yên Thịnh và 10 xã phía Đông
Nam Huyện, được phù xa bồi đắp màu mỡ. Từ khi có đê Hồng Đức ruộng đồng được cải tạo
bằng phẳng có độ phì nhiêu hơn. Là huyện có địa hình không bằng phẳng, có vùng đồng bằng,
vùng chiêm trũng và vùng bán sơn địa.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Dân số và lao động
Dân số Yên Mô là 119.078 người. Lực lượng lao động của Yên Mô khá dồi dào, 63.349
người trong độ tuổi chiếm hơn một nửa dân số trong đó số người được đào tạo nghề là 1.055;
hàng chục nghìn người khác được truyền nghề qua lao động thực tế.
2.1.2.2. Hạ tầng kinh tế - xã hội
Trong xây dựng cơ sở vật chất, Yên Mô có tốc độ phát triển khá nhanh. Toàn huyện có
gần 250 km đường giao thông nông thôn trong đó 44,8 km đường nhựa, 174 km đường bê tông,
30,6 kms đường cấp phối. Đường nhựa, bê tông về tới 100% các trung tâm xã trong huyện; hầu
hết các thôn, xóm đều có đường ô tô, nhiều xóm 100% đường dong, đường ngõ đều được đổ bê
tông. Hệ thống thuỷ lợi đã đáp ứng yêu cầu tưới tiêu của hầu hết các khu đồng; 43/73 km kênh
mương cấp I đã được kiên cố hoá. Toàn huyện có 52 trạm biến áp với tổng công suất 9.840 KVA;
11
100% số xã, thôn, xóm có điện với 99,72% số hộ dân được dùng điện phục vụ sinh hoạt và sản
xuất. Năng lực cơ giới hoá trong sản xuất và đời sống ngày càng tăng, toàn huyện có hàng chục
xe ô tô tải và chở khách, hàng trăm xe công nông, hàng trăm thuyền máy, xe lam đáp ứng nhu
cầu vận tải hàng hoá, tuốt lúa, xay xát, làm đất và đi lại của nhân dân. 100% số xã trong huyện đã
có trạm bưu điện văn hoá; dịch vụ bưu chính viễn thông đã phủ sóng tới hầu hết các thôn; số
người sử dụng điện thoại ngày càng tăng.
Về giáo dục: Yên Mô có tới 18 trường mầm non; 21 trường tiểu học; 18 trường THCS; 2
trường THPT;
Về y tế: Yên Mô có 1 bệnh viện, 1 phòng khám khu vực và 18 trạm y tế xã, thị trấn với
180 giường bệnh; có 23 bác sỹ trong đó 10 bác sỹ làm việc tại các trạm y tế xã, thị trấn. Yên Mô
là đơn vị đã thanh toán và loại trừ được các bệnh bại liệt, phong, uốn ván sơ sinh, sởi, sốt rét, lao.
Nhiều năm nay trên địa bàn huyện không có dịch bệnh xảy ra
triển khai xây dựng. Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm đều tăng. Thu ngân sách nhà nước năm
2008 đạt trên 52 tỷ đồng, tăng gấp 10,5 lần so với năm 1995. Hoạt động ngân hàng và các quỹ tín
dụng nhân dân có hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân vay vốn phát triển sản xuất, kinh
doanh. Có thể nói, sau 15 năm nỗ lực phấn đấu, cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch
tích cực, đúng hướng; giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp tăng giá trị sản xuất công nghiệp, xây
dựng cơ bản và dịch vụ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu.
Huyện Yên Mô được chia thành các tiểu vùng gồm có thị trấn Yên Thịnh và 17 xã: Khánh
Thượng, Mai Sơn, Khánh Dương, Khánh Thịnh, Yên Thắng, Yên Hòa, Yên Phú, Yên Phong,
Yên Hưng, Yên Từ, Yên Thành, Yên Mỹ, Yên Nhân, Yên Mạc, Yên Lâm, Yên Thái, Yên Đồng.
Điểm nghiên cứu được lựa chọn dựa trên nguyên tắc là đại diện tương đối cho khu vực
nghiên cứu trên phương diện điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội của vùng. Căn cứ vào đặc điểm cụ
thể, tôi đã lựa chọn 3 xã đại diện cho huyện để tiến hành nghiên cứu:
• Yên Thành là một xã nằm ở huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình. Trụ sở xã nằm cách trung tâm
thành phố Ninh Bình 22 km. Xã phát triển các dịch vụ.
• Xã Yên Thái là một xã miền núi nằm ở phía nam huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình. Trụ sở
xã nằm cách trung tâm thành phố Ninh Bình 28 km. Đây là xã thuần nông.
• Yên Nhân là tên một xã nằm ở huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình. Trụ sở xã nằm cách trung
tâm thành phố Ninh Bình 23 km, xã phát triển làng nghề diệt chiếu.
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1. Thu thập thông tin đã được công bố
1
Số liệu về tình hình việc làm, lao
động của nữ giới ở địa bàn nghiên
cứu
Niên giám thống kê, báo cáo tổng kết của
phòn nông nghiệp, phòng LĐ-TBXH, báo
cáo của kết quả xã
2
của lao động: tên, tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình trạng hôn
nhân.
Các thông tin về việc làm: công việc 12 tháng qua, phân loại lao động, chế độ phúc lợi
XH được hưởng,…
Các thông tin về thu nhập: tổng thu nhập bình quân của lao động nữ, cơ cấu thu từ các
nguồn, tổng thu của cả gia đình…
Các thông tin về đời sống: nhà ở, nguồn nước, tiện nghi gia đình, vấn đề sức khỏe, quyền
quyết của gia đình,…
Kết quả SLĐ được điều tra và cung cấp thông tin như sau
Bảng số LĐN được điều tra ở các xã
Xã Yên Thái Yên Thành Yên Nhân Toàn vùng
Số LĐN được điều tra
(người)
45 40 45 130
Số bộ phiếu điều tra
được sử dụng
Tỷ lệ sử dụng (%)
c. Phỏng vấn bán cấu trúc
Phỏng vấn cán bộ xã, cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn, các hạt nhân như cán bộ phụ nữ xã,
đoàn thanh niên,…
Điều tra cán bộ xã: tìm hiểu số lượng lao động, nhu cầu của lao động và các hoạt động
đáp ứng của nhu cầu…
14
Điều tra cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn cơ sở để đành gí về nhu cầu đào tạo nghề và khả
năng đáp ứng của LĐN với công việc, những khó khăn của LĐN khi tìm việc…
2.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích thông tin.
- Thống kê mô tả: Mô tả tình hình chung của huyện về lao động, việc làm.
- Phân tổ thống kê: Phân tích sự khác nhau của lao động nữ theo xã, độ tuổi, khu vực địa lý trong
quá trình tìm kiếm việc làm.
4.1. Khái quát về lao động và lao động nữ nông thôn trên địa bàn huyện Yên Mô-Ninh Bình
4.1.1. Khái quát chung về dân số, lao động, lao động nữ trên địa bàn huyện Yên Mô.
Bảng 4.1. Cơ cấu dân số, lao động, lao đông nữ huyện Yên Mô năm 2010
Chỉ tiêu
Dân số Lao động Lao động nữ
Số lượng
(người)
Cơ cấu
(%)
Số lượng
(người)
Cơ cấu
(%)
Số lượng
(người)
Cơ cấu
(%)
Tổng số
1.Theo độ tuổi
15-24 tuổi
25-34 tuổi
35-44 tuổi
45-55 tuổi
Trên 55 tuổi
2.Theo ngành kinh tế
Nông nghiệp
CN-TTCN
Dịch vụ
3.Theo giới tính
Nam
môn
Đại học, cao đẳng
Trung cấp
Công nhân kỹ thuật
Chưa qua đào tạo
4.2. Biến động lực lượng lao động nữ trên địa bàn huyện Yên Mô.
4.2.1. Biến động về số lượng lao động nữ trên địa bàn huyện
Yên Mô giai đoạn 2008-2011
17
Bảng 4.3. Biến động số lượng LĐN
Chỉ tiêu
2008 2009 2010 So sánh (%)
Số
lượng
(người)
Cơ
cấu
(%)
Số lượng
(người)
Cơ
cấu
(%)
Số lượng
(người)
Cơ
cấu
(%)
2009
2008
(ngườ)
Cơ
cấu
(%)
Số
lượng
(ngườ)
Cơ
cấu
(%)
Số
lượng
(ngườ)
Cơ
cấu
(%)
2009
2008
2010
2009
Bình
quân
Tổng số
1.Theo
trình độ văn
hóa
Tốt nghiệp
THPT
Tốt nghiệp
THCS
2. Đinh Thị Khánh, 2009, “Nghiên cứu vấn đề việc làm của lao động nữ trên địa bàn Khánh
Dương - huyện Yên Mô - tỉnh Ninh Bình: Thực trạng và kiến nghị” Báo cáo tốt nghiệp khóa
50. Hà Nội”
3. Võ Ngọc Thanh, 2009, “Thực trạng việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động nữ
vùng Nam Dương - tỉnh Hoà Bình” Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Hà Nội.
4. “Khởi sắc vùng quê giàu truyền thống cách mạng”, truy cập trang
http://ninhbinh.gov.vn/web/guest/cac-huyen-thanh-pho-thi-xa/view?
assetpublish=50182&entries=cac_huyen_tp, truy cập lúc 10h ngày 14/10/2011.
5. “Vị trí địa lý”, truy cập trang http://yenmo.gov.vn/Yen-mo-trade-promotion-center-official-
website.gplist.295.gpopen.1172.gpside.1.gpnewtitle.vi-tri-dia-ly.asmx, lúc 15h ngày
15/10/2011
6. “ Giải quyết việc làm cho lao động nữ ở nông thôn: Đào tạo nghề, hỗ trợ vốn, nhân rộng
mô hình kinh tế gia đình” truy cập trang http://hoaphuongdo.vn/news/tin-tuc-su-
kien/kinh-te-doanh-nghiep/49428-giai-quyet-viec-lam-cho-lao-dong-nu-o-nong-
thon.html, lúc 17h ngày 15/10/2010.
21