Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
Mở Đầu
Sau hơn 15 năm đổi mới, kinh tế nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to
lớn, thể hiện tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng lên , còn tỷ trọng ngành nông
nghiệp giảm xuống, nhng về cơ bản chúng ta vẫn là một nớc nghèo và lạc
hậu, với đa số dân c sống tại khu vực nông thôn, thu nhập chủ yếu từ hoạt
động sản xuất nông nghiệp hoặc liên quan đến sản xuất nông nghiệp.
Đảng và Nhà nớc ta luôn có những chính sách u tiên cho phát triển
nông nghiệp, thông qua các nghị quyết của các kỳ họp Quốc hội, các chính
sách nông nghiệp... Đặc biệt là các chính sách cho phát triển nông nghiệp
miền núi.
Yên Bái là một tỉnh miền núi còn nghèo, ngời dân thuần nông chiếm
dân số phần lớn, kinh tế của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, đời sống đại bộ
phận ngời dân còn thu nhập thấp.
Nền nông nghiệp Yên Bái còn đang trong tình trạng kém phát triển, do
cha đủ vốn cung ứng phục vụ cho nhu cầu sản xuất, từ khâu nuôi, trồng và
đặc biệt là công nghệ sau thu hoạch.
Ngân hàng NNo&PTNT Yên Bái đang là một trong những NH thực
hiện tốt chức năng rót vốn vào nông nghiệp nông thôn, thực hiện mục tiêu
huy đông vốn nhàn rỗi để cho vay, bổ sung vào phần vốn thiếu hụt đáp ứng
ngay nhu cầu thiếu vốn của bà con nông dân, đảm bảo điều kiện kinh doanh
thuận lợi.
Trong quá trình thực tập tại NHNNo & PTNT Yên Bái em đã quyết
định chọn đề tài :
"Một số giải pháp huy động và cho vay tín dụng của Ngân hàng
NNo & PTNT nhằm đầu t phát triển nông nghiệp nông thôn Yên Bái"
Phơng pháp luận:
Kết hợp tính toán lô gíc cũng nh các con số thể hiện nội dung từng
phần, làm nổi bật nội dung của bài viết .
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong các kết quả đạt đợc trên đây, những kết quả là các tài sản vật
chất, tài sản trí tuệ, và nguồn nhân lực tăng lên có vai trò quan trọng trong
mọi lúc mọi nơi, không chỉ đối đối với ngời bỏ vốn mà đối với cả nền kinh tế.
Những kết quả này không chỉ ngời đầu t mà cả nền kinh tế đợc thụ hởng.
Theo nghĩa hẹp, đầu t chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội, những kết quả trong tơng
lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đợc các kết quả đó.
Nh vậy, nếu xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có hoạt động sử dụng
các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân
lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực
sẵn có thuộc phạm trù đầu t theo nghĩa hẹp hay phạm trù đầu t phát triển.
Định nghĩa về đầu t phát triển: Đầu t phát triển là hoạt động sử dụng
các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để
xây dựng, sửa chữa nhà cửa vật kiến trúc, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt
chúng trên nền bệ, bồi dỡng đào tạo nguồn nhân lực,thực hiện chi phí thờng
xuyên, gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực
hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực cho mỗi nền kinh tế - xã
hội, tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã
hội.
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
I.1.2 Phân loại hoạt động đầu t theo bản chất:
*> Đầu t tài chính : ( đầu t tài sản tài chính ) là loại đầu t trong đó ngời
đầu t có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hởng lãi
suất định trớc( gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc
vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu t tài
sản tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế ( nếu không xét đến
quan hệ taì chính trong lĩnh vực này) mà chỉ làm gia tăng giá trị tài sản tài
chính của các tổ chức, cá nhân đầu t ( đánh bạc nhằm mục đính thu lời cũng
phát triển.
_ Thời gian để tiến hành công cuộc đầu t cho đến khi cá thành quả của nó
phát huy tác dụng thờng đòi hỏi nhiều năm tháng voí nhiều biến động xảy ra.
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
_ Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn bỏ ra, đối voí cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thờng đòi hỏi nhiều năm tháng và
do đó không tránh khỏi sự tác động 2 mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố
không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị .
_ Các thành quả của đầu t phát triển có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm.
Điều này nói lên giá trị lớn lao của các thành quả đầu t phát triển .
_ Các thành quả của hoạt động đầu t là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà nó tạo dựng lên. Tạo điều kiện cho lao động địa phơng
có công ăn việc làm tăng thu nhập.
I.1.4- Vai trò của đầu t phát triển:
Lý thuyết của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lý thuyết của nền
kinh tế thị trờng, đều coi đầu t phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển
kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trởng. Nó thể hiện ở những mặt sau:
Trên giác độ nền kinh tế:
- Đầu t vừa có tác động tổng cung và vừa có tác động tổng cầu, đầu t là
yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu nền kinh tế.Đối với tổng cầu tác
động của đầu t là ngắn hạn khi tổng cung cha kịp thay đổi, sự tác động tăng
lên của đầu t làm cho tổng cầu tăng lên. Khi thành quả của đầu t phát huy tác
dụng các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung dài hạn tăng lên.
- Đầu t có tác động hai mặt đến là sự ổn định kinh tế: sự tác động không
đồng thời về mặt thời gian của tổng cung và tổng cầù, làm cho mỗi sự thay
đổi của đầu t, dù tăng hay giảm cung một lúc là yếu tố duy trì sự ổn định và
cũng là yếu tố phá vỡ sự ổn định nền kinh tế của một quốc gia.Chẳng hạn khi
đầu t tăng lên làm cho cầu tăng lên, khi cung cha kip tăng thì giá cả tăng lên
dẫn đến tình trạng lạm phát. Đến lợt mình lạm phát làm cho sản xuất đình trệ,
ngoài đều cần phải có vốn đầu t.
*> Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ:
- Đầu t quyết định sự ra đời tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Để tạo
dựng cơ sở vật chât kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào, đều phải
tiến hành xây dựng nhà xởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đạt các trang
thiết bị ..... và thực hiện các chi phí khác trong sự hoạt động của các chu kỳ
vật chất kỹ thuật vừa tạo ra.
I.2 - Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn.
I.2.1 - Khái niệm nông nghiệp, nông thôn.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân của mọi quốc gia- cả những nớc phát triển và những nớc đang phát
triển. Sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu về l-
ơng thực, thực phẩm cho cuộc sống con ngời; cung cấp nguyên liệu cho công
nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu để thu ngoại tệ. Theo nghĩa hẹp thông thờng
thì nông nghiệp đợc hiểu chỉ có 2 ngành là trồng trọt và chăn nuôi. Theo
nghĩa rộng nông nghiệp còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ng nghiệp.
Nông thôn trớc hết ngời ta hiểu đó là một vùng, khu vực có phạm vi
không gian cụ thể nhất định, mà bao trùm ở đó là cuộc sống cộng đồng nông
dân với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Thờng ngời ta hay so
sánh nông thôn với đô thị trên một số tiêu chí về số lợng dân c, mật độ dân số,
trình độ dân trí thực trạng cơ sở hạ tầng và cả thu nhập bình quân một ngời
trong một năm. Nhng rõ ràng các tiêu chí trên thì cha hoàn toàn chính xác,
bởi có sự khác nhau ở từng quốc gia.
Nh vậy với một vài tiêu chí đơn lẻ cha thể nói hết đợc một cách đầy đủ
về nông thôn khi mà ở nó có nhiều mối quan hệ chặt chẽ với nhau và từ đó ta
có thể khái niệm về nông thôn nh sau: Nông thôn là một vùng, một khu vực
trong đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân mà cuộc sống của họ gắn bó với
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
nông nghiệp. Là nơi có mật độ dân số, trình độ dân số, cơ sở hạ tầng, trình độ
thay thế đợc trong nông nghiệp, nếu thiếu ruộng đất thì hoạt động sản xuất
nông nghiệp không diễn ra.
*>Hoạt động sản xuất nông nghiệp có sự không trùng khớp hoàn toàn
giữa thời gian sản xuất và thời gian lao động, vì vậy nó có tính thời vụ rõ rệt
không thể xoá bỏ đợc. Tính thời vụ đợc biểu hiện: Trong thời vụ sản xuất thì
sức lao động, t liệu sản xuất đợc sử dụng không đồng đều (lúc cần nhiều, lúc
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
cần ít) sự không ăn khớp giữa chi phí sản xuất ở mỗi khâu và thu nhập ở từng
khâu ấy luôn phải gắn với sản phẩm cuối cùng.
*> Hoạt động sản xuất nông nghiệp gắn liền với môi trờng, có tác
động tới môi trờng trong sạch.
Do đặc tính sinh học, do tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp thì muốn
nâng có hiệu quả sản xuất nông nghiệp, cần phải thực hiện chuyên môn hoá
đi đôi với phát triển tổng hợp, phải có sự thống nhất giữa đơn vị sản xuất và
đơn vị phân phối. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại trở thành những hình thức tổ
chức sản xuất thích hợp thoả mãn yêu cầu đó.
I.2.3 - Vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong nền kinh tế quốc dân:
Từ khi con ngời ra đời tồn tại và phát triển, loài ngời luôn gắn liền với
những hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Con ngời trớc khi hình
thành các hoạt động đó đều phải có sự tiêu tốn một lợng t liệu sinh hoạt nhất
định. Điều đó đòi hỏi ngời ta phải sản xuất, trong đó sản xuất nông nghiệp là
hết sức cần thiết và quan trọng.
Việt Nam là một đất nớc nông nghiệp, với hơn 80% dân số là nông dân,
giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm 40% tổng giá trị của ngành sản xuất vật
chất ... càng làm nổi bật lên vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông thôn trong
nền kinh tế quốc dân. Vai trò đó là đặc biệt quan trọng, nó thể hiện:
Một là: Nông nghiệp, nông thôn là nơi tập trung các ngành kinh tế lớn
Nông, lâm, ng nghiệp, công nghiệp chế biến là các ngành sản xuất chủ
yếu trong nông nghiệp, nông thôn, chiếm tỷ trọng trên 27 % trong cơ cấu
cuộc tái thiết và phát triển kinh tế nớc nhà đòi hỏi trớc hết ở việc phát triển
nông nghiệp, nông thôn sự chuyển dịch dần cơ cấu kinh tế để từ đó giải
phóng và sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào này. Đây là
một vấn đề có ý nghĩa lớn trong chiến lợc phát triển kinh tế ở nớc ta hiện nay.
Bốn là: Nông nghiệp, nông thôn là nguồn cung cấp lơng thực thực
phẩm cho cuộc sống con ngời và nguyên liệu cho công nghiệp.
Cái tất yếu ngàn đời để bảo tồn và phát triển sự sống con ngời đó là l-
ơng thực, thực phẩm và rõ ràng nơi cội gốc sản sinh ra lơng thực, thực phẩm
chính là nông nghiệp.Nếu thiếu lơng thực con ngời không tồn tại
Công nghiệp phát triển và nhất là công nghiệp chế biến các sản phẩm
từ nông nghiệp ngày càng phát triển thì nông nghiệp, nông thôn là nơi chủ
yếu cung cấp nguyên liệu cho quá trình phát triển công nghiệp đó. Vì thế quy
mô và tốc độ phát triển nông nghiệp, nông thôn có tính quyết định đến quy
mô và tốc độ tăng trởng của sản xuất công nghiệp nhất là công nghiệp chế
biến.
Năm là: Nông nghiệp, nông thôn góp phần bảo vệ môi trờng và cân
bằng sinh thái:
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp và vùng nông thôn chiếm hầu hết
diện tích bề mặt của đất nớc. Việc phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ có vị
trí quan trọng trong duy trì, phát triển và bảo vệ môi trờng thiên nhiên trong
sạch, bảo đảm hệ cân bằng sinh thái. Nớc ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa quanh năm, điều đó có ảnh hởng thuận lợi đến sự phát triển toàn diện
và đa dạng nền nông nghiệp. Vấn đề đặt ra trong việc phát triển đó là phải xây
dựng một cơ cấu cây trồng hợp lý vừa có hiệu quả kinh tế vừa tránh đợc sự
huỷ hoại môi trờng, môi sinh.
Sáu là: Phát triển nông nghiệp là góp phần tạo ra nguồn ngoại tệ mạnh
để nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến nhằm rút ngắn thời gian
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
phát triển theo quy luật tự nhiên gắn liền với điều kiện tự nhiên. Chính vì thế
mà điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết có ý nghĩa rất to lớn đối với sản xuất
nông nghiệp. Nếu điều kiện thuận lợi thì giảm đợc phí cho những yếu tố đầu
vào mà vẫn tạo ra đợc sản phẩm có độ rủi ro thấp, nếu không thuận lợi thất
bát nh mất mùa, thiên tai dẫn đến sản lợng giảm và phí tăng làm cho chi phí
tăng lên; Chi phí ít để sản xuất ra những sản phẩm có chất lợng cao, có khả
năng cạnh tranh.
- Các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp:
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
Nhóm nhân tố này có liên quan đến khả năng quản lý phát triển sản
xuất, và phát huy đợc nguồn nội lực sẵn có. Thấy rõ đợc rằng hệ thống chính
sách kinh tế vĩ mô của nhà nớc có tác động rất lớn đến phát triển nông
nghiệp, nông thôn nh: Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chính
sách phát triển kinh tế nông thôn, chính sách khuyến khích xuất khẩu và đầu
t, chính sách ruộng đất, chính sách trợ giá đầu vào cho sản xuất nông nghiệp,
chính sách bảo hộ cho sản phẩm nông nghiệp, chính sách phân vùng kinh tế,
hình thành những vùng chuyên môn hoá có quy mô ngày càng lớn.
- Khoa học- kỹ thuật:
Khoa học kỹ thuật luôn là những nhân tố có tác dụng lớn đến việc tăng
năng suất, chất lợng và hạ giá thành sản phẩm. Việc ứng dụng các tiến bộ của
khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực lai tạo giống, sản xuất phân bón, thức ăn,
công nghệ sản xuất chế biến, chất lợng hạ tầng cơ sở vào quá trình sản xuất
đã làm cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn có những bớc tiến dài đem
lại hiệu quả kinh tế cao.
- Hợp tác và phân công lao động:
Mỗi một nớc khác nhau cũng nh mỗi vùng, mỗi khu vực trong phạm vị
một nớc thì nhu cầu về điều kiện sản xuất là đa dạng và phong phú, nó đòi hỏi
phải có sự trao đổi kết quả hoạt động ra bên ngoài ở mức độ, phạm vi khác
nhau. Thực tế đã chứng minh sự hợp tác trong sản xuất nông nghiệp đã đáp
nhng cha làm chuyển biến đợc một cách mạnh mẽ sự lớn mạnh của lực lợng
sản xuất: Các tài sản cố định trong nông nghiệp, nông thôn cha tạo đợc sự cân
đối giữa máy móc thiết bị và súc vật cày kéo, trình độ cơ giới hoá còn thấp.
- Quỹ đất đai còn hạn hẹp, bình quân đất nông nghiệp chỉ có 0,7 ha/1
lao động vào loại thấp nhất thế giới. Ruộng đất giao khoán tạo sự manh mún,
chia cắt không thuận lợi cho cơ giới hoá và công nghệ sinh học.Đặc biệt là
hoang phí bờ ruộng do việc ngăn cách các thửa ruộng giữa các hộ đang diễn
ra, gây một sự lãng phí rất dáng tiếc
- Thị trờng nông thôn kém phát triển, làm ra cây và con bán cho các th-
ơng nhân thờng bị ép giá gây thiệt đơn-thiệt kép. Cơ sở hạ tầng nông thôn
nhất là miền núi còn thấp kém, cha đầy đủ và không đồng bộ về số lợng, kém
về chất lợng theo yêu cầu sử dụng.
*> Các hợp tác xã ở nông thôn hoạt động kém hiệu quả không
vực dậy đợc kinh tế nông thôn.
*> T tởng trông chờ ỷ lại của một số ít cán bộ thôn bản làm tăng
lên sức ỳ cho kinh tế nông thôn.
I.2.5.2 - Nhu cầu vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trong quá trình phát triển của tất cả các nớc thì vốn luôn luôn là vấn đề
bức xúc, nổi cộm. Nớc ta, với điểm xuất phát thấp thì nhu cầu vốn cho thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và nhất là cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn luôn đòi hỏi một lợng vốn đủ lớn. Nhng
thực tế ở nớc ta hiện nay vẫn còn sự chênh lệchgiữa nhu cầu và khả năng
cung ứng vốn. Thực trạng đói vốn trong trong nông nghiệp, nông thôn hiện
nay đã ảnh hởng không nhỏ đến sự phát triển các ngành nghề trong nông
nghiệp, đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp, đến
việc xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ...
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
Theo dự tính của nhiều nhà kinh tế đợc Bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn tổng hợp lại cho thấy, để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ởng nền kinh tế, đồng thời làm tăng tích luỹ của khu vực nông thôn, tạo điều
kiện phát triển thêm lên các đơn vị kinh tế, các ngành nghề kinh tế tại khu
vực này. Công thức:
Sh = DI C
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
Trong đó Sh là tiết kiệm từ khu vực dân c.
DI là thu nhập sau thuế của khu vực dân c
C là chi thờng xuyên của khu vực dân c.
- Nguồn vốn đầu t từ các doanh nghiệp.
Đây là nguồn vốn của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp chế
biến nông, lâm, thuỷ sản tự bổ xung vốn để đầu t cho nhu cầu đổi mới trang
thiết bị, công nghệ sản xuất nhằm nâng cao năng lực hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp thực hiện ứng vốn cho nông dân
thông qua hình thức ký kết các hợp đồng kinh tế, các giao kèo thoả thuận với
nông dân trong việc nông dân bán sản phẩm nông nghiệp cho doanh nghiệp.
Đây là một kênh chuyển vốn vào nông nghiệp, nông thôn, nó là cần thiết
trong điều kiện các nguồn vốn khác cha đáp ứng đợc đầy đủ.Công thức:
Sc = Dp +Pr
Trong đó: Sc là tiết kiệm của các doanh nghiệp.
Dp là quĩ khấu hao của doanh nghiệp.
Pr là lợi nhuận để lại doanh nghiệp.
- Nguồn vốn đầu t từ nớc ngoài:
Vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài (FDI) và vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) là nguồn vốn lớn rất cần đối với nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Nó trở thành một bộ phận đáng quan tâm của hoạt động đầu t toàn xã hội.
Thực tế hoạt động đầu t từ nớc ngoài vào nớc ta ngày càng đợc mở rộng
tới các vùng, các địa phơng nhờ có sự hợp lý của luật đầu t nớc ngoài. Nguồn
Hay nh luật ngân hàng của ấn Độ năm 1950, đợc bổ xung năm 1959
nêu ngân hàng là các cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài
trợ, đầu t.v.v..
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhng qua phân tích các định
nghĩa đó, ngời ta dễ dàng nhận thấy các ngân hàng đều có chung một bản
chất đó là nhận tiền gửi ký thác tiền gửi không kỳ hạn,và tiền gửi có kỳ
hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ chiết khấu, cho vay và các dịch vụ cho vay
khác của chính ngân hàng.
Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc,thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần
theo định hớng xã hội chủ nghĩa, mọi hoạt động kinh doanh theo pháp
luật.Các doanh nghiệp không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh
trớc pháp luật, trong đó có qui định riêng về tổ chức tín dụng.
Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có nêu: tổ chức
tín dụng là doanh nghiệp đợc thành lập theo luật này và các qui định khác của
pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội
dung nhận tiền gửi, và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch
vụ thanh toán.
I.3.1.2- Đặc trng kinh doanh của ngân hàng thơng mại (NHTM).
Hoạt động kinh doanh trên thị thờng tài chính bao gồm nhiều loại hình
tổ chức kinh doanh tiền tệ,chúng là những tổ chức môi giới tài chính, hoạt
động nh những chiếc cầu chuyển tải những khoản tiền nhàn rỗi tiết kiệm tích
luỹ đợc trong dân c, đến tay những ngời có nhu cầu chi tiêu cho đầu t. Nhng
giữa chúng lại có sự khác nhau về tính chất cũng nh đối tợng và phong pháp
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
kinh doanh. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ những nguyên nhân lịch sử và chế
độ kinh tế, ngày nay chúng đều là những sản phẩm của thể chế mỗi nớc.
Lịch sử của NHTM là kinh doanh tiền gửi, từ chỗ làm dịch vụ nhận tiền
gửi, với t cách là ngời thủ quĩ bảo quản tiền cho chủ sở hữu để nhận những
dắt thị trờng.
*> NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế:
Nền kinh tế thị trờng khi mà mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng đ-
ợc mở rộng, nhu cầu giao lu kinh tế xã hội giữa các nớc trên thế giới ngày
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, và là bộ phận cấu
thành nên sự phát triển đó. Vì vậy nền tài chính của các nớc phải hoà nhập với
nền tài chính thế giới.
NHTM cùng hoạt động kinh doanh của mình phải đóng một vai trò vô
cùng quan trọng trong quá trình hội nhập.Với các nghiệp vụ kinh doanh của
mình NHTM tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thơng không ngừng phát triển và
mở rộng.
Thông qua các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối,quan hệ
tín dụng với các NH nớc ngoài, hệ thống NHTM đã thực hiện đợc vai trò điều
tiết nền tài chính trong nớc, phù hợp với sự vận động của nền tài chính thế
giới.
I.3.1.4- Những đặc điểm riêng biệt của NH Nno&PTNT Việt Nam.
Ngân hàng NNo&PTNT việt Nam có những đặc điểm riêng biệt sau:
*> Đó là NHTM quốc doanh kinh doanh tiền tệ bình thờng nh bao NHTM
khác trên thị trờng nông thôn.Việc tạo vốn và cho vay theo cơ chế thị trờng :
cũng bị cạnh tranh, bảo toàn vốn, và sinh lời sau qúa trình phục vụ nông
nghiệp, nông thôn trên cơ sở vay để cho vay.Vì vậy trong quá trình hoạt
động NH thực sự phải tôn trọng theo nguyên tắc của kinh tế thị trờng.
*> Ngân hàng NNo&PTNT đang thực hiện nhiều nhiệm vụ của một NH
chính sách, nó có trách nhiệm thực hiện mục tiêu của nhà nớc(chơng trình l-
ơng thực, chơng trình phát triển nhà ở của đồng bằng sông Cửu Long, chơng
trình khắc phục hậu quả thiên tai, xoá đói giảm nghèo, tài trợ vùng sâu vùng
xa...).
I.3.2.1- Khái niệm huy động vốn:
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà NH huy động từ các tổ chức
kinh tế, cá nhân trong xã hội, thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín
dụng, thanh toán các nghiệp vụ kinh doanh khác và đợc dùng làm vốn để
kinh doanh.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau,
NH chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu, và có trách nhiệm hoàn
trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến hạn( tiền gửi có kỳ hạn )hoặc khi họ có nhu
cầu rút vốn ( tiền gửi không kỳ hạn).
I.3.2.2- các loại hình huy động vốn:
*> Tiền gửi : bao gồm 2 loại là tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ
hạn.
+ Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà ngời gửi có thể rút ra sử
dụng bất cứ lúc nào, và NH phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng, tiền
gửi không kỳ hạn lãi suất thấp hoặc không đựoc trả lãi, bao gồm 2 loại tiển
gửi sau:
- Tiền gửi thanh toán: Đó là các loại tiền gửi không kỳ hạn trớc hết đ-
ợc sử dụng để tiến hành thanh toán, chỉ trả cho các hoạt động mua bán hàng
hoá dịch vụ và các khoản phát sinh khác trong quá trình kinh doanh một cách
thờng xuyên, an toàn thuận lợi.
- Tiển gửi không kỳ hạn thuần tuý: là khoản tiền gửi với mục đích an
toàn, không mang mục đích thanh toán, khi cần khách hàng có thể rút tiền ra
chi tiêu.
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
+ Tiển gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền
gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm, đây là nguồn tơng đối ổn định.khi đến
hạn khách hàng mới đựơc rút ra
*>-Tiền gửi tiết kiệm: xét về bản chất đây là một phần thu nhập của cá
nhân cha sử dụng cho tiêu đùng. Họ gửi vào NH với mục đích tích luỹ một
- Nguồn vốn này phải ổn định về mặt thời gian( tránh rủi ro về mặt thời
gian). Nếu NH huy động đợc một lợng vốn lớn cho đầu t, nhng không ổn
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
định thờng xuyên- kéo theo đó là vốn cho vay không lớn, NH thờng xuyên lo
vấn đề thanh toán. Do đó ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của NH.
*> Chỉ tiêu 2: Chi phí huy động:
- Chi phí huy động đợc đánh giá cao qua chỉ tiêu lãi suất huy động bình
quân, lãi suất huy động từng nguồn, chênh lệch lãi suất đầu ra-đầu vào, đồng
thời cũng thông qua chi phí phát hành. Việu NH giảm chi phí huy động bằng
việc giảm lãi suất huy động, thì việc huy động vốn sẽ rất khó khăn. Ngợc lại
khi lãi suất huy động càng cao thì lãi suất cho vay ra càng cao, gây khó khăn
cho ngời vay tiền, gây ra hiện tợng ứ đọng vốn tại NH, khi đó NH phải trả lãi
cho ngời gửi tiền trong khi khoản tiền này không sinh lãi.
*> Chỉ tiêu 3: Khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh.
- Chỉ tiêu này đợc đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động và nhu
cầu vay vốn. Từ đó có thể xác định đợc nguồn vốn có thể huy động là bao
nhiêu và nhuồn vốn cần phải huy động thêm là bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu
đó.
Để đạt đợc mục tiêu này, NH phải đạt ra cơ cấu huy động vốn trụng dài
hạn một cách hợp lý.
*> Chỉ tiêu khác:
- Thời gian, mệnh gía huy động vốn hợp lý.
- Mức độ thuận tiện cho khách hàng: đánh gía qua các thủ tục nhận tiền,
làm các dịc vụ kèm theo.
- Thời gian hoàn thành vốn so với qui định.
I.3.2.5- Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng huy động vốn.
*> Nhân tố chủ quan:
- Các hình thức huy động vốn: đây là một trong những nhân tố quan
trọng, ảnh hởng đến tình hình vốn tại NH. Hình thức huy động vốn càng
quan hệ kinh tế, giữa chủ thể sở hữu và chủ thể sử dụng đối với nguồn vốn
nhàn rỗi trong nền kinh tế, là sự chuyển quyền sử dụng một lợng giá trị hiện
vật theo những điều kiện cho hai bên cho vay- đi vay thoả thuận trên nguyên
tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Trong nền kinh tế hàng hoá cho vay là tất yếu
khách quan, nó ra đời và bắt nguồn từ đặc điểm chu chuyển vốn tạo ra giữa
nơi cần vốn và nơi tạm thời có vốn nhàn rỗi.
Lịch sử hình thành và phát triển quan hệ cho vay cho thấy: lúc đầu là
cho vay nặng lãi, gắn liền với sản xuất hàng hoá nhỏ lẻ và lạc hậu; kế tiếp là
cho vay thơng mại rồi đến cho vay tại NH.
Cho vay tại NH: Là quan hệ cho vay giữa NH với các doanh nghiệp,
hộ gia đình.... thực hiện trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi, thông qua các
nghiệp vụ kinh doanh của mình NH đáp ứng phần lớn vốn cho nền kinh tế.
I.3.3.2 - Các hình thức cho vay và các phơng thức cho vay
I.3.3.2.1 - Các hình thứccho vay.
Theo các tiêu thức phân chia khác nhau có các hình thức cho vay( tín
dụng) ngân hàng khác nhau:
*> Căn cứ vào thời gian hình thành trong quan hệ với khách hàng:
- Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay mà thời hạn cho vay đợc
xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của
khách hàng nhng không vợt quá 12 tháng. Cho vay ngân hàng thực hiện bù
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
đắp sự thiếu hụt vốn lu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân.
-Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 1
năm đến 5 năm.
- Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm nhng
không quá 15 năm, dùng để đầu t vào các chơng trình, dự án có quy mô lớn,
thời hạn thu hồi vốn lâu.
Việc phân chia mức cho vay ngân hàng theo tiêu thức thời gian nh trên
+Cho vay không chính thức: Là các hình thức cho vay không đợc pháp
luật thừa nhận. Hình thức cho vay này nó ra đời, tồn tại gắn liền với sự phân
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
chia giai cấp trong xã hội loài ngời dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo mà nảy
sinh quan hệ vay mợn lẫn nhau với lãi suất cao.
Cho vay chính thức luôn là nguồn cung ứng vốn lớn nhất và ngày càng
lấn át, chiếm lĩnh thị trờng nông nghiệp, nông thôn. Trong các chủ thể tham
gia thì Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn với màng lới rộng
khắp đất nớc đã, đang và sẽ giữ vai trò nòng cốt trong việc cấp vốn cho phát
triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn, thực sự mang lại lợi ích cho phát triển
kinh tế.
I.3.3.2.2 - Các Phơng thức cho vay:
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng của từng khoản vốn vay của khách hàng và
khả năng kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay của ngân hàng
mà ngân hàng nơi cho vay thoả thuận với khách hàng vay về việc lựa chọn
phơng thức cho vay theo các phơng thức cho vay sau:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng nơi cho
vay làm thủ tục vay vốn theo quy định của ngân hàng và ký hợp đồng tín
dụng. Phơng thức này áp dụng đối với những khách hàng vay vốn không th-
ờng xuyên, có nhu cầu và đề nghị vay vốn từng lần.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng:
Phơng thức này áp dụng đối với khách hàng vay ngắn hạn có nhu cầu
vay vốn thờng xuyên, sản xuất kinh doanh ổn định, có uy tín trong quan hệ
tín dụng với ngân hàng. Ngân hàng nơi cho vay cùng khách hàng vay xác
định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thơì gian nhất định
hoặc theo một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhng tối đa không quá 12 tháng.
- Cho vay theo dự án đầu t:
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu t phát
triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống, các dự án
kênh dẫn vốn khác nhau. Trong đó, cho vay tín dụng của ngân hàng thực sự
là một luồng dẫn vốn quan trọng.
Vai trò cho vay tín dụng của ngân hàng đối với nông nghiệp nông thôn
nh là một đòn bẩy, là động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo
hớng CNH-HĐH, nâng cao đời sống dân sinh, tạo tiền đề cho sự tăng trởng
kinh tế và đổi mới. Vai trò cho vay tín dụng của ngân hàng đối với quá trình
phát triển nông nghiệp, nông thôn đợc thể hiện trên một số nội dung sau:
Thứ nhất: cho vay tín dụng của ngân hàng góp phần hình thành và
phát triển thị trờng tài chính ở nông thôn.
Thị trờng tài chính ở nông thôn bao gồm thị trờng vốn và hoạt động tín
dụng. Cho vay tín dụng là cầu nối giữa tích luỹ, tiết kiệm và đầu t, thực sự là
trung gian giữa những ngời cần vốn và ngời có vốn tạm thời nhàn rỗi nhằm
phục vụ quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá.
Ngân hàng một mặt cấp vốn cho phát triển sản xuất nông nghiệp, nông
thôn. Mặt khác, những khoản tiền nhàn rỗi tạm thời của các doanh nghiệp,
các hộ gia đình, cá nhân trong nông thôn còn có thể đầu t tài chính thông qua
các công cụ của thị trờng vốn nh cổ phiếu, trái phiếu ...
Sự hình thành thị trờng tài chính và tín dụng nông thôn đã là bớc khởi
đầu cho sự tạo ra thị trờng vốn ở nông thôn đợc hoàn chỉnh và sớm đi vào
hoạt động.
Nớc ta là một nớc nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở nông thôn,
lao động trong nông nghiệp chiếm khoảng 70% lao động xã hội, với trên 12
Nguyễn Trung Thu luận văn tốt
nghiệp
triệu hộ sản xuất nông, lâm, ngh nghiệp và tạo ra gần 50% tổng sản phẩm xã
hội... vì thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là tất yếu.
Để thực hiện đa nền sản xuất nông nghiệp lên trình độ cao thì vấn đề đặt ra là
phải tiếp tục tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trờng trong đó có thị
trờng vốn và tiền tệ, nhất là thị trờng vốn trung và dài hạn ở nông thôn để tạo
ra động lực cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Hệ thống kết cầu hạ tầng là bức tranh quy chiếu trình độ văn minh của một xã
hội, một cộng đồng. Kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn bao gồm: