nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin phòng bệnh vi khuẩn bằng phương pháp mô bệnh học - Pdf 25

10
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HUYỀN
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ VIÊM CỦA CÁ GIÒ (RACHYCENTRON
CANADUM) SAU KHI TIÊM VẮC XIN PHÒNG BỆNH VI KHUẨN
BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ BỆNH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Quảng Ninh, tháng 11 năm 2014
11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HUYỀN
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ VIÊM CỦA CÁ GIÒ (RACHYCENTRON
CANADUM) SAU KHI TIÊM VẮC XIN PHÒNG BỆNH VI KHUẨN
BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ BỆNH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 60620301

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Vân
Quảng Ninh, tháng 11 năm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin thích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Quảng Ninh,25 tháng 11 năm 2014
Tác giả

LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược tình hình nuôi cá giò trên thế giới 3
1.2. Tình hình nuôi cá giò ở Việt Nam 4
1.3. Tình hình bệnh Vibriosis trên cá giò 5
1.3.1. Tình hình bệnh Vibriosis ở cá giò trên thế giới 5
1.3.2. Tình hình bệnh Vibriosis ở cá giò tại Việt Nam 6
1.4. Sử dụng vắc xin trong nuôi trồng thủy sản 7
1.4.1. Tình hình sử dụng vắc xin trong NTTS trên thế giới 7
1.4.2. Tình hình và triển vọng sử dụng vắc xin trong NTTS ở Việt Nam 10
1.4.3 Vắc xin bất hoạt có sử dụng chất bổ trợ 11
1.5. Biến đổi mô tế bào tại vùng tiêm vắc xin 12
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
2.2. Đối tượng nghiên cứu 15
2.3. Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1. Các nội dung thực hiện 16
2.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu mô học 17
2.3.4. Phương pháp xác định các loại tế bào 19
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
iv
3.1. Kết quả nghiên cứu 22

1.3.2. Tình hình bệnh Vibriosis ở cá giò tại Việt Nam 6
1.4. Sử dụng vắc xin trong nuôi trồng thủy sản 7
1.4.1. Tình hình sử dụng vắc xin trong NTTS trên thế giới 7
1.4.2. Tình hình và triển vọng sử dụng vắc xin trong NTTS ở Việt Nam 10
1.4.3 Vắc xin bất hoạt có sử dụng chất bổ trợ 11
1.5. Biến đổi mô tế bào tại vùng tiêm vắc xin 12
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
2.2. Đối tượng nghiên cứu 15
2.3. Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1. Các nội dung thực hiện 16
2.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu mô học 17
2.3.4. Phương pháp xác định các loại tế bào 19
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
vi
3.1. Kết quả nghiên cứu 22
3.1.1. Đặc điểm mô học cơ cá giò khỏe 22
3.1.2. Mô cơ cá giò 7 ngày sau khi tiêm các loại vắc xin và nhũ dầu 23
3.1.3. Mô cơ cá giò 14 ngày sau khi tiêm các loại vắc xin và nhũ dầu 34
3.1.4. Mô cơ cá giò 21 ngày sau khi tiêm các loại vắc xin và nhũ dầu 44
3.2. Thảo luận 53
3.2.1. Quá trình viêm 53
3.2.2. Bước đầu đánh giá hiệu quả của các loại vắc xin nhũ dầu 54
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
4.1. Kết luận 56
4.2. Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Tài liệu tiếng Việt 57
Tài liệu tiếng Anh 58

Quang Huy, 2005). Dịch bệnh là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới sự
sụt giảm năng suất của các loài nuôi thủy sản, trong đó có cá giò. Đối với cá giò,
nếu như vi rút là tác nhân gây tỷ lệ chết cao ở giai đoạn cá giống thì vi khuẩn
Vibrio (gây bệnh Vibriosis) lại là tác nhân gây bệnh chủ yếu ở giai đoạn cá
thương phẩm (Lopez và ctv, 2002). Cá giò bị bệnh Vibriosis thường có tỷ lệ chết
trên 80% (Liu và ctv, 2004) trong đó cá dưới 4 tháng tuổi, <500 gam được cho là
nhạy cảm nhất với bệnh này với tỷ lệ chết cao lên đến 100% (Lin và ctv, 2005).
Khi cá bị bệnh do vi khuẩn, trong đó có bệnh Vibriosis trên cá giò, người
nuôi dùng kháng sinh để trị bệnh. Tuy nhiên điều này dẫn đến ô nhiễm môi
trường và không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Chính vì vậy, liệu pháp
phòng bệnh bằng vắc xin trong nuôi trồng thủy sản đang là hướng đi mới của các
nhà khoa học trong và ngoài nước. Hiện nay, các loại vắc xin thương mại cho cá
trên thế giới thường ở dạng tiêm, mặc dầu các loại vắc xin khác như ngâm, phun
và trộn vào thức ăn cũng đang được nghiên cứu. Sau khi tiêm vắc xin ở cơ lưng
xảy ra biến đổi mô học tại vùng tiêm, sự biến đổi này được gọi là phản ứng
viêm. Vùng xảy ra phản ứng viêm được gọi là vùng viêm và trong vùng này có
sự hiện diện của các ổ viêm khác nhau. Đối với loại vắc xin tiêm thì việc nghiên
cứu sự biến đổi mô cũng như sự có mặt của các tế bào miễn dịch tại vùng tiêm
vắc xin trên cá là hết sức cần thiết để có thể đánh giá được hiệu quả của vắc xin.
2
Chính vì vậy luận văn tốt nghiệp với tiêu đề: “nghiên cứu cơ chế viêm của cá
giò (Rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin phòng bệnh vi khuẩn bằng
phương pháp mô bệnh học” được thực hiện và là một phần của đề tài nghiên
cứu cấp nhà nước nói trên.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
 Nghiên cứu sự biến đổi mô học tại vùng tiêm vắc xin.
 Bước đầu nghiên cứu khả năng gây đáp ứng miễn dịch của các loại vắc
xin khác nhau.
1.3. Nội dung nghiên cứu
 So sánh sự biến đổi mô cơ cá giò tại vị trí tiêm ở 7, 14, 21 ngày sau khi

G.S; Nazar, A.K.A; Kalidas, C; Tamilmani, G; Sakthivel, M; Maharshi, V.A.
and Rao, K.S, 2011).
4
Năm 2011 công ty sản xuất cá giò Antillana của Colombia đã sản xuất
được 140 tấn cá giò nuôi lồng, Mỹ là thị trường chính của loại cá này. Cá giò
được coi là hướng đi chủ chốt cho sự phát triển của các doanh nghiệp thủy sản
tại Châu Mỹ La Tinh, nhằm cạnh tranh với các nước Châu Á và áp đảo trên thị
trường thế giới trong những năm qua. Theo thống kê của FAO, Đài Loan là nước
sản xuất cá giò lớn nhất thế giới với sản lượng hàng năm khoảng 4000 tấn.
1.2. Tình hình nuôi cá giò ở Việt Nam
Nuôi cá biển đang là hướng phát triển mới của nghề nuôi trồng thủy sản
tại Việt Nam với mục tiêu đến năm 2015 đạt sản lượng là 1 triệu tấn cá biển (Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2006). Cá giò là một trong những loài cá
biển nuôi phổ biến ở nước ta và đã được xác định là đối tượng nuôi chủ lực của
nghề nuôi biển do nhu cầu của thị trường cao và đặc biệt là đã chủ động được
việc sản xuất giống nhân tạo. Việt Nam sản xuất giống cá giò thành công vào
năm 1999 (Nguyễn Quang Huy, 2002, 2003). Cá giò được nuôi tại Việt Nam
bằng quy mô trang trại hộ gia đình (khoảng 1.000 tấn, chủ yếu là cho tiêu thụ
trong nước) cũng như trang trại hợp tác xã (khoảng 1.600 tấn / năm, chủ yếu là
để xuất khẩu) (Nguyễn Quang Huy, 2008; Như Văn Cẩn và ctv, 2010).
Hiện nay cá giò đang được nuôi ở nhiều tỉnh ven biển như Quảng Ninh,
Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Khánh Hoà, Vũng
Tàu, Kiên Giang. Ở miền Nam và miền Trung Việt Nam, sản lượng cá giò thu
được chủ yếu được xuất khẩu sang Đài Loan và Nhật Bản, là nơi đầu mối đầu tư
kinh doanh của các nhà sản xuất chính (Svennevig và Nguyễn Quang Huy,
2005). Đặc biệt, hiện nay đã có 3 công ty 100% vốn nước ngoài đầu tư vào Việt
Nam chỉ để nuôi cá giò phục vụ xuất khẩu.
Việt Nam được xem là nước đứng “hàng thứ 3” trên thế giới về sản xuất
giống và nuôi cá giò (Niels Svennevig, 2001). Công nghệ nuôi chủ yếu là nuôi
theo lồng, bè với hai kiểu lồng cơ bản là lồng kiểu Nauy và lồng chi phí thấp,

6
4 tháng tuổi, <500 gam dường như nhạy cảm nhất với tỷ lệ chết cao nhất do các
tác nhân gây bệnh thuộc giống Vibrio gây ra (Lin và ctv, 2006).
Vibrio anguillarum là một tác nhân chính gây bệnh Vibriosis trên cá
giò. Bệnh thường bùng phát thành dịch vào cuối mùa hè ở vùng biển gần bờ khi
nhiệt độ tăng. Vibriosis ảnh hưởng đến gần 50 loài cá biển và cá nước ngọt (Woo
và Bruno, 1999). Cá giò bị nhiễm V.anguillarum thường có những biểu hiện như:
xuất huyết ở mắt, vây, ở bề mặt bụng và nội tạng (Toranzo và ctv, 2003).
Năm 2001, lần đầu tiên cá giò nuôi tại Đài Loan bị bệnh Vibriosis. Bệnh
này có thể xảy ra trên cá giò ở các kích cỡ khác nhau. V.alginolyticus đã thấy
xuất hiện trên cá giò ở kích thước 100-120gam và 8-12gam nuôi tại Đài Loan. V.
alginolyticus được báo cáo là một tác nhân gây bệnh chủ yếu cho cá giò nuôi ở
Đài Loan (Liu và ctv, 2004). Cá giò nhiễm V. alginolyticus thường có biểu hiện:
bơi lờ đờ, da tối và một số cá mắt bị hỏng.
Tác nhân gây bệnh Vibriosis là V.alginolyticus và V.parahaemolyticus
xuất hiện trên cá giò nuôi tại Đài Loan gây chết nghiêm trọng với tỷ lệ sống dưới
20% (Lin, Chen, Yang và ctv, 2005). Vào tháng 8 nẳm 2001 tại Đài Loan xác
định được V.harveyi (V.carchariae) là tác nhân gây ra viêm dạ dày và ruột ở cá
giò nuôi. V.harveyi được phân lập từ đợt bùng phát dịch bệnh nghiêm trọng trên
cá giò (Lee, Lin, Liu, 2003).
Vibrio vulnificus cũng đã được xác định là một tác nhân gây bệnh cho cá
giò nuôi. Khi cá bị nhiễm V. vulnificus thường biểu hiện dấu hiệu bệnh lý xuất
huyết bên ngoài mang, đầu, bụng và các gốc vây, đặc biệt là các vây ngực cùng
với xuất huyết trong gan và ruột. Triệu chứng đôi khi có thể là viêm loét vây
lưng và cơ bụng (Li và ctv, 2006).
1.3.2. Tình hình bệnh Vibriosis ở cá giò tại Việt Nam
Cá giò là đối tượng đang được nuôi phổ biến ở vùng ven biển, đặc biệt ở
Hải Phòng, Quảng Ninh và Khánh Hòa. Do môi trường nuôi ngày càng ô nhiễm
nên dịch bệnh thường xuyên xảy ra, làm giảm năng suất cá nuôi.
7

vắc xin phòng bệnh vi khuẩn và 2 loại vắc xin phòng bệnh vi rút được đăng ký
bản quyền và sử dụng cho 6 đối tượng nuôi phổ biến trên 41 quốc gia trên thế
8
giới bao gồm cá hồi, cá chẽm châu Âu, cá chẽm châu Á, cá rô phi và cá Bơn
đuôi vàng. Tại Na Uy, việc sử dụng vắc xin phòng bệnh do vi khuẩn rất có hiệu
quả. Những nghiên cứu trước đây cho thấy phòng bệnh cho cá bằng vắc xin ở
quy mô thương mại đã được thực hiện rất hiệu quả trong nghề nuôi cá hồi nhằm
phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn: bệnh do Vibrio (Vibriosis), bệnh do Vibrio
mùa lạnh (cold water Vibriosis), bệnh xuất huyết đường tiêu hóa (enteric
redmouth-ERM), bệnh lở loét (furunculosis) (Ellis 1997; Gudding và ctv, 1997).
Hiện nay, có nhiều phương pháp sử dụng vắc xin trong NTTS khác nhau
như: tiêm, cho ăn, ngâm, tắm, phun…Tuy nhiên, phương pháp tiêm được áp
dụng khá phổ biến nhất là trong nghề nuôi cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar).
Tiêm vắc xin có thể tiêm xoang bụng hoặc tiêm cơ. Nhiều tác giả thông báo rằng
việc tiêm kháng nguyên vào cơ tạo nên lượng kháng thể lớn hơn so với tiêm vào
xoang bụng (Rijkers và ctv, 1980). Cá giống được tiêm vắc xin vào xoang bụng
nhiều tháng trước khi đưa cá ra nuôi lồng ở biển. Đây là phương pháp có hiệu
quả nhất để kích thích sản xuất kháng thể toàn thân cũng như tạo được hiệu quả
bảo vệ tốt nhất. Phương pháp này cũng cho phép việc sử dụng chất bổ trợ nhằm
gia tăng đáp ứng miễn dịch. Ví dụ như: Tiêm SRBC (sheep red blood cell) vào
cơ cá chép tạo nên lượng kháng thể cao hơn so với tiêm vào tĩnh mạch (Rijkers
& ctv, 1980). Ngoài ra còn phải kể đến các nhân tố khác tác động tới hiệu quả sử
dụng vắc xin ở cá như tuổi cá, mùa vụ, nhiệt độ (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2004).
Chất bổ trợ là chất làm tăng đáp ứng miễn dịch, bao gồm nhiều chất khác
nhau, cơ chế tác dụng của chúng rất đa dạng và nhiều trường hợp vẫn chưa được
làm rõ. Trong đáp ứng miễn dịch dịch thể, đặc biệt với kháng nguyên phụ thuộc
tuyến ức, có thể được tăng cường khi kết hợp kháng nguyên với chất bổ trợ như
trường hợp vắc xin phòng bệnh Aeromonas (Paterson và ctv, 1981) hoặc BKD
(Klonz và ctv, 1983). Trong các trường hợp này có lẽ có vai trò tăng cường đáp
ứng miễn dịch của kháng nguyên hoặc có tác dụng kích hoạt đáp ứng miễn dịch

nhiều so với động vật trên cạn.
- Tăng lợi nhuận nhờ tăng tỷ lệ sống và giảm hệ số thức ăn nhờ nâng cao được
sức khỏe cá.
10
- Giảm thiểu lượng thuốc, hóa chất, đặc biệt là kháng sinh sử dụng trong quá
trình nuôi do đó giảm giá thành sản phẩm.
- Thân thiện với môi trường.
- Nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cho cá thu hoạch, đảm bảo an
toàn cho người tiêu dùng trong và ngoài nước.
- Cải thiện được thương hiệu của sản phẩm thủy sản trên thị trường thế giới và
góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản do các doanh nghiệp xuất và nhập
khẩu yên tâm vì chất lượng sản phẩm từ nuôi trồng thủy sản ở các nước trên thế
giới được đảm bảo.
- Góp phần quan trọng trong sự phát triển nuôi lồng bè một cách bền vững
(Phạm Văn Thư, 2006).
1.4.2. Tình hình và triển vọng sử dụng vắc xin trong NTTS ở Việt Nam
Ngày 03/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 332/QĐ-TTg
phê duyệt đề án phát triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 với mục tiêu đến
năm 2020 sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt trên 4,5 triệu tấn, giá trị kim ngạch
xuất khẩu từ nuôi trồng thủy sản đạt 5 - 5,5 tỷ USD, giải quyết việc làm cho
khoảng 3,5 triệu người. Để đạt được mục tiêu như trên thì việc phát triển cần có
quy họach cụ thể, trong đó quản lý dịch bệnh cho các đối tượng nuôi thủy sản
được đặt lên hàng đầu. Nhiều giải pháp để quản lý dịch bệnh đã và đang được áp
dụng như cải tạo ao kỹ, chọn giống tốt sạch bệnh, quản lý tốt môi trường, quan
tâm đến dinh dưỡng, quản lý việc sử dụng thuốc và hóa chất nhưng hiệu quả vẫn
chưa cao (Bùi Thị Bích Hằng, 2010). Trong số các bệnh của thuỷ sản thì nguyên
nhân chủ yếu là do vi khuẩn gây ra với những ổ dịch có qui mô lớn. Thông
thường, người ta sử dụng thuốc kháng sinh để kiểm soát các vi khuẩn gây bệnh.
Do việc sử dụng không đúng cách và quá nhiều các loại thuốc kháng sinh nên đã
gây ra hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc (antibiotic resistence) và tích tụ dư

làm tăng khả năng kích thích miễn dịch và tăng hiệu lực của vắc xin. Bao gồm:
chất bổ trợ vô cơ, hữu cơ (nhũ dầu) và sinh vật (xác vi khuẩn, nội độc tố của vi
khuẩn). Tác dụng của chất bỗ trợ:
12
- Kích thích miễn dịch do bản thân chất bổ trợ gây phản ứng viêm nhẹ, kéo
theo hay tăng sinh các đại thực bào và các tế bào có thẩm quyền miễn dịch khác.
- Hấp thụ kháng nguyên, khoanh vùng kháng nguyên, làm chậm quá trình giải
phóng kháng nguyên tại vị trí tiêm, do đó kháng nguyên tồn tại lâu trong cơ thể,
kéo dài sự trình diện kháng nguyên.
- Kích thích sự hoạt động của tế bào tình diện kháng nguyên cho cơ quan
Lympho để quá trình phân tích trình diện kháng nguyên đạt hiệu quả.
- Chất bổ trợ sinh vật có tác dụng kích thích tế bào miễn dịch (Phạm Văn Tý,
2001).
1.5. Biến đổi mô tế bào tại vùng tiêm vắc xin
Khi tiêm vắc xin, tại vùng tiêm sẽ xảy ra biến đổi mô tế bào rõ rệt. Đặc
trưng của biến đổi mô này chính là phản ứng viêm. Viêm là hiện tượng xảy ra ở
tổ chức tế bào, là phản ứng phòng vệ của sinh vật trước sự tấn công hay kích
thích từ bên ngoài lên cơ thể thông qua phản xạ của hệ thống thần kinh. Đây là
một quá trình bệnh lý cơ bản, bao gồm một số quá trình nhỏ sau:
• Biến đổi về chất của tổ chức tế bào tại vùng tiêm vắc xin
Khi tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể sẽ xảy ra đáp ứng miễn dịch, biến
đổi mô tế bào và phản ứng viêm bắt đầu. Biến đổi về chất của tế bào ưu tiên
chính giữa ổ viêm, còn xung quanh biến đổi về chất không rõ ràng. Nguyên nhân
làm biến đổi chất của mô tế bào do trao đổi chất bị rối loạn, thiếu dinh dưỡng
cung cấp đến do kích thích cơ học và hóa học của tác nhân lạ xâm nhập khi tiêm
vắc xin. Mặt khác hệ thống tuần hoàn bị rối loạn, làm tế bào bị hoại tử. Kết quả
của quá trình này là tạo ra các chất phân giải như protein và các axit hữu cơ
(Sinh lý học, 2006).
• Tăng cường sự thẩm thấu của các tế bào máu và dịch thể
Khi cơ thể sinh vật có phản ứng viêm, dịch thể và các tế bào máu thẩm

Lympho bào tại ổ viêm. Bạch cầu trung tính tập trung khoảng 1 giờ sau khi tiêm
tác nhân gây viêm và số lượng sẽ đạt cực đại sau 48 giờ (Afonso và ctv,1998).
Phản ứng viêm được kích ứng và kiểm soát bởi một số yếu tố, bao gồm các amin
gây giãn mạch, các bổ thể, eicosanoid và cytokine được giải phóng trong đáp
14
ứng đối với tổn thương mô hoặc sản phẩm của các tác nhân gây bệnh. Các amin
gây giãn mạch (5-hydroxytryptamin) là các nhân tố tiền phát, phản ứng nhanh.
Sau đó các yếu tố mới được tổng hợp như eicosanoid và cytokine sẽ thu hút và
hoạt hóa các bạch cầu. Sau khi tới ổ viêm, bạch cầu sẽ giải phóng các yếu tố
nhằm điều hòa phản ứng viêm (Secombes, 1996) (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2004).
Theo Phạm Văn Tý (2001), tế bào Đại thực bào có tác dụng bắt giữ, tiêu
kháng nguyên lạ thành mảnh peptid để tiến hành trình diện kháng nguyên. Việc
xuất hiện của Đại thực bào nhiều sẽ làm cho việc trình diện kháng nguyên có
hiệu quả. Vài trò của tế bào Lympho là thực hiện đáp ứng miễn dịch . Việc tăng
tế bào Lympho sẽ tăng khả năng sinh kháng thể.
15
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian thực hiện từ tháng 2 năm 2014 tới tháng 8 năm 2014
- Địa điểm:
+ Tiến hành bố trí thí nghiệm và thu mẫu tại Cam Ranh - Khánh Hòa.
+ Tiến hành phân tích và xử lý mẫu tại: Phòng Bệnh cá - Trung tâm Nghiên cứu
Quan trắc cảnh báo môi trường và Phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu vực miền
Bắc - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 (Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh).
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Perciformes
Họ: Rachycentridae
Giống: Rachycentron (Kaup, 1826)

Thu mẫu mô ở 7, 14, 21 ngày sau khi tiêm
Đọc kết quả
Kết luận và đề xuất ý kiến

Trích đoạn Mô cơ cá giò 21 ngày sau khi tiêm các loại vắc xin và nhũ dầu Quá trình viêm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status