MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Về mặt lý luận
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra những yêu cầu to
lớn về chất lượng nguồn lực con người. Đó là sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và một cách khái quát nhân cách nói chung của con người
Việt Nam, mà trước hết là của thế hệ trẻ.
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng
đầu. Đảng đòi hỏi phải " Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước,
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn,
lịch sử dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân
và tiền đồ của đất nước " ( Đại Hội Đảng VIII ). Từ đó cho thấy, giáo dục đạo đức
là một trong những điểm chủ yếu, cốt lõi xuyên suốt và giữ vị trí chủ đạo trong toàn
bộ quá trình giáo dục nhân cách, đào tạo con người trong nhà trường ở nước ta, đặc
biệt là trong nhà trường phổ thông, đối với học sinh ở lứa tuổi thiếu niên.
1.2. Về mặt thực tiễn
Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, những vấn
đề cần được quan tâm đó là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, cũng như giữ gìn
truyền thống đạo đức, lối sống phong tục tập quán. Nhưng hiện nay, một số bộ phận
thanh thiếu niên lại đang có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá
nhân phát triển theo hướng lệch lạc, kém ý thức trong các quan hệ cộng đồng, thiếu
niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn
vào những việc xấu như: thiếu trung thực trong học tập và thi cử, không lễ phép với
thầy cô, chửi bậy, bạo lực học đường, mua điểm, mua bằng cấp…Thêm vào đó là
sự gia tăng không ngừng của những tệ nạn xã hội đang có xu hướng du nhập vào
nhà trường gây ảnh hưởng lớn tới HS như: ma túy, rượu chè, cờ bạc, cá độ
Tại các trường THPT, tỉ lệ số HS vi phạm đạo đức đang có chiều hướng gia tăng,
tình trạng học sinh kết thành băng nhóm gây nên bạo hành, bạo lực trong trường
học đáng được báo động. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Bộ Công An, thì
1
có tới 55 – 65% số người phạm tội ở nước ta những năm gần đây là thanh, thiếu
Hoàng – Hà Nội, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và đáp ứng yêu cầu
phát triển mới của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh THPT.
3.2. Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPTDL Đinh Tiên
Hoàng – Hà Nội.
3.3. Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học
sinh trường THPTDL Đinh Tiên Hoàng – Hà Nội.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trường
THPTDL Đinh Tiên Hoàng– Hà Nội.
4.2. Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường
THPTDL Đinh Tiên Hoàng– Hà Nội.
5. Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPTDL Đinh Tiên Hoàng đã
được quan tâm nhưng chưa có hệ thống, chưa được tổ chức thực hiện một cách
thường xuyên và đồng bộ. Nếu đề xuất một số biện pháp mang tính khoa học và
thích hợp, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh
trường THPTDL Đinh Tiên Hoàng – Hà Nội.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu, sách báo, giáo trình, bài giảng có liên quan đến
vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh; Tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ
thống hóa những vấn đề cơ bản của đề tài làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn các
biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp quan sát :
3
Tiến hành theo dõi, quan sát các hành vi hành động của học sinh thông qua các
hoạt động.
“Đạo đức” là một từ Hán Việt, “Đạo” là con đường để theo đó ta đi, cũng có nghĩa
là lẽ phải, là đạo lý theo đó ta hành động. “Đức” là toàn bộ những hành vi đối nhân
xử thế của con người, mà những phẩm chất của hành vi đó tốt hay xấu là do con
người có biết và có thực hiện được đạo lý hay không. Khái niệm đạo đức thường
được dùng với hai ý nghĩa: trong đời sống hằng ngày và trong khoa học.
Đạo đức trong đời sống hằng ngày người ta thường dùng khái niệm đạo đức theo
nghĩa để nhận xét, đánh giá thái độ, hành vi của mọi người trong XH. Ở góc độ
khoa học các nhà đạo đức học phân tích khái niệm đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội đặc trưng của xã hội loài người, nó có tính lịch sử xã hội, chi phối bởi
những điều kiện khách quan của kinh tế, xã hội, dân tộc, lịch sử.
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng 2002 thì
“Đạo đức là những nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, qui định hành vi
quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”, “là phẩm chất tốt đẹp của
con người do tu dưỡng theo những chuẩn mực đạo đức mà có”.
Đối với kết quả nghiên cứu của chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước
do GS.TS. Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, được trình bày trong tác phẩm “Về sự
phát triển toàn diện của con người thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa” thì “Đạo
đức theo nghĩa hẹp là luân lí, những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con
người với con người, với công việc, với bản thân kể cả thiên nhiên và môi trường
sống”.
Như vậy: “ Đạo đức là một hình thái ý thái xã hội, là tổng hợp những quy tắc,
chuẩn mực xã hội nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao
cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và với tiến bộ xã hội, trong các
quan hệ giữa con người với con người, con người với cá nhân trong xã hội ” ( Phạm
Khắc Chương và Hà Nhật Thăng – Đạo đức học ( Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội –
5
2001 ). Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dưới
những phạm trù:
• Thiện và ác
• Có lương tâm và bất lương
không. Chủ quan là xem xét các động cơ của hành vi đạo đức có mang tính vụ lợi
hay ích kỷ không.
Một hành vi đạo đức chỉ có giá trị đạo đức về bản chất có sự thống nhất giũa các
lợi ích chung mang tính XH cao với sự tự nguyện, tự giác, vô tư của hành vi.
1.1.2. Giáo dục
- GD ( theo nghĩa rộng ) là quá trình tác động có mục đích có tổ chức, có kế hoạch
có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà GD tới người được GD trong
cơ quan GD, nhằm hình thành nhân cách cho họ.
- GD ( theo nghĩa hẹp ) là quá trình hình thành cho người được GD lý tưởng, động
cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi thói quen
cư xử đúng đắn trong XH thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu.
1.1.3. Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là hoạt động của nhà GD dựa theo yêu cầu của XH, tác động có
hệ thống lên người được GD một cách có mục đích và có kế hoạch để bồi dưỡng
những phẩm chất những tư tưởng mà nhà GD kỳ vọng, chuyển hóa những quan
điểm những yêu cầu và ý thức XH có liên quan thành phẩm chất đạo đức và tư
tưởng của mỗi cá nhân.
GDĐĐ trước hết phải là một quá trình, quá trình này không nóng vội mà nó diễn
ra trong suốt quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một con người. Qúa
trình này đồng thời tác động cả 3 mặt:
• Hình thành nhận thức về lý tưởng, cuộc sống, chuẩn mực đạo đức của XH.
• Hình thành thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức.
• Hình thành hành vi, thói quen đạo đức.
* Một số nguyên tắc GDĐĐ:
7
- GDĐĐ cần phải có sự kế thừa và phát huy những truyền thống đạo đức tốt đẹp của
dân tộc, kết hợp tiếp thu những chuẩn mực đạo đức và kinh nghiệm thời đại một
cách có chọn lọc.
- Trong quá trình GDĐĐ phải coi trọng và kết hợp chuẩn mực đạo đức với GD pháp
luật. Người công dân có đạo đức và tuân thủ theo pháp luật luôn đòi hỏi có sự thống
Trong quá trình giáo dục đạo đức, nhà GD cần phải linh hoạt, sáng tạo tìm kiếm
những biện pháp GD thật sự phù hợp với từng nội dung, với từng đối tượng, từng
tình huống GD một cách cụ thể, nhằm thúc đẩy người được GD có được ý thức sâu
sắc, đầy đủ về các chuẩn mực hành vi, có tình cảm tốt đẹp với nó và tự giác chuyển
hóa những chuẩn mực hành vi đạo đức đó thành hành vi và thói quen hành vi đạo
đức của chính bản thân mình.
1.2 . Một số vấn đề chung về giáo dục đạo đức cho học sinh.
1.2.1. Ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Trong công cuộc xây đựng và đổi mới đất nước, GDĐĐ cũng là một trong những
vấn đề quan trọng, là trọng tâm hàng đầu trong sự nghiệp GD & ĐT đất nước, cũng
như đối với toàn XH.
- GD đạo đức có vai trò thúc đẩy sự ổn định lâu dài của XH. XH ổn định chính là
tiền đề, là cơ sở để phát triển, chính là đảm bảo cho sự ổn định lâu dài của XH. Lý
tưởng, niềm tin, đạo đức được hình thành qua công tác ở trong và ngoài nhà trường.
- GD đạo đức có vị trí hàng đầu và chủ đạo trong GD nhà trường, GDĐĐ với tư
tưởng định hướng rõ ràng có vai trò định hướng cho các nội dung GD khác. Nhà
trường thông qua việc thực hiện công tác GD có thể nâng cao hiệu quả GD, thúc
đẩy hoàn thành các nhiệm vụ GD khác.
- Đối với sự phát triển của thanh thiếu niên, GD đạo đức giúp thế hệ trẻ hình thành
hệ thống lập trường chính trị, quan điểm, thế giới quan Macxit và phẩm chất đạo
đức phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH. Trước xu thế hội nhập của thế giới
hiện đại, GDĐĐ trong nhà trường giữ vai trò quan trọng trong định hướng cuộc
sống và lựa chọn giá trị của thế hệ trẻ.
1.2.2. Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức.
GDĐĐ cho HS bao gồm các nhiệm vụ chính sau:
• Giáo dục ý thức đạo đức
9
- GD trước hết là qúa trình tác động vào mặt nhận thức, làm cho mỗi con
người trước hết có ý thức về mục đích, ý nghĩa và giá trị cuộc sống, hiểu được chân
lý lẽ phải, tính nhân văn nhân đạo trong các mối quan hệ XH, từ đó hình thành thế
- Mục đích cuối cùng của quá trình GDĐĐ là tạo lập cho con người những
hành vi, thói quen có văn hóa và chúng phải được thể hiện trong cuộc sống hằng
ngày. Con người được GD cũng đồng nghĩa con người đã hình thành thói quen có
văn hóa.
- Hành vi, thói quen văn hóa chính là kết quả của nhận thức đồng thời là biểu
hiện cụ thể sinh động nhất của thái độ và niềm tin của con người. Hành vi, thói
quen được hình thành trong hoạt động trong tình huống cụ thể, đó là sản phẩm của
quá trình học tập, tu dưỡng và luyện tập lâu dài. Hành vi có văn hóa khi đã trở
thành thói quen sẽ làm một hệ thống vững chắc, sẽ tự động hóa thể hiện trong cách
ứng xử ở mọi tình huống của cuộc sống hàng ngày.
- Đối với HSTHPT để GD hành vi, thói quen đạo đức cần tổ chức các hoạt
động tập thể và hoạt động vui chơi ngoại khóa cho HS, qua đó quá trình GDĐĐ sẽ
mang tính hiệu quả cao hơn.
1.2.3. Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh
Các nội dung GDĐĐ cho học sinh bao gồm:
- GD lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- GD chủ nghĩa yêu nước.
- GD lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản.
- GD chủ nghĩa tập thể.
- GD lòng nhiệt tình, hăng say lao động, có ý thức bảo vệ tài sản XHCN.
- GD dân chủ và pháp chế XHCN.
- GD hành vi văn minh trong XH, GD ý thức công dân và các nội dung giáo dục
đạo đức mới XHCN.
Nội dung chủ yếu của GDĐĐ phải phù hợp với yêu cầu của công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước, thực hiện theo ý nguyện của Đảng đó là: Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
11
1.2.4. Các bước quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh
Bước 1: Quá trình tác động nâng cao nhận thức về tư tưởng, chính trị đạo
đức làm cơ sở cho sự hình thành, phát triển và thể hiện các hành vi đạo đức.
người và dân tộc. Trong GD nói chung và GDĐĐ nói riêng, thường dùng các nhóm
PP sau:
a. Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân.
Nhóm PP này bao gồm các PP sau:
- Đàm thoại: Là PP trò chuyện chủ yếu giữa nhà GD và người được GD về các
chủ đề đạo đức, thẩm mỹ dựa trên một hệ thống câu hỏi nhất định.
- Giảng giải: Là PP dùng lời nói trình bày, giải thích, chứng minh các chuẩn
mực XH nhằm giúp người được GD hiểu và nắm được ý nghĩa, nội dung,
quy tắc thực hiện những chuẩn mực này.
- Nêu gương: Là PP dùng những tấm gương cụ thể sống động, để kích hoạt
người được GD bắt chước hoặc né tránh.
b. Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành kinh nghiệm ứng xử
XH
Nhóm PP này bao gồm các PP:
- PP đòi hỏi sư phạm: Là PPGD trong đó nhà GD nêu lên những yêu cầu, đòi
hỏi với tập thể, cá nhân HS. Tổ chức, giám sát việc thực hiện các yêu cầu đó
ở HS nhằm đạt được các mục tiêu GD đã đề ra.
- Luyện tập: Là PP tổ chức cho người được GD lặp đi lặp lại một cách có
thường xuyên, có hệ thống các thao tác, các sinh hoạt và hành động nhất
định nhằm biến chúng thành kỹ năng, kỹ xảo, thói quen cần thiết.
- Rèn luyện: Là PP tổ chức các hoạt động về cuộc sống cho người được GD
tạo cho người được GD có điều kiện ứng xử phù hợp với chuẩn mực XH và
các kỹ năng tổ chức các hoạt động của mình.
c. Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử XH
của người được GD
Nhóm PP này bao gồm các PP:
13
- Khen thưởng: Là PP giáo dục trong đó giáo viên biểu đạt sự đông tình, hài
lòng…biểu thị sự đánh giá tích cực với hành vi ứng xử của HS phù hợp
chuẩn mực XH.
1.3. Mục tiêu giáo dục THPT và những định hướng giáo dục đạo đức cho học
sinh THPT hiện nay.
1.3.1. Đặc điểm của xã hội hiện đại
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn
ra trên toàn thế giới. Đó là sự chuyển biến từ thời kì công nghiệp sang thời kì phát
triển của công nghệ thông tin và nền kinh tế trí thức, làm tác động lên tất cả các mặt
của đời sống xã hội. Đặc điểm của xã hội hiện đại ngày nay, bao gồm 3 mặt tác
động chủ yếu là: cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hóa và sự
phát triển về nền kinh tế trí thức.
• Cuộc cách mạng khoa học công nghệ:
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ trong nửa cuối thế kỷ XX phát triển tăng tốc
và vượt bậc hơn so với nhiều thế kỷ trước. Đó là sự tăng tốc của một loạt các ngành
công nghệ cao như: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ thông tin, nó
đã làm ảnh hưởng rộng rãi tới từng cá nhân, các tổ chức và quốc gia trên thế giới.
GD đào tạo cung cấp nguồn nhân lực, nhân tài cho sự phát triển của khoa học và
công nghệ, đồng thời sự phát triển của khoa học công nghệ lại tác động vào toàn bộ
cơ cấu hệ thống giáo dục, làm thay đổi cơ cấu nguồn nhân lực lao động trong XH,
phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế XH.
• Xu thế toàn cầu hóa
Đặc trưng cơ bản của xu thế toàn cầu hóa hiện nay là sự phát triển cải tiến không
ngừng của công nghệ thông tin, kinh tế thị trường, sự gia tăng nhu cầu mở rộng thị
trường và xuất khẩu tư bản, sự xuất hiện các công ty đa quốc gia, các tổ chức
thương mại kinh tế quốc tế, sự hình thành hệ thống tài chính và tiền tệ thế giới với
khối lượng trao đổi lớn. Như vậy, không có toàn cầu hóa kinh tế một cách thuần
nhất mà toàn cầu hóa còn là quá trình được mở rộng tới mọi lĩnh vực khác của đời
15
sống XH, trong đó có văn hóa. Đó là quá trình giao lưu, hội nhập, đấu tranh một
cách tự nhiên giữa các nền văn hóa. Vì vậy, GD cần đào tạo những con người biết
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời biết tiếp thu, kết hợp những tinh hoa văn
hóa nhân loại, đó là điều kiện cần và đủ để tiếp cận với xu thế toàn cầu hóa trong
Nhận thức về cuộc sống ở các em có phần đơn giản, luôn tự tin cho rằng việc gì
cũng đơn giản và sẽ dễ dàng vượt qua. Một số em tự tin quá cao vào bản thân do đó
dẫn đến những hành động thiếu suy nghĩ, thậm chí nhiều lúc vi phạm chuẩn mực về
đạo đức mà không hề hay biết. Chính vì vậy các bậc phụ huynh các thầy cô giáo,
các tổ chức xã hội cần phải có trách nhiệm quan tâm sát sao, động viên kịp thời
nhằm hướng các em có những suy nghĩ và hành động đúng đắn hơn.
b. Đặc điểm về đạo đức của học sinh trung học phổ thông hiện nay
Trong những năm gần đây, khi xu thế toàn cầu hoá hội nhập với thế giới, mở ra
cho nước ta những thời cơ vận hội mới. Những tác động mạnh mẽ về kinh tế, văn
hóa cũng ảnh hưởng sâu sắc tới thế hệ thanh thiếu niên hiện nay đặc biệt là lứa tuổi
THPT:
- Đây là lứa tuổi các em muốn khẳng định vị trí cá nhân trong xã hội nhiều hơn.
Ở các em xuất hiện sự quan tâm tới bản thân, tới những phẩm chất nhân cách đạo
đức của mình.
- Lứa tuổi THPT tình cảm của các em phát triển mạnh và khá phong phú, các
em dần hình thành những tình cảm như tình yêu quê hương đất nước, yêu những giá
trị văn hóa truyền thống, lòng nhân ái bao dung độ lượng, sống có ý thức trách
nhiệm với xã hội. Giai đoạn này những cảm xúc về tình cảm với bạn khác giới trở
nên rõ rệt hơn.
- Nhận thức về cuộc sống, về trách nhiệm với bản thân gia đình và xã hội cùng
dần được hình thành. Tuy nhiên giai đoạn này các em vẫn còn có những suy nghĩ
nông nổi, bồng bột, dễ nổi cáu, chưa có sự chín chắn độc lập trong suy nghĩ và hành
động.
17
Hiện nay cùng với sự phát triển và đi lên của xã hội, mỗi chúng ta được sống trong
môi trường văn minh, hiện đại, nhưng kéo theo đó cũng có nhiều vấn đề nảy sinh
làm ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống XH. Đối với HSTHPT do khả năng nhận thức
của các em trong giai đoạn này còn mang tính tự phát, nên những tác động tiêu cực
của xã hội ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình hình thành nhân cách, phẩm chất đạo
đức ở các em. Không ít em đã xa ngã vào những tệ nạn của XH. Một số em đua đòi
- Nguyên lý: Học đi đôi với hành, GD kết hợp lao động sản xuất, lý luận gắn
liền với thực tiễn, GD nhà trường kết hợp GD gia đình và GD xã hội.
Về nội dung và phương pháp :
- Nội dung: Phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực hiện đại có hệ
thống, coi trọng GD tư tưởng và có ý thức công dân.
- Phương pháp: Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
học sinh.
- Trách nhiệm của gia đình: Tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ thẩm mỹ của con em.
- Trách nhiệm của XH: Xây dựng phong trào học tập và môi trường GD lành
mạnh, ngăn chặn những hoạt động xấu ảnh hưởng tới thanh thiếu niên và nhi đồng.
Giáo dục đức cho học sinh THPT phải được tiến hành bằng nhiều biện pháp, có
mục tiêu phù hợp, phải xây dựng nội dung, kế hoạch cụ thể, hình thức phải phong
phú đa dạng, phải biết kết hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội, để tạo
nên sức mạnh tổng hợp góp phần nâng cao phẩm chất năng lực cho HS.
19
Kết luận chương I
GDĐĐ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách
năng lực toàn diện cho HS. Để GDĐĐ cho HSTHPT đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các
nhà GD phải nắm bắt được những yếu tố tác động đến công tác GDĐĐ cho HS.
Công tác GDĐĐ cho HS phải được kế hoạch, thực hiện thường xuyên, bằng nhiều
hình thức, nhiều biện pháp để phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của HS.
Các biện pháp GDĐĐ muốn khả thi phải dựa trên hai yếu tố là cơ sở lý luận và
thực tiễn. Do đó, ngoài việc xác lập cơ sở lý luận, thì đòi hỏi các cấp quản lý, các
nhà GD tất yếu phải điều tra khảo sát, phân tích thực trạng GDĐĐ cho HS nói
chung và HSTHPT nói riêng, từ đó có thể đề xuất đưa ra các biện pháp GDĐĐ phù
hợp với HS giúp HS tự uốn nắn hành vi, hành động của mình, để dần hoàn thiện
nhân cách và phẩm chất đạo đức lối sống cho phù hợp với các yêu cầu chuẩn mực
của XH.
mà chủ yếu được hình thành bằng sự nỗ lực hành động thực sự của mỗi cá nhân ”.
* Hàng năm tỷ lệ HS tốt nghiệp lớp 12 đều vượt tỷ lệ trung bình của thành phố;
trong các kỳ thi đại học, cao đằng trường có từ 30% - 40% HS thi đỗ. Tuy nhiên,
chất lượng GDĐĐ của nhà trường trong những năm gần đây có phần giảm sút, tỷ lệ
HS vi phạm đạo đức, HS xếp loại hạnh kiểm trung bình, thậm chí yếu kém buộc
thôi học hoặc chuyển trường do chậm tiến về đạo đức ngày càng gia tăng. Chính
thực tế này, đòi hỏi các cơ quan quản lý cùng với BGH nhà trường cần có những
biện pháp cụ thể và thiết thực nhằm giải quyết vấn đề nêu trên.
2.2. Thực trạng vấn đề GDĐĐ cho HS trường THPTDL Đinh Tiên Hoàng - Hà
Nội.
2.2.1. Thực trạng công tác GDĐĐ cho HS trường THPTDL Đinh Tiên Hoàng -
Hà Nội.
a. Thực trạng nhận thức của CBQL và GV về vấn đề GDĐĐ cho học sinh
Bảng 2.1: Thực trạng nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của việc
GDĐĐ cho HSTHPT hiện nay.
TT
Tầm quan trọng của việc GDĐĐ cho
HSTHPT
Số lượng Tỷ lệ %
1 Rất quan trọng 37/53 69.81
2 Quan trọng 9/53 16.98
3 Tương đối quan trọng 7/53 13.20
4 Không quan trọng 0 0
Kết quả khảo sát cho thấy có tới 37 GV trên tổng số 53 GV ( tỷ lệ 69.81% ) của
nhà trường khi được khảo sát cho rằng công tác GDĐĐ cho HS là một trong những
việc làm cấp thiết và rất quan trọng. Tuy nhiên cũng có tới 13.20% GV cho rằng việc
GDĐĐ cho HS là việc làm chỉ mang tính tương đối. Qua trao đổi với một số GVCN
và GVBM, tôi nhận thấy họ rất ngán ngại đối tượng HS cá biệt trong lớp, chính đối
tượng này làm ảnh hưởng đến phong trào lớp, lôi kéo các thành phần khác. Nhưng
hầu hết GVCN đều lúng túng vì mỗi một HS cá biệt có những biểu hiện khác nhau và
Bảng 2.3: Thực trạng mức độ thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức cho học
sinh ( Tỷ lệ %).
Nội dung GDĐĐ
CBQL - GV HS
TX TT CTH TX TT CTH
GD lòng yêu nước 76.15 23.04 0.81 63.81 34.14 2.05
Ý thức thực hiện nội quy trường
lớp
50.13 47.46 2.41 45.62 53.4 0.98
Tinh thần đoàn kết, giúp đỡ bạn
bè
34.26 62.67 3.07 37.61 35.23 27.16
23
Kính trọng ông bà, cha mẹ,
thầy cô giáo
100 0 0 96.52 3.48 0
Tinh thần lạc quan yêu đời 46.15 51.98 1.87 55.23 40.16 4.61
Trung thực, dũng cảm 39.82 59.29 3.21 35.41 61.54 3.05
Ý thức tuân theo pháp luật 37.5 59.29 3.21 32.17 64.85 2.98
Ý thức tiết kiệm thời gian, tiền
của
40.1 57.23 2.67 51.19 45.15 3.66
Tinh thần tập thể 26.72 67.74 5.54 30.21 66.67 3.12
Yêu quý lao động, quý trọng
người lao động
30.4 68.08 1.52 29.34 67.94 2.72
TX: thường xuyên, TT: Thi thoảng, CTH: Chưa thực hiện
Trong các nội dung GDĐĐ cho HS thì: Kính trọng ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo là
nội dung được cả GV và HS quan tâm nhiều nhất, có tới 100% ý kiến của CBQL và
tình thầy trò mà chưa đề cập hay lồng ghép cụ thể các nội dung GDĐĐ tới HS.
d. Thực trạng thực hiện các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh
Với câu hỏi “ Mức độ sử dụng các hình thức GDĐĐ cho HS ?” khảo sát 53 GV và
300 HS trong nhà trường có được số liệu theo bảng 2.4 dưới đây:
25