báo cáo tiểu luận nguyên lý và mô thức các hệ phân tán mô hình tính toán phân tán rộng khắp (ubiquitous computing) - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

BÁO CÁO TIỂU LUẬN
Môn: NGUYÊN LÝ VÀ MÔ THỨC CÁC HỆ PHÂN TÁN
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Hương Giang
Học viên thực hiện: (Nhóm 2)
Nguyễn Văn Chiến CB121349
Lê Thị Trang CB120118
Đố Tiến Dũng CB121351

Lớp: Công nghệ thông tin 2 (KT)
Chuyên ngành: Công nghệ thông tin (KT)
Đề 03:“Mô hình tính toán phân tán rộng khắp (ubiquitous computing)”
MỤC LỤC
Mục lục 1
Lời nói đầu 2
1. Tổng quan về tính toán phân tán rộng khắp 3
1.1. “Tính toán phân tán rộng khắp (Ubiquitous Computing)” là gì ? 3
1.2. Thuộc tính chung của mô hình tính toán phân tán rộng khắp 4
1.3. Tính chất cơ bản của mô hình tính toán phân tán rộng khắp 4
1.3.1. Hệ thống phân tán 4
1.3.2. Tương tác tối thiểu 4
1.3.3. Nhận biết bối cảnh 5
1.3.4. Tự trị 5
1.3.5. Trí tuệ nhân tạo 5
2. Một số ứng dụng liên quan và các vấn đề cần giải quyết trong mô hình tính toán phân
tán rộng khắp 6
2.1. Một số ứng dụng liên quan đến mô hình tính toán phân tán rộng khắp 6
2.1.1. Lưu trữ thông tin cá nhân 6
2.1.2. Lập lịch cho dịch vụ giao thông công cộng 7

mong nhận được sự quan tâm, góp ý của cô giáo Vũ Thị Hương Giang và các
bạn trong lớp để bài tiểu luận của nhóm em được hoàn thiện hơn.
Qua đây, chúng em xin được gửi lời cảm ơn trân thành đến cô giáo Vũ Thị
Hương Giang đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng em hoàn thành tốt tiểu luận
này.
Hà Nội, ngày 04/01/2013
3
1. Tổng quan về tính toán phân tán khắp (Ubiquitous Computing)
1.1. “Tính toán phân tán rộng khắp (Ubiquitous Computing)” là gì?
Tính toán phân tán rộng khắp (Ubiquitous computing) là một khái niệm
kỹ thuật để chỉ một xu hướng trong việc phát triển các phương pháp tính toán.
Thay vì chúng ta tính toán xử lý trong một chiếc máy tính để bàn hay máy tính
xách tay của mình, thì kỹ thuật này sẽ cho phép chúng ta đưa việc tính toán vào
chính môi trường sống của mình, hay nói một cách đơn giản là việc tính toán xử
lý sẽ được thực hiện mọi lúc mọi nơi.
Mark Weiser, người đầu tiên đưa ra khái niệm về tính toán phân tán
rộng khắp đã nói:” Tính toán phân tán rộng khắp để chỉ làn sóng thứ ba trong
công nghệ tính toán, nó đang bắt đầu. Làn sóng đầu tiên là các máy tính lớn, mỗi
máy được chia sẻ bởi nhiều người sử dụng. Còn bây giờ là kỉ nguyên của máy
tính cá nhân, nơi mà con người và máy móc không dễ gì hiểu nhau qua giao
diện làm việc. Tiếp theo sẽ là tính toán phân tán rộng khắp, hay thời đại của
"công nghệ lặng lẽ", khi mà kĩ thuật lùi xuống làm nền cho cuộc sống của chúng
ta.”
Mark Weiser cũng mô tả rằng: ”hãy tưởng tượng rằng mỗi con người có
hàng trăm các thiết bị không dây xung quanh với đủ các kích cỡ khác nhau (màn
hình từ cỡ 1 inch cho đến lớn bằng cả bức tường), khi đó đòi hỏi phải có những
hệ điều hành mới, những giao diện người dùng mới, những công nghệ mạng, các
cách hiển thị mới, và rất nhiều những việc cần làm khác. Đó chính là “tính toán
phân tán rộng khắp”.
Trong thế giới của tính toán phân tán rộng khắp, sẽ có một công nghệ

sử dụng được che giấu.
Ubiquitous computing đó là sự trong suốt đối với người dùng. Sự trong
suốt ở đây không phải là vấn đề về kích thước của các thiết bị phần cứng mà đó
là vấn đề người dùng nhận thức như thế nào về sự có mặt của các thiết bị. Để
các thiết bị đó trở nên trong suốt đối với nhận thức của người dùng, sự tương tác
giữa người dùng với máy tính phải hướng theo nhiệm vụ mà người dùng muốn
thực hiện. Lúc này, thiết bị được thay bằng dạng khác (não nhân tạo, con người
nhân tạo), vô hình đối với con người; hay thiêt bị vẫn tồn tại dưới dạng thông
thường, nhưng được che giấu, trở thành vô hình: ATM, ECU, ; hoặc thiết bị
vẫn tồn tại dưới dạng thông thường, nhưng không thu hút sự chú ý của con
người, trở thành một phần cuộc sống con người: VoIP, chat, mobile phone, …
1.3.3. Nhận biết bối cảnh
5
Trong mô hình tính toán phân tán rộng khắp, các thiết bị được kết nối với
nhau để có thể chia sẻ thông tin và cùng phối hợp hoạt động. Vì vậy mà các thiết
bị có thể nhận biết được các bối cảnh:
- Nhận biết bối cảnh vật lý;
- Nhận biết bối cảnh con người (NSD< cá nhân),
- Nhận biết bối cảnh ICT
1.3.4. Tự trị
Việc quản lý cùng 1 lúc nhiều thiết bị dẫn đến con người bị quá tải,
thêm vào đó là khi các thiết bị phức tạp thì con người sẽ khó quản trị. Tính tự trị
trong mô hình Ubiquitous computing cần phải có để giải quyết vấn đề trên, hỗ
trợ con người quản lý các thiết bị.
Giải pháp đưa ra:
- Tự động hóa
- Nhúng, đóng gói
- Bao gồm đầy đủ
- Tài nguyên hạn chế
- Tự do, không định hình

- Kích thước xe động
7
Trong đó, vấn đề định vị đối tượng tính toán phân tán rộng khắp đã và
đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khắp nơi trên thế giới. Kết
quả là nhiều công nghệ, phương pháp và hệ thống định vị mới đã ra đời chẳng
hạn như các hệ thống định vị sử dụng các công nghệ hồng ngoại, siêu âm, sóng
vô tuyến cùng với các phương pháp định vị như phương pháp gần kề, giao
khoảng cách, giao gốc
Hình 2.1.3. Ứng dựng lập lịch cho giao thông công cộng
8
2.1.3. Quản lý thực phẩm thông minh
Ứng dụng mô hình tính toán phân tán rộng khắp trong quản lý thực phẩm.
Trong đó:
- Cảm biến xác định các tham số của người sử dụng.
- Cảm biến xác định chủng loại và số lượng thức ăn.
- Phần mềm thông minh xác định các thức ăn phải mua bổ sung.
- Tự động mua hàng
- Quản lý các thực đơn.
Hình 2.1.4. Ứng dụng trong quản lý thực phẩm
2.1.4. Quản lý các thiết bị gia dụng
- Tự động tắt
- Smart Grid
- Các thiết bị tự quản lý lẫn nhau
- Thông tin cho người sử dụng
9
Hình 2.1.5. Ứng dụng quản lý các thiết bị gia dụng
2.2. Các vấn đề cần giải quyết trong mô hình tính toán phân tán rộng khắp
Các thiết bị tính toán hiện nay có các đặc điểm sau:
- Nhỏ gọn, khả năng tính toán cao, giá thành hạ.
- Khả năng hoạt động lâu dài không cần sự can thiệp của con người .

Hình 2.2.1. Yêu cầu cơ bản của Ubiq Computer
11
2.2.3. Mô hình tương tác với thế giới xung quanh
Các phương thức tương tác truyền thống là: chuột, bàn phím, giao diện
đồ họa . . Đây là các phương thức tương tác rất phổ biến và được sử dụng
nhiều trong các hệ thống máy tính.
Một trong những yêu cầu của việc tương tác với hệ thống đó là phải ghi
lại được những dữ liệu của quá trình tương tác. Nếu sử dụng tương tác bằng
keyboard và mouse thì dữ liệu nhận được là các ký tự và các tọa độ của con trỏ
chuột. Ngày nay, tuy có thêm nhiều kiểu tương tác với máy tính nhưng các kiểu
tương tác này cũng cố gắng chuyển dữ liệu tương tác về dạng text (như chuyển
từ giọng nói sang text, chữ viết bằng bút điện tử sang text. . .). Hướng nghiên
cứu hiện nay là làm sao có thể lưu trữ dữ liệu tương tác theo đúng dạng gốc của
nó.
Việc tương tác tự nhiên đem lại nhiều thuận tiện cho người dùng nhưng
nó cũng có những hạn chế. Đó là khả năng nhầm lẫn và mắc lỗi lớn. Ví dụ như
với việc nhận dạng chữ viết, mặc dù sự chính xác của hình thức tương tác này
có thể lên được đến 98% nhưng nó không bao giờ chính xác một cách hoàn toàn
được. Khi chúng ta sử dụng tương tác theo kiểu đối thoại thì dù nó có được cải
tiến đến đâu thì nó vẫn yêu cầu cần phải có sự chú ý, đối thoại với người dùng.
Một vấn đề nữa đối với kiểu tương tác này là khi có nhiều các ứng dụng cùng
chạy một lúc, các dữ liệu đầu vào cần phải được đưa đến đúng các ứng dụng đó,
điều này dẫn đến yêu cầu cần có một giao diện tương tác phức tạp và cần phải
có sự chú ý của người dùng trong việc ra quyết định.
Việc tương tác giữa người dùng và hệ thống trong UbiComp là tương tác
hướng nhiệm vụ, nghĩa là người dùng vẫn tương tác với các thiết bị, các công cụ
để thực hiện công việc, tuy nhiên, họ chỉ chú tâm đến chính công việc đó, chứ
không cần chú tâm đến việc thực hiện công việc đó như thế nào. Trong
UbiComp các công cụ sẽ phải được nâng cao khả năng xử lý và kết nối để đạt
được điều này.

(1999);
[3] Phạm Khánh, “Công nghệ “ẩn” đằng sau cuộc sống”. Báo Bưu điện
Việt Nam, số 138, ngày 18/11/2011;
[4] Jeffrey Highower and Gaetano Borriello (2001). “Location systems for
ubiquitous computing”. IEEE Computer, 34(8), pp.57-66;
[5] LMark Weiser (1993), “Some computer science issues in ubiquitous
computing”, CACM,36(7), pp. 74-83;
3. Tài liệu khác
[6] Bài giảng môn nguyên lý và mô thức các hệ phân tán của cô Vũ Thị
Hương Giang.
[7] R . Jason Weiss and J. Philip Craiger, “Ubiquitous Computing”. April
2002 . Vol 39 . No4 pp 44.
[8] Nguyễn Chấn Hùng. “Nghiên cứu và phát triển một số sản phẩm tính
toán khắp nơi và di động (Ubiquitous & Mobile Computing).
KC.01.10/06-10”. Cục thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia;
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status