BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHẠM TRUNG TRIỀU
QUAN HỆ HOA KỲ – HÀN QUỐC TỪ
NĂM 1991 ĐẾN 2005 Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số: 60 22 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGÔ MINH OANH
FDI : Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA : Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
GDP : Gross domestic product Tổng sản phẩm trong nước
IAEA : International Atomic Energy Agency Cơ quan năng lượng
nguyên tử quốc tế
IMF : International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế
KIST : The Korea Institute of Science Viện Khoa học và Công
and Technology nghệ Hàn Quốc
MOST : Ministry of Science and Technology Bộ Khoa học và Công nghệ
NATO : North Atlantic Treaty Organization Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
NICs : Newly Industrialized Countries Các nước mới công nghiệp hóa
NMD : National Missile Defence system Hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia
ODA : Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức
OECD : Oganization for Economic
Cooperation and Development Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
SALT : Strategic Arms Limitation Treaty Hiệp định hạn chế vũ khí chiến lược
SEATO : South-East Asia Treaty Organization Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á
TMD : Theather Missile Defense Hệ thống phòng thủ tên lửa
trên chiến trường
USFK : US Forces Korea Lực lượng Hoa Kỳ tại Hàn Quốc
WMD : Weapons of mass destruction Vũ khí hủy diệt hàng loạt
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi vấn đề hội nhập, hợp tác giữa các nước và khu vực,
những vấn đề quốc tế hóa, toàn cầu hóa đã và đang trở thành xu thế áp đảo trong quan hệ quốc tế,
thì sự phát triển của một nước, một khu vực lại không thể không có sự hợp tác, quan hệ giao lưu,
trao đổi với các nước bên ngoài. Toàn cầu hóa hiện nay là một xu thế tất yếu, vì vậy, đòi hỏi các
nước phải hợp tác với nhau chặt chẽ hơn để cùng phát triển.
Hoa Kỳ là một siêu cường trên thế giới và là một chủ thể rất quan trọng trong quan hệ quốc
Đối với Việt Nam, nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc càng có ý nghĩa quan
trọng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), Việt Nam đã chịu tác động tiêu
cực từ mối quan hệ này, mối quan hệ giữa một cường quốc đế quốc với một đồng minh chư hầu.
Còn hiện nay, trước sự thay đổi của tình hình quốc tế, khi Việt Nam đang thực hiện chính sách đổi
mới đất nước, đề ra đường lối đối ngoại mới, mở rộng quan hệ đa dạng và đa phương với các nước
và khu vực khác nhau trên thế giới với phương châm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước, thì
việc nghiên cứu mối quan hệ này càng mang tính cấp thiết. Ngày nay, Hoa Kỳ và Hàn Quốc đều là
những đối tác chiến lược hàng đầu của Việt Nam. Năm 1995, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã được
bình thường hóa; Đến năm 2001, Quốc hội hai nước chính thức thông qua Hiệp định thương mại
Việt Nam – Hoa Kỳ, sự kiện này đánh dấu một bước tiến lớn trong mối quan hệ của hai nước. Đối
với quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, hai nước đã có một mối quan hệ tốt đẹp và được xem là năng
động và đầy triển vọng trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, với yêu cầu quan hệ hợp tác mới,
việc nghiên cứu mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc sẽ có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để góp phần
hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, nhằm đa dạng hóa các mối
quan hệ quốc tế.
Như vậy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, hầu như tất cả các quốc gia, dân tộc đều
cần phải giao lưu và hợp tác với nhau để phát triển. Do đó, đây là một xu hướng tất yếu của tất cả
các nước, các khu vực và Hoa Kỳ - Hàn Quốc đang đi theo xu hướng đó. Với những suy nghĩ như
trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài luận văn cho mình là “Quan hệ Hoa Kỳ – Hàn Quốc từ năm 1991
đến 2005”, nhằm tiếp cận và có cách nhìn tổng quát về mối quan hệ này, với hy vọng sẽ làm rõ
được thực trạng, vai trò và ý nghĩa của mối quan hệ này đối với khu vực và thế giới.
II. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ trước tới nay đã được nhiều nhà khoa học
ở trong và ngoài nước quan tâm, tìm hiểu. Hiện nay, ở nước ta tác giả chưa tìm được một công trình
nào nói về quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ năm 1991 đến 2005. Những bài viết liên quan đến vấn đề
này hiện có thường được trình bày ở thể loại các bài viết ngắn, các đoạn trích được đăng tải trên các
tạp chí chuyên ngành, các sách, báo và trên Internet. Đặc điểm chung của các bài viết này là đi sâu
phân tích mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc trên một số lĩnh vực nhất định như kinh tế, khoa học kỹ
thuật, quân sự trong một số giai đoạn cụ thể mà chưa đi sâu nghiên cứu mối quan hệ của hai nước
một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Bên cạnh đó còn có một số tác phẩm ngoại văn và tác
Ở loại thứ hai, hiện có nhiều nguồn tư liệu được đăng tải trên các sách báo và mạng
internet, tiêu biểu là các tác phẩm: “South Korea under U.S occupation”, của Nhà xuất bản Foreign
Languages Pulishing House Pyongyang (1958); “The United States and Korea” của Shanon
McCune (1962); Hoặc trên mạng internet có các tác phẩm như: South Korea - U.S. Economic
Relations: Cooperation, Friction, and Future Prospects (2004) của Mark E. Manyin, được đăng tải
trên www.fas.org. “South Korea – U.S Relations” của Katharine Moon (2004), trên tạp chí nghiên
cứu Asian Perspective, Vol. 28, No. 4, pp. 39-61; Hay tác phẩm “Do the ties still bind?: The U.S. –
ROK Security Relationship After 9/11” của Norman D. Levin đăng tải trên www.rand.org.v.v..
Nhìn chung, trong các tác phẩm ở loại thứ hai đã nói mối quan hệ của hai nước qua các
giai đoạn khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, thương mại, đầu tư… Như tác phẩm “South
Korea under U.S occupation” đã nói lên quá trình Hoa Kỳ đưa quân vào cai quản miền Nam Triều
Tiên kể từ năm 1945, bên cạnh đó là sự du nhập văn hóa, nền giáo dục phương Tây vào đây. Trong
chương 5 có đề cập đến phong trào đấu tranh của người dân Triều Tiên chống lại chính sách cai trị
của Mỹ. Tác phẩm South Korea - U.S. Economic Relations: Cooperation, Friction, and Future
Prospects, đã nói lên tổng quan về mối quan hệ kinh tế của hai nước trong những năm cuối thế kỷ
XX đầu thế kỷ XXI, sự phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh tế hai nước, vai trò quan trọng của thị
trường Hoa Kỳ đối với hàng hóa Hàn Quốc và ngược lại, Hàn Quốc cũng là một nhân tố quan trọng
trong sự phát triển thương mại Hoa Kỳ. Tác phẩm này đã làm rõ được vấn đề trong lĩnh vực thương
mại - đầu tư, Hoa Kỳ đã đóng vai trò quan trọng và là nhân tố đưa Hàn Quốc trở thành một nước
công nghiệp phát triển. Tác phẩm “South Korea – U.S Relations” nói về mối quan hệ chính trị –
quân sự của hai nước, như việc Hàn Quốc gửi quân sang Iraq, phong trào chống Mỹ trong những
năm đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là ý thức chính trị tăng lên trong giới trẻ; Quá trình cải tổ quân đội
Hoa Kỳ tại Hàn Quốc và những cố gắng của Tổng thống Roh Moo-hyun trong việc tạo nên mối
quan hệ độc lập, bình đẳng với Hoa Kỳ cũng được đề cập tới… Trong tác phẩm Do the ties still
bind?: The U.S. – ROK Security Relationship After 9/11 gồm có 5 chương, phản ánh mối quan hệ
của hai nước sau sự kiện 11/9. Trong chương 1, tác giả nêu lên những định hướng chung trong quan
hệ liên minh Hoa Kỳ – Hàn Quốc. Chương 2 xem xét những cơ sở của hợp tác an ninh của hai
nước; Chương 3 đề cập đến mối quan hệ hiện tại và những thành tựu mà Hàn Quốc đã đạt được.
Trong chương 4 mô tả mục tiêu, chính sách của Hoa Kỳ và đánh giá vai trò hợp tác an ninh lâu dài
với Hàn Quốc. Cuối cùng là chương 5, tác giả rút ra một số kết luận và đưa ra một số kiến nghị
Triều Tiên.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp chủ yếu
sau:
- Phương pháp lịch sử: Nhằm xem xét bối cảnh quốc tế, những tác động của quan hệ quốc tế và khu
vực ảnh hưởng đến mối quan hai nước. Phương pháp logic: Đi sâu vào bản chất của mối quan hệ
Hoa Kỳ - Hàn Quốc trên các lĩnh vực qua các giai đoạn, bên cạnh đó còn có phương pháp so sánh,
phương pháp định lượng…
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp liên ngành như: Phương pháp nghiên cứu của Quan
hệ Quốc tế: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, dự báo khoa học trong Quan hệ Quốc tế.
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Quan hệ Hoa Kỳ và Hàn Quốc từ năm 1991 đến 2005 là một đề tài mang ý nghĩa khoa học
và thực tiễn sâu sắc.
Thứ nhất; Đây là một đề tài còn ít được các nhà khoa học trong nước nghiên cứu một cách
đầy đủ. Vì vậy, nó đã mở ra một hướng nghiên cứu mới cho học viên; Thông qua kết quả nghiên
cứu nhằm thể hiện được vai trò của mối quan hệ này đối với hai bên. Đồng thời, hy vọng sẽ góp
phần về mặt tư liệu cho những ai quan tâm, tìm hiểu.
Thứ hai; Phục dựng lại mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ năm 1991 đến 2005 trên các lĩnh
vực chủ yếu: Kinh tế, chính trị, an ninh, quân sự, vấn đề Triều Tiên. Từ đó xem xét những nhân tố
trong khu vực có tác động đến quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc.
Thứ ba; Tác động của mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc đối với khu vực và thế giới.
Thứ tư; Hoa Kỳ và Hàn Quốc đều có mối quan hệ ngoại giao ngày càng được mở rộng với
Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ – Hàn Quốc nhằm góp phần rút ra những bài
học kinh nghiệm trong việc hoạch định chính sách ngoại giao của nước ta, để qua đó tìm ra đường
lối đối ngoại phù hợp trong quan hệ đối tác chiến lược với hai nước này.
VII. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được chia làm các phần sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: Gồm 3 chương:
+ Chương 1: Tổng quan về Hoa Kỳ, Hàn Quốc và mối quan hệ
với nhiều khoáng sản, đất đai màu mỡ, có các đồng bằng ven biển, thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp. Có sông Missisipi bồi đắp một lượng phù sa màu mỡ. Hoa Kỳ là một trong những nước có
nhiều khoáng sản nhất trên thế giới. Thành phần dân cư Hoa Kỳ tương đối phức tạp, là một trong
những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều
quốc gia khác trên thế giới.
Năm 1776, 13 thuộc địa tách ra khỏi khối thuộc địa Anh và đưa ra Bản Tuyên ngôn Độc lập, thành
lập Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ. Được công nhận là một quốc gia độc lập sau khi Anh và Hoa Kỳ ký Hiệp
ước Paris năm 1783. Năm 1787, Hoa Kỳ ban hành Hiến pháp, với việc thông qua bản Hiến pháp đã biến
các thuộc địa Anh thành một nước cộng hòa duy nhất Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là một nước
Cộng hoà liên bang thực hiện chế độ chính trị theo thể chế Tam quyền Phân lập. Hiến pháp Hoa Kỳ quy
định quyền Lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền Hành pháp thuộc về Tổng thống và quyền Tư pháp thuộc
về Toà án Tối cao. Mỗi bang có hệ thống hiến pháp và pháp luật riêng nhưng không được trái với Hiến
pháp của Liên bang. Hiến pháp Hoa Kỳ có nhiều điều tiến bộ nhưng cũng có nhiều vấn đề còn hạn chế
như không đảm bảo được cho người nghèo và da màu về các quyền tự do dân chủ. Hệ thống chính trị Hoa
Kỳ chủ yếu do Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa kiểm soát. Đảng Dân chủ quan tâm nhiều hơn đến các
vấn đề an sinh xã hội, y tế, giáo dục, công ăn việc làm cho nguời nghèo, do vậy được đông đảo người
nghèo và giới công đoàn ủng hộ. Trong đối ngoại, Đảng Cộng hòa thường chủ trương tăng cường sức
mạnh quân sự và cứng rắn hơn trong việc giải quyết các xung đột quốc tế.
Nội chiến (1861 – 1865) kết thúc chế độ nô lệ và Hoa Kỳ được thống nhất, chiến tranh Tây
Ban Nha - Mỹ và Chiến tranh Thế giới thứ nhất (1914 – 1918) đã xác định vị thế siêu cường quân
sự của Hoa Kỳ. Năm 1945, Hoa Kỳ trở thành quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân và là một thành
viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau thời
Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một nước có thế lực quân sự, văn
hoá, kinh tế có ảnh hưởng lớn trên thế giới.
1. 1. 2. Vai trò, vị trí của Hoa Kỳ đối với thế giới
Lịch sử Hoa Kỳ từ khi lập quốc đến nay đã trải qua hơn hai trăm năm, được hình thành và
phát triển khi xóa bỏ chế độ thuộc địa của thực dân Anh, trải qua nội chiến Nam – Bắc (1961-1965)
đã xóa bỏ chế độ nô lệ, tiến lên quá trình công nghiệp hóa đất nước. Kết quả là Hoa Kỳ có một nền
kinh tế phát triển nhanh chóng, trở thành một nước công nghiệp lớn nhất.
Từ lâu Hoa Kỳ được biết như một siêu cường trên thế giới, với những thế mạnh của mình,
lãnh thổ rộng lớn, là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, liên tục trên thế giới. Đến
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Hoa Kỳ là cường quốc lớn mạnh về tiềm lực kinh tế và quân sự,
trong những năm đầu thế kỷ XIX, mặc dầu có những giảm sút nhưng Hoa Kỳ vẫn là một cường
quốc lớn mạnh số một. Sau năm 1945, Hoa Kỳ là trung tâm của chủ nghĩa tư bản với tư cách là siêu
cường của thế giới, Nhìn chung, Hoa Kỳ là nước có vai trò đầu tàu của nền kinh tế thế giới hiện
nay.
1. 2. Khái quát về Hàn Quốc
1. 2. 1. Đất nước - con người và lịch sử Hàn Quốc
1. 2. 1. 1. Điều kiện tự nhiên và con người Hàn Quốc
Hàn Quốc là quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc Á, còn gọi là Nam Triều Tiên hay Đại Hàn
Dân Quốc, thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất là Seoul, nằm ở phía Tây Bắc. Phía Bắc giáp với
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Triều Tiên qua giới tuyến quân sự chạy dọc theo vĩ tuyến
38° Bắc. Phía Đông giáp với biển Nhật Bản, phía Tây là giáp biển Hoàng Hải; Hàn Quốc nằm ở
phần phía Nam bán đảo Triều Tiên, địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: Vùng rừng núi chiếm
khoảng 70% diện tích nằm ở phía Đông; Vùng đồng bằng duyên hải ở phía Tây và Nam. Tổng diện
tích của bán đảo Triều Tiên là 222 154 km
2
. Không kể diện tích đất khai hoang, diện tích đất canh
tác là 99.617 km
2
, chiếm 45% tổng diện tích. Địa hình núi non chiếm khoảng hai phần ba diện tích
lãnh thổ. “Riêng Hàn Quốc có diện tích 98 480 km
2
, với dân số khoảng hơn 48 triệu người” [5 ,12 ]
.
Khí hậu ở Hàn Quốc khá ôn hoà, những cơn mưa lớn tập trung vào một khoảng thời gian
ngắn trong mùa hè. Vào mùa đông nhiệt độ thường xuyên dưới 0°C. Hàn Quốc chịu ảnh hưởng của
khí hậu gió mùa Đông Á, một năm có 4 mùa, khí hậu gió mùa đã đem đến cho Hàn Quốc một hệ
thống động thực vật phong phú. So với quy mô lãnh thổ, Hàn Quốc có số lượng sông suối tương đối
lớn. Hệ thống đường thủy này đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành lối sống
Thoả thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên đã làm cho bán đảo Triều Tiên bị chia cắt thành hai
quốc gia cho đến ngày nay. CHDCND Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước
trên cơ sở lập luận một quốc gia Triều Tiên, không công nhận chính phủ ở miền Nam và chọn con
đường thống nhất đất nước bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa, còn Hàn Quốc coi chính phủ của
mình là thực thể hợp pháp trên bán đảo Triều Tiên và sự thống nhất là sự mở rộng chủ quyền quốc
gia.
Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng của hai miền khiến cho quá trình hòa giải
giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960. Đến thập niên 1970 quan hệ hai
bên dần được cải thiện, hai bên công nhận chính phủ của nhau, Hàn Quốc đã đầu tư kinh tế và là
nước chủ yếu viện trợ lương thực giúp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói
thập niên 1990 thông qua chương trình lương thực Thế giới của Liên Hiệp Quốc. Hiện nay Triều
Tiên là dân tộc còn lại duy nhất trên thế giới có đất nước bị chia cắt , Hàn Quốc và CHDCND Triều
Tiên đã cùng gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc vào tháng 9 năm 1991. Nhờ thành công của chính
sách ngoại giao, nền tảng cho vấn đề cùng tồn tại hòa bình giữa hai miền Triều Tiên đã được thiết
lập tháng 12 năm 1991 khi hai bên ký Hiệp định Hòa giải, Không xâm lược, Giao lưu và Hợp tác ;
Tuyên bố chung về phi hạt nhân hóa trên Bán đảo Triều Tiên. Những văn kiện mang tính lịch sử
này đã đặt nền tảng cho hòa bình trên bán đảo Triều Tiên cũng như khu vực Đông Bắc Á, đồng thời
thể hiện một bước tiến quan trọng đầu tiên để tiến tới việc thống nhất trong hòa bình của hai miền
Triều Tiên.
Sau chiến tranh lạnh, Hàn Quốc đã trải qua nhiều Tổng thống và kèm theo nó là sự thay đổi
chính quyền. Đó là các Tổng thống: Tổng thống Roh Tae Woo (1988 – 1993); Tổng thống Kim
Young Sam (1993 – 1998); Tổng thống Kim Dae Jung (1998- 2003); Tổng thống Roh Moo-hyun
(2003 – 2008) và hiện nay đang là thời kỳ nắm quyền của Tổng thống Lee Myung-bak. Từ năm
1948 đến 1988, Hàn Quốc nằm dưới chế độ độc tài, nền dân chủ bị bóp méo. Từ 1988 đến nay, Hàn
Quốc đã chuyển sang một xã hội dân chủ, hội nhập với thế giới.
1. 2. 2. Vị trí, vai trò của Hàn Quốc đối với khu vực và thế giới
1. 2. 2. 1. Đối với khu vực
Hàn Quốc là một quốc gia với diện tích không rộng lớn và bị chiến tranh tàn phá nặng nề sau
chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), từ đống tro tàn do chiến tranh để lại, Hàn Quốc đã đi lên và
xây dựng đất nước mình thành một con rồng của Châu Á.
dậy nhanh chóng trong vòng gần bốn thập kỷ qua.
Về chính trị, Hàn Quốc vẫn là nước có vị trí chính trị và tiếng nói quan trọng trên trường quốc tế.
Trong cuộc chiến tranh lạnh, vì sự đối đầu Đông – Tây sâu sắc, nên Hàn Quốc được xem là là thành
viên của khối phương Tây. Hàn Quốc đã tăng cường quan hệ với các đồng minh truyền thống và các
nước thuộc thế giới thứ ba. Năm 1991, Hàn Quốc gia nhập Liên Hợp Quốc, đến năm 2002, Hàn Quốc
đóng vào ngân sách Liên Hợp Quốc là 21 triệu USD, xếp thứ 10 trong các nước thành viên. Là quốc gia
tích cực mở rộng các mối quan hệ và hoạt động ngoại giao đa phương tương xứng với vị trí trong cộng
đồng quốc tế. Hàn Quốc đã hoạt động tích cực trong các cơ quan chuyên ngành của các tổ chức như
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD), Tổ chức Phát triển Công
nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO), các tổ chức,
diễn đàn quốc tế khác như APEC, ARF, ASEM, WTO… và hiện nay Vị Tổng thư ký Liên Hợp Quốc
Ban Ki Moon lại là người Hàn Quốc, điều đó làm cho nước này càng có tiếng nói quan trọng hơn trong
các vấn đề quốc tế. Hàn Quốc đã góp phần vào phát động chương trình Đại sứ thiện chí, tích cực tham
gia các vấn đề lớn do Liên Hợp Quốc tổ chức. Tính đến năm 2005, Hàn Quốc đã thiết lập quan hệ
ngoại giao với 186 quốc gia, có 95 Đại sứ quán, 31 Lãnh sự quán trên toàn thế giới.
1. 2. 2. 3. Vị trí của Hàn Quốc trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
Sau chiến tranh lạnh, do bị ảnh hưởng của Chiến tranh Việt Nam và việc rút quân ở Đài
Loan, Philippin nên sự chi phối của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á bị suy giảm, điều này càng làm nổi bật
giá trị chiến lược của khu vực Đông Bắc Á. Từ đó Hoa Kỳ đã lấy Đông Bắc Á làm điểm tựa chiến
lược kiểm soát toàn bộ khu vực Đông Á. Mục tiêu hàng đầu mà Hoa Kỳ đưa ra là bảo vệ lợi ích
kinh tế và mở rộng lợi ích chính trị tại khu vực này.
Bán đảo Triều Tiên là một khâu rất quan trọng trong chiến lược Đông Bắc Á của Hoa Kỳ, tầm
quan trọng của bán đảo Triều Tiên không chỉ đơn giản ở chỗ nó là lô cốt đầu cầu kiểm soát khu vực
Đông Á, mà điều quan trọng hơn là bán đảo Triều Tiên có thể là lý do để Hoa Kỳ tham gia vào công
việc của khu vực Đông Bắc Á và trở thành lá chắn bảo vệ đồng minh chiến lược Nhật Bản. Do đó đã
hình thành khuôn khổ cơ bản trong chính sách của Hoa Kỳ đối với bán đảo Triều Tiên, đó là Hoa Kỳ hy
vọng bán đảo Triều Tiên ở trạng thái không ổn định với mức độ nhất định nằm trong sự kiểm soát của
mình, vì Hoa Kỳ hiểu rằng nếu bán đảo Triều Tiên thống nhất ở bất kỳ hình thức nào sẽ đều khiến Hoa
Kỳ đứng trước nguy cơ mất đi cơ sở chiến lược ở Đông Bắc Á. Nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa và địa -
chính trị, một bán đảo Triều Tiên thống nhất không có lý do gì để đồng hành cùng với chiến lược của
Tiên… Những quyết định tại Hội nghị Ianta trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới, được gọi
là trật tự Ianta.
Sau khi chiến tranh kết thúc lại nổi lên vấn đề Đức và vấn đề kết thúc chiến tranh ở Nhật
Bản. Do đó, lãnh đạo ba nước Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô lại gặp nhau ở Pôtxđam (Đức) và đã đi đến
các quyết định tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức, chủ quyền của Nhật Bản được trở lại đất
Nhật Bản chính thống.
Như vậy, sau chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới được hình thành trên cơ sở
những thỏa thuận của ba cường quốc, chủ yếu là hai cường quốc Liên Xô và Mỹ chi phối, từ đó
hình thành trật tự hai cực Xô – Mỹ. Cuộc đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và
xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô và Mỹ là nhân tố quan trọng nhất chi phối các quan hệ
quốc tế, đồng thời là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính sách đối ngoại của các nước sau này.
Trật tự hai cực Xô – Mỹ chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc Chiến tranh lạnh do Mỹ và các
nước đế quốc đứng đầu gây ra. Trật tự này thường xuyên đặt trong tình trạng căng thẳng của sự đối
đầu Đông – Tây, sự đối đầu của hai hệ thống xã hội đối lập nhau về mục tiêu đấu tranh, biểu hiện rõ
nhất là cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô, những cuộc chiến tranh cục bộ diễn ra nhiều
nơi như ở Trung Đông, Đông Nam Á. Các khối quân sự của hai phe được hình thành, tiêu biểu là
khối quân sự NATO và VACSAVA, hai khối tăng cường chạy đua vũ trang, làm cho thế giới trở
nên căng thẳng, phức tạp. Đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX, quan hệ Xô – Mỹ có bước cải
thiện đáng kể. Tháng 5 năm 1972, Tổng thống Mỹ R. Nich xơn đến thăm Liên Xô, hai bên bước
đầu đã ký các văn kiện quan trọng, như Hiệp ước hạn chế phòng thủ chống tên lửa (ABM), Hiệp
định hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (SALT-1). Đến năm 1974, hai nước bổ sung Hiệp ước
ABM, tiếp tục ký SATL-2. Điều này tạo nên thế cân bằng chiến lược về lực lượng hạt nhân của hai
siêu cường, tránh được cuộc chiến tranh hạt nhân và hạn chế việc chạy đua vũ trang. Đến năm 1981,
quan hệ Xô – Mỹ lại trở nên căng thẳng do Tổng thống Mỹ R. Rigân đề ra học thuyết quân sự
“Phản ứng linh hoạt mới” nhằm chạy đua vũ trang, khôi phục vị trí đứng đầu thế giới. Năm 1985,
hai cường quốc Xô – Mỹ chuyển sang đối thoại, các cuộc gặp cấp cao được diễn ra, đặc biệt là cuộc
gặp lịch sử tháng 12 năm 1989 giữa M. Goocbachop và G. Bush (cha) tại đảo Manta (Địa Trung
Hải). Lãnh đạo hai nước đã tuyên bố tăng cường hợp tác để giải quyết các vấn đề quốc tế, không coi
nhau là kẻ thù… Đây là cuộc gặp quan trọng, thu hút được sự chú ý đặc biệt của dư luận thế giới và
được coi là thời điểm kết thúc chiến tranh lạnh.
thành đồng minh thân cận của mình.
1. 3. 1. 3. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Trước năm 1945, Hoa Kỳ lấy danh hiệu dân chủ và chống thực dân để thi hành chính sách
đối ngoại, từ năm 1889 đến 1941 xu hướng can thiệp đã nổi trội trong giới lãnh đạo Hoa Kỳ, đến
sau Chiến tranh thế giới thứ hai, xu hướng đó tiếp tục được thi hành. Chính sách đối ngoại toàn cầu
của Hoa Kỳ sau năm 1945 dựa trên thế mạnh kinh tế và quân sự, Hoa Kỳ xác lập được quyền bá chủ
không tranh cãi đối với Phương Tây, nhiệm vụ “Sen đầm quốc tế” của Hoa Kỳ là tìm mọi cách
khuất phục các nước xã hội chủ nghĩa và tăng cường ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với phần còn lại
của thế giới.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Thủ tướng Anh cùng Tổng thống Mỹ Truman đã chính thức phát
động cuộc chiến tranh lạnh chống các nước xã hội chủ nghĩa, khống chế các nước phương Tây và thực
hiện tham vọng bá chủ toàn cầu, đây là đường lối đối ngoại nhất quán của Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ
hai. Tháng 3 năm 1947 tại Quốc hội Mỹ, Tổng thống Truman chính thức phát động Chiến tranh lạnh
chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp cách mạng thế giới. Mỹ đưa ra học thuyết “Ngăn
chặn chủ nghĩa cộng sản”, đồng thời thực hiện “Kế hoạch Macsan” với mục đích khôi phục kinh tế Châu
Âu, thành lập khối quân sự NATO.
Chính sách đối ngoại toàn cầu của Hoa Kỳ được thực hiện dựa trên sự lớn mạnh của một
nước dân chủ và sứ mệnh mới của Hoa Kỳ là gánh vác cuộc đấu tranh chống lại chế độ độc tài trên
thế giới. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ từng bước hình thành hệ thống liên minh từ Châu Âu
– Đại Tây Dương đến Châu Á – Thái Bình Dương nhằm mục đích tiêu diệt Liên Xô, ngăn chặn chủ
nghĩa cộng sản. Mỹ đã chi cho quân sự với khoản tài chính khổng lồ, viện trợ quân sự cho các nước
thành viên khối NATO, SEATO cùng các đồng minh khác. Chiến lược toàn cầu “Ngăn chặn” của
Mỹ nhằm chống Liên Xô và Chủ nghĩa Cộng sản, đồng thời phát triển nước Mỹ lớn mạnh cả về
kinh tế, chính trị và quân sự, để làm chổ dựa trở thành nước đứng đầu thế giới tư bản. Chiến lược
“Ngăn chặn” của Hoa Kỳ đã qua nhiều lần điều chỉnh qua các đời Tổng thống khác nhau từ năm
1947 đến 1991. Nhưng mục tiêu xuyên suốt trong chính sách đối ngoại vẫn là thống trị thế giới và
tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản.
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đã thực hiện hai chiến lược toàn cầu, đó là chiến
lược quân sự “Trả đũa ồ ạt” và “Phản ứng linh hoạt” cùng với học thuyết răn đe. Trong giai đoạn
từ 1948 đến 1960, chiến lược trả đũa ồ ạt được thực hiện trong điều kiện Hoa Kỳ có tiềm lực lớn về
Bảng 1. 1: Quan hệ buôn bán giữa Triều Tiên với Mỹ từ năm 1910 – 1936
Đơn vị : Nghìn USD
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu
1910 305 (1,7)
3.024 (7,6)
1912 96 6.459 (9,6)
1914 92 (0,3) 6.127 (9,6)
1916 964 (1,7) 6.551 (8,8)
1918 116 (0,08) 10.341 (6,5)
1919 366 (0,15) 24.812 (8,6)
1934 312 5.083
1935 546 7.547
1936 993 (0,17) 9.151 (1,2)
Nguồn: Dẫn theo [ 41, 13]
Nhìn chung, việc buôn bán giữa hai nước chiếm tỷ lệ còn thấp (bảng 1.1). Chẳng hạn, năm
1910, Triều Tiên xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 305 triệu USD (chiếm 1,7 %), nhập khẩu đạt 3.024
triệu USD (chiếm 7,6 %). Đến năm 1936, Triều Tiên xuất đạt 993 triệu USD (chiếm 0,17%), nhập
đạt 9.151 triệu USD (chiếm 1,2%). Cán cân buôn bán giữa hai nước không cân đối, Triều Tiên chủ
yếu là nhập siêu, còn giá trị hàng hóa xuất khẩu sang Hoa Kỳ còn rất ít.
Quan hệ Hoa Kỳ - Triều Tiên trước năm 1945, nhìn chung còn mang đặc điểm của sự khởi đầu
một mối quan hệ lâu dài. Trên lĩnh vực chính trị - văn hóa chưa có gì ấn tượng, chủ yếu trên lĩnh vực
kinh tế thông qua việc buôn bán giữa hai nước.
Từ năm 1945 đến 1948, khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các cường quốc đã bàn về
vấn đề Triều Tiên. Kể từ sự kiện Trân Châu cảng tháng 12 năm 1941, Hoa Kỳ chú trọng ngày càng
nhiều đối với bán đảo Triều Tiên. Ngay trong thời gian của cuộc chiến tranh thế giới, tại Hội nghị
Cairô – Ai Cập tháng 11/1943, Hoa Kỳ đã cam kết về tương lai của bán đảo Triều Tiên. Anh, Hoa
Kỳ và Trung Quốc đã tuyên bố rằng “trong thời gian thích hợp” Triều Tiên sẽ được tự do và độc
lập. Tại Hội nghị Ianta tháng 2 năm 1945, Hoa Kỳ đã thuyết phục Liên Xô chấp nhận chế độ quản
thác tạm thời và trì hoãn quá trình độc lập của Triều Tiên. Vì Hoa Kỳ sợ rằng, khi Nhật Bản bại trận
từ các nước lớn xung quanh, đặc biệt là cuộc tấn công từ phía Bắc Triều Tiên. Thứ hai là sau chiến
tranh Triều Tiên, Hàn Quốc là một nước phải đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội. Do đó,
Hàn Quốc dựa vào Hoa Kỳ để có điều kiện thuận lợi khôi phục và phát triển kinh tế đất nước. Tiếp
đến, về phía Hoa Kỳ cũng muốn Hàn Quốc là đồng minh thân cận của mình cùng với Nhật Bản tại
khu vực Đông Bắc Á. Mục đích của Hoa Kỳ là xây dựng Hàn Quốc trở thành một căn cứ quân sự
quan trọng để khống chế Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, nhằm bảo vệ lợi ích và đạt
được mục đích chiến lược toàn cầu của mình đặt ra là nhằm thống trị khu vực và thế giới.
Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ được thực hiện rõ trên bán đảo Triều Tiên, Hoa Kỳ coi
Hàn Quốc là một vùng đệm tại khu vực Đông Bắc Á, là nơi có vai trò quan trọng để củng cố quyền
lực của mình. Vì vậy, tháng 8 năm 1948, dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc, Hoa Kỳ đã tích cực
ủng hộ thành lập chính phủ thân Hoa Kỳ do Lý Thừa Vãn (Shyman Rhy) đứng đầu, đến đây mối
quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc thực sự được xác lập. Còn ở phía Bắc quốc gia CHDCND Triều Tiên
cũng ra đời và được sự bảo trợ của Liên Xô và Trung Quốc. Do đó, bán đảo Triều Tiên là nơi đấu
đầu căng thẳng của hai cực Xô – Mỹ, hai khối Đông – Tây.
Hàn Quốc là một trong những nơi giữ một vị trí quan trọng hàng đầu trong chính sách ngăn
chặn và kiềm chế Chủ nghĩa Cộng sản tại khu vực. Do vậy, bằng mọi giá, Hoa Kỳ đã đem quân đội
vào Hàn Quốc. Để đảm bảo an ninh cho quân đội, buộc Hoa Kỳ phải tăng cường viện trợ cho Hàn
Quốc trên tất cả các mặt kinh tế, quân sự nhằm thoát ra khỏi những bất ổn do chiến tranh để lại. Sau
khi Lý Thừa Vãn lên làm Tổng thống Hàn Quốc, ông đã cùng với người đứng đầu chính quyền quân
sự Mỹ tại Hàn Quốc là Lt. Gen. John R. Hodge đã ký bản thỏa thuận về việc chuyển giao quyền lực
cho chính phủ mới. Theo bản thỏa thuận, cả hai bên sẽ cùng quan tâm đến việc duy trì an ninh tại
Hàn Quốc. Về phía Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tổ chức huấn luyện và trang bị cho lực lượng an ninh Hàn
Quốc cho tới khi hoàn thành việc rút quân của mình. Đến tháng 6 năm 1949, Hoa Kỳ tuyên bố,
ngoại trừ việc rút quân của mình, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ và trang bị cảnh sát để duy trì nền an
ninh và sự ổn định của Hàn Quốc. Qua sự kiện này, nhìn chung quan hệ an ninh – chính trị của hai
nước bước đầu đã được định hình.
Trong thời gian từ 1945 đến 1948, Hoa Kỳ thấy được vị trí quan trọng của Hàn Quốc nhưng
vẫn chưa coi trọng vị trí của Hàn Quốc đối với an ninh quốc gia và việc bảo vệ Nhật Bản. Về sau,
Hoa Kỳ mới xem đây là vị trí chủ chốt trong tuyến phòng thủ của mình. Từ năm 1948 đến năm
1950, số lượng viện trợ của Hoa Kỳ cho Hàn Quốc chỉ ở một số lượng hạn chế nhất định. Trong
quân sự cho miền Nam. Nhưng, khi quân tình nguyện Trung Quốc tham chiến, dự tính của Hoa Kỳ đã
không trở thành hiện thực. Cuối cùng, cuộc chiến đã phải ngưng lại khi hai bên ký Hiệp định đình chiến
vào ngày 27/07/1953. Hiệp định đình chiến đã đáp ứng những ý đồ của Hoa Kỳ là bảo vệ lợi ích an ninh
của mình trên bán đảo Triều Tiên và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Sau cuộc Chiến tranh Triều Tiên, Hoa Kỳ đã bị tổn thất khá nặng nề, “trên 33 000 ngàn
người bị giết chết và hơn 100 000 ngàn người bị thương” [101, 4]. Mặc dầu vậy, vì lợi ích của mình,
Hoa Kỳ đã tăng cường mối quan hệ an ninh – quân sự với Hàn Quốc. Hai bên đã tiến hành bàn về
nội dung Hiệp định phòng thủ chung. Đến ngày 1/10/1953, Hiệp định phòng thủ chung Hoa Kỳ -
Hàn Quốc được ký kết tại Washington. Đây là Hiệp định ràng buộc mối quan hệ an ninh - quân sự
chặt chẽ của hai nước, và Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Hàn Quốc khi bị nước ngoài tấn công. Sau hiệp định
này, hai bên tiếp tục ký thỏa thuận về hợp tác kinh tế và quân sự giữa hai nước. Đây là những căn
cứ pháp lý để Hoa Kỳ tiến hành viện trợ quân sự cho Hàn Quốc. “Từ năm 1955 đến 1960, viện trợ
quân sự của Mỹ cho Hàn Quốc chiếm tới 60 % trong tổng ngân sách chi tiêu quân sự của Hàn Quốc,
vào thời điểm viện trợ cao nhất của Hoa Kỳ lên đến 527,8 triệu USD ”[3, 66] .
Hàn Quốc là một quốc gia có vị trí trọng yếu ở khu vực Đông Bắc Á, là căn cứ quan trọng
của Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn sự bành trướng của Chủ nghĩa Cộng sản. Do đó, trong tổng số
viện trợ của Hoa Kỳ cho khu vực Đông Bắc Á, Hàn Quốc chiếm tỷ lệ khá kớn, ví như năm 1958 là
331,1 triệu USD. Từ năm 1948 đến 1950, lĩnh vực phòng thủ và an ninh được hai nước quan tâm
nhất.
Bước sang thập niên 1960, Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đặc biệt là về quân sự,
phong trào giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ khắp các châu lục. Hoa Kỳ đã thất bại trong chiến
lược “Trả đũa ồ ạt” và buộc phải chuyển đổi chiến lược toàn cầu của mình sang chiến lược “Phản
ứng linh hoạt”. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn bổ sung thêm chiến lược hòa bình, tiến hành chiến lược “Cây
gậy và Củ cà rốt” đối với Liên Xô, Hoa Kỳ đã dùng vũ khí hạt nhân làm thế cân bằng với Liên Xô.
Căn cứ vào tình hình và thực lực của mình, Hoa Kỳ đã chủ trương giảm vai trò quân sự ở Châu Á.
Đối với Hàn Quốc, thời gian đầu của thập niên 1960, quan hệ an ninh – chính trị Hoa Kỳ - Hàn
Quốc không giảm xuống, điều này được khẳng định trong cuộc gặp giữa Park Chung Hee và Tổng
thống Hoa Kỳ J. Kennedy vào cuối năm 1961. Thông qua cuộc gặp này, Hoa Kỳ cam kết nhanh
chóng viện trợ cho Hàn Quốc theo những điều khoản được ký kết trong Hiệp ước phòng thủ chung.
Để đổi lại hành động này, Hàn Quốc đã cam kết gửi quân sang tham chiến tại Việt Nam.
phóng, Hoa Kỳ đã thực hiện chính sách bao vây, cấm vận kinh tế để trả đũa, Hàn Quốc là đồng
minh thân cận nên đã chịu ảnh hưởng của những chính sách đó, vì vậy, mối quan hệ giữa Việt Nam
– Hàn Quốc, Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn sau đó bị tạm thời gián đoạn một thời gian.