Tìm hiểu thực trạng những nhân tố ảnh hưởng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh hải dương - Pdf 25

Nguyễn Thị Chuyên
MỤC LỤC
1
Nguyễn Thị Chuyên
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự đổi mới chung của đất nước, ngành Ngân hàng đã có
những bước tiến đáng kể trong tổ chức và hoạt động, ngày càng thể hiện
rõ vai trò to lớn và quan trọng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế
nước ta từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước cũng như trong sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động ngân hàng với
bản chất của nó, chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro. Hoạt động
tín dụng là một trong những hoạt động chính của NHTM, một hoạt động
mang lại thu nhập chủ yếu cho NHTM, song nó cũng là một hoạt động
phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro.
Chúng ta biết và hiểu những rủi ro này để tìm mọi cách hạn chế
những đổ vỡ dễ gây thiệt hại, trước hết là đến ngân hàng và sau đó là toàn
bộ nền kinh tế. Để hoạt động của NHTM có hiệu quả và giảm thiểu rui ro
thì vấn đề trước tiên là phải quan tâm đến chất lượng tín dụng.
Nâng cao chất lượng tín dụng và an toàn trong hoạt động tín dụng
không chỉ là vấn đề quan tâm của ngân hàng mà còn là mối quan tâm
chung của toàn xã hội. Bởi vì chất lượng tín dụng ngân hàng tốt sẽ thúc
đẩy sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế phát triển, tạo thêm
2
Nguyễn Thị Chuyên
công ăn việc làm, kinh tế tăng trưởng. Ngược lại, hoạt động kinh doanh
của ngân hàng kém hiệu quả chất lượng tín dụng có vấn đề thì nó dễ gây
ra thiệt hại không những cho ngành ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến cả
nền kinh tế.
Để làm tốt và tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong thời kỳ

1.1. Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường:
1.1.1. Khái niệm và phân loại.
1.1.1.1. Khái niệm:
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ và hoạt động
chủ yếu thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu
các phương tiện thanh toán. Như vậy kinh doanh của Ngân hàng thương
mại khác với kinh doanh của các doanh nghiệp, sản phẩm của các doanh
nghiệp là một hàng hoá thông thường, còn Ngân hàng thương mại kinh
doanh một loại hàng hoá đặc biệt (đó là tiền) đầu vào, đầu ra của Ngân
hàng thương mại đều là "tiền" tức huy động những nguồn tiền tạm thời
nhàn rỗi của các tổ chức cũng như dân cư để cho vay đối với nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính của
Ngân hàng thương mại, một hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu
cho NHTM, song nó cũng là một hoạt động phức tạp và chứa đựng
nhiều rủi ro. Vậy tín dụng là gì? Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la
tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín
dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; Trong một quan hệ tài chính
5
Nguyễn Thị Chuyên
cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai
chủ thể; trong một số ngữ cảnh cụ thể thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với
thuật ngữ cho vay.
Trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng được hiểu là một giao dịch về
tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế
tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể
khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm
hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh
toán.

1.1.1.2.1. Căn cứ thời hạn cho vay:
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng
nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã thoả
thuận trong Hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng .
7
Nguyễn Thị Chuyên
- Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tiền ngân hàng cấp ra cho khách
hàng của mình với thời hạn tối đa là 12 tháng.
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng ngân hàng cấp ra với thời
hạn từ trên 12 tháng đến tối đa là 5 năm.
- Tín dụng dài hạn: Là khoản tín dụng ngân hàng cấp ra cho
khách hàng với thời hạn từ trên 60 tháng ( hiện nay đến 10 năm)
1.1.1.2.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
Chia tín dụng ra thành:
- Tín dụng cho sản xuất: Là hình thức cấp tín dụng được đầu tư vào
lĩnh vực sản xuất ( hay giải quyết nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh
doanh)
- Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức cấp tín dụng nhằm thoả mãn
những nhu cầu tiêu dùng của các hộ gia đình và cá nhân như mua sắm
những tư liệu phục vụ cho sinh hoạt phục vụ cho tiêu dùng, trang trải cho
những chi phí như học tập, tham quan, du lịch….
- Tín dụng đầu tư: Là hình thức cấp tín dụng nhằm hình thành cũng
như mở rộng những tài sản cố định hiện có.
- Tín dụng xuất khẩu và nhập khẩu: Là hình thức cấp tín dụng được
thực hiện trong lĩnh vực xuất khẩu hay nhập khẩu.
- Tín dụng dự trữ: Là 1 hình thức cấp tín dụng để thoả mãn nhu cầu
dự trữ vật tư hàng hoá của khách hàng.
8
Nguyễn Thị Chuyên
1.1.1.2 3. Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng:

yếu, qui định từng kỳ hạn khách hàng phải trả trong từng lần với số tiền
giống nhau.
- Tín dụng thanh toán 1 lần: Nguồn thu chủ yếu của người vay phụ
thuộc chủ yếu vào chu kỳ sản xuất ( cuối mỗi chu kỳ)
1.1.1.2.7. Căn cứ vào đảm bảo tiền vay:
Chia tín dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo đảm
- Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức tín dụng mà trước khi ngân
hàng thực hiện việc cho vay đối với khách hàng phải sử sụng 1 khoản bảo
đảm cho 1 khoản tiền vay
- Tín dụng không có bảo đảm: Khi cho vay ngân hàng không yêu
cầu khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ đảm bảo cho khoản tiền vay.
1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị
trường
10
Nguyễn Thị Chuyên
Tín dụng Ngân hàng thương mại có ý nghĩa quan trọng đối với toàn
bộ nền kinh tế, nó tạo ra khả năng tài trợ cho các hoạt động công nghiệp,
thương nghiệp và nông nghiệp của đất nước. Cung ứng vốn ngân hàng đã
gián tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội. Tất cả giai đoạn của quá trình kinh
tế : sản xuất - phân phối - tiêu dùng đều cần phải có vốn. Có thể nói tín
dụng ngân hàng đã tạo ra khả năng thực hiện toàn bộ quá trình kinh tế
cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Do thu nhập của nhà nước không phải lúc nào cũng tương ứng với
các khoản chi, đòi hỏi phải tạm thời vay nợ các ngân hàng thương mại-
Việc cung cấp tín dụng cho chính phủ trong những trường hợp như vậy
đã đảm bảo cho các hoạt động của chính phủ được trôi chảy.
Tín dụng Ngân hàng góp phần giảm hệ số tiền nhàn rỗi và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn trong xã hội. Trong hoạt động kinh doanh tín dụng
bằng các nghiệp vụ cụ thể Ngân hàng đã huy động tối đa được các nguồn
vốn nhàn rỗi trong tổ chức kinh tế, dân cư và sử dụng linh hoạt các nguồn

Nguyễn Thị Chuyên
ngừa và giảm thiểu rủi ro - muốn vậy phải nâng cao chất lượng tín dụng.
Đề cập đến vấn đề chất lượng tín dụng không phải là điều mới mẻ nhưng
là vấn đề quan tâm hàng đầu của Ngân hàng thương mại.
Chất lượng tín dụng phải được hiểu theo hai khía cạnh đó là: hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Vốn vay của Ngân hàng được khách hàng
sử dụng đưa vào quá trình sản xuất-kinh doanh, dịch vụ sau một chu kỳ
sẽ tạo ra số tiền lớn hơn số tiền ban đầu. Số tiền này khách hàng dùng để
trang trải các chi phí ban đầu bỏ ra và hoàn trả nợ vay Ngân hàng gồm cả
gốc và lãi, đồng thời còn dành được một phần lợi nhuận. Về mặt xã hội,
thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ sẽ tạo ra công ăn việc
làm, hạn chế các tệ nạn xã hội phát sinh, thúc đẩy kinh tế trên địa bàn
phát triển.
Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại được hình thành và
đảm bảo từ 2 phía là từ Ngân hàng và từ khách hàng.
1.2.1.1. Về phía Ngân hàng : trước khi cho vay, Ngân
hàng phải cân nhắc vừa đảm bảo không vi phạm luật Ngân hàng, các qui
trình nghiệp vụ vừa giải quyết được đầu ra và có hiệu quả. Đây là một
vấn đề khó trong quá trình thực hiện, vì vậy khi quyết định cho vay đòi
hỏi Ngân hàng cần phải nghiên cứu, thẩm định kỹ, nắm bắt được thông
tin về khách hàng vay vốn, tiền vay được sử dụng vào mục đích gì? được
13
Nguyễn Thị Chuyên
sử dụng như thế nào ? khả năng sử dụng số tiền vay đó ra sao và có hiệu
quả không?
1.2.1.2. Về phía khách hàng: Nếu như khách hàng hoạt
động kinh doanh có hiệu quả thì Ngân hàng sẽ nhanh chóng thu hồi được
phần gốc và lãi khoản vốn mà Ngân hàng đã cho vay, ngược lại doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ không có khả
năng trả nợ, số nợ vay Ngân hàng quá hạn tăng lên và sẽ có thể dẫn đến

bằng sông Cửu Long, hạn hán ở Tây Nguyên, và nhiều thách thức như
1/11/2006 Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế
giới(WTO) đánh dấu bước khởi đầu trong sự cạnh tranh thương mại toàn
cầu trong đó có ngành Ngân Hàng, đi kèm với tình hình lạm phát tăng
tiến nhanh từ 2004( hiện nay tính đến cuối 2007, lạm phát đã là 12,6%)
đã làm cho chất lượng tín dụng bị giảm sút nghiêm trọng, thiệt hại không
15
Nguyễn Thị Chuyên
những ngành ngân hàng phải gánh chịu mà nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng
nặng nề.
Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng đối với hoạt động kinh doanh
Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một đòi hỏi khách quan và là
vấn đề vô cùng quan trọng không chỉ đối với Ngân hàng mà là vấn đề
quan tâm của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá và phân loại chất lượng tín dụng
Hiện nay chất lượng tín dụng Ngân hàng được đánh giá qua 2 nhóm
chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu định tính và nhóm chỉ tiêu định lượng.
1.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu định tính:
Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá việc chấp hành các văn bản pháp
quy như: luật Ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng, các qui chế, qui
trình nghiệp vụ, chế độ thể lệ tín dụng và các văn bản chỉ đạo của Ngân
hàng cũng như của Chính phủ trong quá trình thực hiện qui trình cho vay,
Việc thực thi các văn bản này phụ thuộc vào trình độ năng lực chuyên
môn và tinh thông nghiệp vụ của CBTD, năng lực chỉ đạo điều hành của
người quản lý.
Khi cho vay Ngân hàng phải tuân thủ các nguyên tắc tín dụng đó là:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
16
Nguyễn Thị Chuyên

+ Dư nợ
+ Cơ cấu dư nợ: Dư nợ theo thời gian; Dư nợ theo thành phần kinh
tế; Dư nợ theo ngành kinh tế
- Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
+ Vòng quay vốn tín dụng = Tổng doanh số trả nợ / Dư nợ bình
quân
+ Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / tổng dư nợ CV của tổ chức tín
dụng.
Đây là chỉ tiêu phản ánh thực trạng chất lượng tín dụng của tổ chức
tín dụng, song cũng cần phải đi sâu xem xét phân loại nợ quá hạn để đánh
giá thực chất của các khoản nợ quá hạn.
Phân loại NQH theo thời gian: Đến 6 tháng; từ 6 tháng đến 12
tháng; trên 12 tháng
18
Nguyễn Thị Chuyên
Phân loại NQH theo nguyên nhân: Khách quan; chủ quan của khách
hàng; chủ quan của ngân hàng
Phân loại NQH theo khả năng thu hồi: khả năng thu hồi 100%; khả
năng thu hồi một phần; không có khả năng thu hồi.
Ngoài ra còn sử dụng 1 số các chỉ tiêu để phân tán, phòng ngừa và
hạn chế rủi ro như:
+ Giới hạn cho vay đối với 1 khách hàng của tổ chức tín dụng:
không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
+ Các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng:
tỷ lệ cho vay tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay
trung dài hạn; tỷ lệ về khả năng chi trả; tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
Qua 2 nhóm chỉ tiêu ta thấy việc đánh giá chất lượng tín dụng thông
qua các chỉ tiêu định tính là đánh giá việc tuân thủ qui trình cho vay, các
văn bản pháp quy mà nhà nước, ngành ngân hàng ban hành. Việc thực
hiện tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, ý thức chấp hành thể lệ tín dụng,

Nguyễn Thị Chuyên
- Nếu như không hiểu rõ về khách hàng thì đừng quyết định cho
vay: Trước khi quyết định cho vay phải phân tích đánh giá chính xác
khách hàng về:
+ Năng lực pháp lý
+ Năng lực phẩm chất của người điều hành
+ Năng lực tài chính
+ Năng lực kinh doanh, môi trường kinh doanh
+ Tài sản đảm bảo.
- Việc có cho vay tiền hay không là quyết định của ngân hàng, ngân
hàng phải cảm thấy hoàn toàn thoải mái khi ra quyết định cho vay: Việc
có cho vay tiền hay không là một quyết định mang tính độc lập. Mỗi cán
bộ tín dụng phải có sự nhậy cảm và khả năng đánh giá chính xác, các
quyết định trong mỗi giao dịch phải là quyết định của riêng mình và
không hề chịu ảnh hưởng bởi những người liên quan.
- Mục tiêu của khoản tiền cho vay phải hàm chúa cơ sở việc trả nợ:
Việc thẩm định các dự án là rất quan trọng, vì nếu dự án đầu tư phát huy
hiệu quả thì việc trả nợ sẽ rất thuận lợi. Mặt khác các khoản cho vay ngắn
hạn thì chứa đựng rủi ro ít hơn cho vay trung dài hạn (thời hạn càng ngắn
thì tính lỏng càng lớn)
- Ngân hàng cần có nhiều cơ sở dữ liệu thông tin về khoản vay:
Ngân hàng phải tốn nhiều công sức để cố gắng biết được thông tin. Việc
21
Nguyễn Thị Chuyên
nắm bắt thông tin, hiểu biết về lĩnh vực họ đang hoạt động sẽ tạo điều
kiện cho việc ra quyết định cho vay dễ dàng hơn rất nhiều.
- Chu kỳ kinh doanh là không thể biết trước: Ngân hàng phải luôn
nhận thức được thời điểm hiện thời của chu kỳ kinh doanh có thể đánh
giá được khả năng rủi ro chắc chắn phát sinh trong tương lai khi điều kiện
kinh tế thay đổi. Mọi thứ luôn luôn phát triển theo hai hướng, hoặc là xấu

nghiệp địa phương vay: vì chỉ những ngân hàng địa phương mới là người
nắm rõ về khả năng rủi ro thất thoát khi cho vay đối với những công ty
này
- Cần xem xét thái độ nôn nóng xin vay tiền của doanh nghiệp: Tất
cả các quyết định cho vay đều phải xem xét kỹ, đối với những khách
hàng có thái độ nôn nóng muốn vay được tiền ngay thì càng phải cẩn
trọng, càng phải tìm hiểu kỹ trước trước khi cho vay.
23
Nguyễn Thị Chuyên
- Nếu một khoản vay được bảo lãnh thì chắc chắn rằng lợi ích và
trách nhiệm của người bảo lãnh cungx tương đương như người đi vay:
Cần phải biết rằng người bảo lãnh hoàn toàn nhận thức được trách nhiệm
của mình, bởi vì theo nguyên tắc có thể một ngày nào đó họ buộc sẽ phải
làm việc này.
- Cần phải biết chắc rằng khoản tiền mà ngân hàng cho vay được
khách hàng dùng vào việc gì: sau khi giải ngân một thời gian nhất định,
cán bộ tín dụng phải trực tiếp đến kiểm tra việc sử dụng vốn để xem
khách hàng sử dụng vốn có đúng như trong hợp đồng tín dụng không?
- Trước hết phải nghĩ về lợi ích của ngân hàng, khi nguyên tắc cho
vay bị vi phạm thì rủi ro sẽ tăng lên: Đánh giá chính xác, kinh nghiệm và
sự nhậy cảm là những dấu hiệu của một cán bộ tín dụng giỏi. Phải đặt lợi
ích của ngân hàng lên trên lợi ích cá nhân, trước khi quyết định cho vay
hãy tự hỏi mình "có dám đem tiền riêng của mình ra cho vay không?"
Tóm lại, hoạt động tín dụng là hoạt động chính của Ngân hàng
thương mại, là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng.
Nhưng hoạt động tín dụng là một hoạt động phức tạp và chứa đựng nhiều
rủi ro. Do vậy, nâng cao chất lượng tín dụng đối với hoạt động kinh
doanh ngân hàng trong nền kinh tế thị trường góp phần giảm thiểu rủi ro
và là vấn đề vô cùng quan trọng không chỉ đối với Ngân hàng mà là vấn
đề quan tâm của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Để nâng cao chất lượng tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status