CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
1
VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
MỤC LỤC
A. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 3
1. Một số vấn đề cơ bản về FDI 3
1.1. Khái niệm về FDI 3
1.2. Các nhân tố thúc đẩy FDI 5
1.3. Những lợi ích của việc thu hút FDI 6
2. Khái quát xu hướng FDI trên thế giới 7
B. TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN FDI TẠI VIỆT NAM 9
1. Thực trạng FDI tại Việt Nam 9
1.1. Tình hình vốn FDI đăng ký và thực hiện 9
1.2. Những tác động của FDI tới sự phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam 11
1.2.1. FDI trong tổng đầu tư xã hội và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế 11
1.2.2. FDI nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu 12
1.2.3. FDI tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực 13
1.2.4. FDI đối với nguồn thu ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô 13
1.2.5. Những tác động tích cực gián tiếp khác 14
2. Một số hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút và sử dụng vốn
FDI ở Việt Nam 14
2.1. Một số hạn chế trong thu hút và sử dụng vốn FDI 15
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
3
A. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
1. Một số vấn đề cơ bản về FDI
1.1. Khái niệm về FDI
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về FDI. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(IMF), FDI được định nghĩa là: “Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó
một tổ chức trong một nền kinh thế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ
một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác”. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là
muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác ấy.
Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), luồng
vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan
khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà
nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ
phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau: “Đầu tư trực
tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một
tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong
phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài
là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi
là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau: FDI tại
một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài
sản nào vào quốc gia ấy để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát
một thực thể kinh tế tại quốc gia này, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình.
(2) Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ
hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
(3) Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con
trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu,
trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
- Phân theo động cơ của nhà đầu tư:
(1) Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể
kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào.
Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở
nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài
sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các
nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.
(2) Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào
kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các
yếu tố sản xuất như điện, nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng
sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi,
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
5
(3) Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường
hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư
này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các
nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị
trường khu vực và toàn cầu.
1.2. Các nhân tố thúc đẩy FDI
Vốn FDI là nguồn vốn quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nhiều nước. Các nhân tố chính thúc đẩy FDI
bao gồm:
- Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước: Giữa các nước luôn tồn
- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương. Thí dụ, Nhật Bản thường
bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các đối
tác của Nhật Bản lại bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật
Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy
tính ngay tại Mỹ và châu Âu để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ
còn tiến hành đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường
Mỹ và châu Âu.
- Khai thác chuyên gia và công nghệ: Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước
phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại cũng khá mạnh mẽ
1
. Bằng
con đường đầu tư vào các nước phát triển, nhiều nước đang phát triển có thể tiếp cận
nhanh và khai thác nguồn nhân lực chất lượng cao và công nghệ hiện đại từ các nước phát
triển.
- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều
công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú.
Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950
là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.
1.3. Những lợi ích của việc thu hút FDI
Lợi ích của FDI đối với các nước tiếp nhận đầu tư thể hiện ở một số điểm chính
sau đây:
- Bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế,
nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn,
phải có nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn
có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.
1
Các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia
người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các
hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng.
2. Khái quát xu hướng FDI trên thế giới
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã có tác động sâu sắc
đến các dòng vốn trên thế giới, trong đó có FDI. Tiếp theo đà suy giảm của năm 2008,
các dòng vốn trên thế giới giảm mạnh trong năm 2009. Nguyên nhân chính của sự
giảm sút FDI là do các hoạt động đầu tư mới cũng như sát nhập và mua lại đều giảm.
Hiện tượng nhiều công ty rút vốn đầu tư cũng góp phần khiến cho tổng FDI toàn cầu
giảm mạnh. Về chủ thể đầu tư và nhận đầu tư, các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt nhóm
BRIC (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc) là những địa điểm hấp dẫn, song FDI vào
các ngành theo định hướng xuất khẩu của các quốc gia này giảm do cầu của các nước
phát triển sụt giảm mạnh. Có một xu hướng đáng lưu ý đã hình thành là việc các nước
mới nổi đang ngày càng đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài.
Trong khi đó, nhiều quốc gia gặp khó khăn trong nỗ lực trả nợ. Mỹ, Nhật Bản và
hầu hết các nước phát triển đều là những “nhà nước - con nợ” khổng lồ với chỉ số tín
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
8
nhiệm không ổn định, thậm chí có nguy cơ tụt hạng. Theo Tạp chí BusinessWeek số
tháng 1/2010, năm 2009 tỷ lệ nợ công/GDP của Nhật Bản là 227%, Mỹ 93,6%, Bồ
Đào Nha 84,6%, Đức 84,5%, Pháp 82,6%, Tây Ban Nha 54%… Do vậy, cộng đồng
quốc tế đang và có thể phải tung ra các khoản cứu trợ lớn để giúp các nước - con nợ
(có thể tới 90-150 tỷ Euro cho Hy Lạp, 40 tỷ Euro cho Bồ Đào Nha và 350 tỷ Euro
cho Tây Ban Nha). Có thể nói, quả bom nợ nần đang treo lơ lửng, có nguy cơ gây
những bất ổn khó lường và trở thành vũ khí gây áp lực chính sách mới đối với nhiều
quốc gia và cả nền kinh tế thế giới…
Theo đánh giá của UNCTAD, khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tồi tệ
đến kế hoạch năm 2009 của các công ty đa quốc gia - một nhân tố quan trọng trong
FDI toàn cầu. Cuộc khủng hoảng đã khiến FDI của các công ty này giảm 2/3 lượng
vốn đầu tư trong năm 2009, do tín dụng bị siết chặt và lợi nhuận giảm. Tính chung cả
mở rộng hơn…
B. TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN FDI TẠI VIỆT NAM
1. Thực trạng FDI tại Việt Nam
1.1. Tình hình vốn FDI đăng ký và thực hiện
Trong hơn 20 năm qua, kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước,
FDI đã có những đóng góp đáng kể. Hiện nay, đất nước đang trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì nguồn vốn FDI tiếp tục đóng vai trò rất quan
trọng.
Chính sách thu hút FDI tại Việt Nam đã được thực hiện ngay từ khi Việt Nam
tiến hành cải cách kinh tế và được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật. Xu hướng
thay đổi chủ đạo trong chính sách FDI chung là ngày càng nới rộng quyền, tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài và thu hẹp sự khác biệt giữa đầu tư
nước ngoài và đầu tư trong nước. Những thay đổi này thể hiện nỗ lực của Chính phủ
trong việc cải thiện, tạo môi trường đầu tư theo xu hướng hội nhập quốc tế của Việt
Nam. Những thay đổi này xuất phát từ ba yếu tố chính: (1) thay đổi về nhận thức và
quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với khu vực có vốn FDI; (2) thay đổi trong
chính sách thu hút FDI của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo nên áp lực
cạnh tranh đối với dòng vốn FDI vào Việt Nam; và (3) những cam kết quốc tế của
Việt Nam về đầu tư nước ngoài.
Theo định hướng chính sách, Việt Nam tập trung thu hút FDI vào những ngành
và lĩnh vực có thể tận dụng được lợi thế của các công ty đa quốc gia, bao gồm các
ngành công nghệ cao, công nghệ nguồn, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật
liệu mới, viễn thông ; các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh như dệt may, da
giầy, công nghiệp chế biến…; những ngành có khả năng sinh lợi cao như du lịch, tài
chính, ngân hàng, bảo hiểm và một số ngành dịch vụ khác,… để tạo thêm nhiều công
ăn việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước mở cửa thị trường,
thực hiện đúng lộ trình mở cửa theo cam kết hội nhập WTO (Bảng 2).
Bảng 2. Danh mục các ngành ưu tiên thu hút FDI và các công ty đa quốc gia
mục tiêu
vốn đăng ký
2001 555 3142,8 2450,5 0,78
2002 808 2998,8 2591,0 0,86
2003 791 3191,2 2650,0 0,83
2004 811 4547,6 2852,5 0,63
2005 970 6839,8 3308,8 0,48
2006 987 12004,0 4100,1 0,34
2007 1544 21347,8 8030,0 0,38
2008 1557 717260 11500,0 0,16
2009 839 21482,1 10000,0 0,47
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Hình 1: Xu hướng phát triển FDI giai đoạn 2001 – 2009 ở Việt Nam
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
11
0.0
10000.0
20000.0
30000.0
40000.0
50000.0
60000.0
70000.0
80000.0
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
N
ă
m
Tri
ố
n th
ự
c hi
ệ
n S
ố
d
ự
án
Nguồn: Tính toán theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
1.2. Những tác động của FDI tới sự phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam
Khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam. Trước hết, FDI là nguồn vốn bổ sung đáng kể vào tổng đầu tư xã hội và góp
phần cải thiện cán cân thanh toán. Các nghiên cứu gần đây đều có chung nhận định
rằng, FDI đã đóng góp phần quan trọng vào GDP với tỷ trọng ngày càng cao, góp
phần tăng cường năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ nhiều ngành kinh tế, khai
thông thị trường sản phẩm (đặc biệt là gia tăng kim ngạch xuất khẩu), đóng góp cho
ngân sách nhà nước và tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho một bộ phận lao động.
Bên cạnh đó, FDI có vai trò trong chuyển giao công nghệ, tạo ra sức ép buộc các
doanh nghiệp trong nước phải tự động đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản
xuất, kinh doanh. Các dự án FDI có tác động tích cực tới việc nâng cao năng lực quản
lý và trình độ của người lao động, tạo ra kênh truyền tác động tích cực hữu hiệu.
1.2.1. FDI trong tổng đầu tư xã hội và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua, khu vực có vốn FDI chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong
tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời có đóng góp cho GDP gia tăng liên tục. Trong
những năm gần đây, vốn FDI chiếm gần 20% vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp
khoảng 30% vào tăng trưởng GDP hàng năm (Hình 2).
Hình 2. FDI thực hiện so với tổng đầu tư toàn xã hội và đóng góp của
18.00
20.00
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
%
0.00
5.00
10.00
15.00
20.00
25.00
30.00
35.00
%
% so với tổng vốn đầu tư xã hội % đóng góp trong GDP
Nguồn: Dựa trên số liệu của Bộ Kế hoạch Đầu tư.
Không chỉ đóng góp nhiều cho GDP, khu vực FDI đã luôn luôn dẫn đầu về tốc
độ tăng giá trị gia tăng so với các khu vực kinh tế khác và là khu vực phát triển năng
động nhất.
1.2.2. FDI nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu
Phần lớn vốn FDI chảy vào lĩnh vực công nghiệp, chiếm tới 2/3 tổng vốn FDI
vào Việt Nam. Các dự án FDI hầu hết là đầu tư mới đã thu hút lượng lao động lớn,
cộng với năng suất lao động của khu vực này cao hơn khu vực khác nên giá trị sản
xuất công nghiệp tăng trưởng nhanh hơn công nghiệp chung của cả nước, góp phần
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các
doanh nghiệp FDI đã tạo ra một số ngành công nghiệp mới và đưa năng lực sản xuất
tăng lên như dầu khí, viễn thông, hoá chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia
dụng, dệt may, da giày, thực phẩm Hiện các doanh nghiệp FDI chiếm 100% dầu
thô, sản xuất ôtô, máy giặt, điều hoà, tủ lạnh, thiết bị máy tính; 60% sản lượng thép
cán; 28% xi măng; 33% máy móc thiết bị điện, điện tử; 76% dụng cụ y tế chính xác;
của lao động khu vực này cao gấp hai lần so với các doanh nghiệp khác cùng ngành.
Hơn nữa, số lao động này được tiếp cận công nghệ hiện đại, kỷ luật lao động tốt, học
hỏi được các phương thức lao động tiên tiến. Hàng vạn cán bộ quản lý và kỹ thuật
người Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp FDI đã được nâng cao kỹ năng và
tay nghề. Một bộ phận chuyên gia Việt Nam đã có thể thay thế dần các chuyên gia
nước ngoài trong việc đảm nhận chức vụ quản lý doanh nghiệp và điều khiển quy
trình công nghệ hiện đại. Bên cạnh số việc làm trực tiếp, khu vực FDI còn gián tiếp tạo
thêm hàng triệu việc làm trong lĩnh vực dịch vụ và trong các ngành công nghiệp phụ trợ
trong nước.
1.2.4. FDI đối với nguồn thu ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô
Khu vực FDI đóng góp ngày càng tăng vào nguồn thu ngân sách của nhà nước.
Thời kỳ 1996 – 2000, không kể thu từ dầu thô, khu vực doanh nghiệp FDI đã nộp
ngân sách 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với thời kỳ 5 năm trước đó; trong 5 năm 2001
– 2005 đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm; con số này của 2 năm 2006 và
2007 là trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996 – 2000 và bằng 83% thời kỳ 2001 –
2005; riêng năm 2008 đạt 2 tỷ USD, tăng 25,8% so năm 2007.
2
Tính cả dầu khí.
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
14
Hoạt động của các doanh nghiệp FDI đã tác động tích cực đến các cân đối lớn
của nền kinh tế như: đóng góp vào việc tăng thặng dư của tài khoản vốn, giảm thiểu
thâm hụt thương mại qua đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần cải thiện cán cân thanh toán
nói chung. Khu vực FDI cung cấp lượng hàng hóa và dịch vụ lớn ra thị trường, đáp
ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô
Do dòng vốn FDI tập trung đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh như
các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu, khai thác tài nguyên,
xuất bản khoa học kỹ thuật, Hà Nội, năm 2006.
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
15
2.1. Một số hạn chế trong thu hút và sử dụng vốn FDI
Tuy đã đạt được nhiều thành tựu và góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, nhưng đi sâu vào phân tích thực trạng thu hút và sử dụng FDI ở Việt
Nam có thể thấy còn nhiều vấn đề cần xem xét và điều chỉnh.
2.1.1. Hiệu quả của vốn FDI còn thấp, chuyển giao công nghệ chậm chạp,
chuyển giá ra ngoài, khu vực FDI chưa tạo ra được tác động lan tỏa tới các khu vực
kinh tế khác như mong muốn
Từ khi FDI vào Việt Nam, khối doanh nghiệp FDI được kỳ vọng sẽ là lực lượng
giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo vốn và kích thích chuyển giao và
đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, trên thực tế, trong giai đoạn 1999-2009, đặc biệt là
trong 3 năm gần đây, khu vực FDI bị coi là khu vực có hiệu quả kém, với nhiều doanh
nghiệp bị thua lỗ, hoặc các doanh nghiệp khác thì thực chất chỉ là một phân xưởng gia
công của công ty mẹ ở nước ngoài. Có thể đánh giá hiệu quả FDI căn cứ vào hai chỉ
số: Tỷ số gia tăng vốn và đầu vào (ICOR) và Hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp
(TFP).
Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho thấy, trong 10 năm 1999 –
2009, ICOR của khu vực nhà nước là 7,76; khu vực tư nhân là 3,54; khu vực FDI là
7,91. Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao chỉ là 3,6. Như
vậy, có thể thấy, khối doanh nghiệp FDI có chỉ số cao nhất và điều đó chứng tỏ hiệu
quả trong khu vực này là thấp nhất.
Về việc chuyển giao công nghệ, TFP của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân
và doanh nghiệp FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và -17,6. Theo nghiên cứu này, TFP của khối
doanh nghiệp nhà nước cao nhất, cho thấy rằng mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này
nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Trong khi ở
khối FDI thì chỉ số này lại âm (-17,6), cho thấy sự tăng trưởng chủ yếu nhờ vào các yếu
tố khác, thí dụ lao động rẻ, chứ không phải do công nghệ. Trên thực tế, khảo sát ở
Hậu quả là tác động lan tỏa của FDI đối với sự phát triển doanh nghiệp ở Việt
Nam, nhất là về chuyển giao công nghệ và tạo mạng lưới liên kết, còn khá hạn chế so
với ở nhiều nước khác. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, có thể do chính sách thu hút
FDI của chúng ta chưa thật hướng trọng tâm vào những nền kinh tế tiên tiến nhất,
những công ty hàng đầu trong các lĩnh vực cần quan tâm, mà còn dàn trải, nặng về nỗ
lực thu hút tối đa số lượng dự án và số vốn cam kết từ mọi nguồn. Cũng có thể do
năng lực của chúng ta còn hạn chế, từ việc hiểu và biết cách chơi với các nhà đầu tư
lớn, đến khả năng chọn lựa, thẩm định các đối tác FDI, nhất là ở cấp địa phương.
Một vấn đề đã được nói đến từ lâu là thủ thuật “chuyển giá” của doanh nghiệp
FDI. Theo số liệu công bố mới đây của Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh, trong số
1.254 doanh nghiệp có vốn FDI nộp hồ sơ báo cáo thuế năm 2008, có đến 708 doanh
nghiệp báo lỗ, trong đó có đến gần 90% hoạt động trong lĩnh vực may mặc. Đây rõ
ràng là điều vô lý và không bình thường khi hầu hết doanh nghiệp may mặc Việt
Nam, dù phải nhập khẩu phần lớn nguyên phụ liệu của nước ngoài, đều làm ăn có lãi.
Các doanh nghiệp FDI luôn có lợi thế hơn hẳn so với các doanh nghiệp trong nước
khi có các công ty mẹ ở chính quốc sản xuất nguyên phụ liệu. Họ sẵn sàng cung cấp
nguyên phụ liệu cho các công ty con ở nước ngoài sản xuất. Vậy vì sao các doanh
nghiệp này bị lỗ?
Tại Việt Nam có không ít doanh nghiệp FDI tận dụng yếu tố lao động rẻ để đầu
tư vào các ngành công nghiệp gia công với công nghệ không cao, thậm chí với máy
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
17
móc lạc hậu, để tạo ưu thế về chi phí sản xuất hàng xuất khẩu. Các doanh nghiệp này
không chỉ thu lãi trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mà còn tạo điều kiện cho các công
ty ở chính quốc tăng lợi nhuận khi tính cao giá công thiết kế, bản quyền, hậu cần hay
tư vấn Phía đối tác thực hiện chiến lược chuyển giá bằng hình thức tăng giá đầu
vào, giảm giá đầu ra, gây thiệt hại không nhỏ cho các phía đối tác Việt Nam. Cuối
cùng, lợi nhuận thực đã “chảy” ra nước ngoài.
Một điểm đáng lưu ý nữa là tại Việt Nam đã xuất hiện nguy cơ rửa tiền dưới
18
phương có nhiều lợi thế như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng
Nai, Hải Phòng, Đồng thời cũng có nhiều ưu đãi khi đầu tư vào những địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn như: Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Bắc Cạn, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị…
Cho đến nay FDI đã có mặt ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước. Tuy nhiên, cơ
cấu dự án FDI theo vùng thay đổi khá chậm và bộc lộ nhiều bất cập. Cơ cấu đầu tư
còn mất cân đối và phân bổ không đồng đều. Phần lớn các dự án FDI tập trung ở các
trung tâm kinh tế, nơi có điều kiện hạ tầng thuận lợi, nguồn lao động dồi dào, có trình
độ, và nhiều lợi thế khác. Hiện nay, FDI tập trung nhiều ở vùng kinh tế trọng điểm
Đông Nam Bộ (chiếm tới 44,2% lượng vốn FDI của cả nước), tiếp đến là vùng Bắc
Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (chiếm 34,4%), vùng Đồng bằng sông Hồng
(chiếm 15,5%) (Hình 3).
Hình 3. Cơ cấu FDI theo vùng kinh tế
15.05
1.53
34.04
0.33
44.20
4.86
Đồng Bằng Sông Hồng Trung Du và miền núi phía Bắc
Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung Tây Nguyên
Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: Dựa theo số liệu của Tổng cục Thống kê.
Mặc dù một vài năm gần đây các tỉnh miền Bắc và Trung bộ đã có nhiều nỗ lực
và thu hút được lượng vốn FDI khá hơn, tuy nhiên, kết quả đạt được chưa như mong
muốn. Một số vùng thu hút được lượng vốn FDI rất thấp, đáng chú ý là: Trung du và
miền núi phía Bắc (chiếm 1,53% tổng lượng vốn FDI); Tây Nguyên (chiếm 0,33%);
1 Đắc Nông 5 15,50
2 Hà Giang 6 8,51
3 Cà Mau 5 7,00
4 Lai Châu 3 4,00
5 Điện Biên 1 0,13
Tổng 20 35,14
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Sự mất cân đối về thu hút và sử dụng FDI giữa các vùng và địa phương được
xem là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển không cân đối về
kinh tế - xã hội giữa các vùng và địa phương trong cả nước, đồng thời làm cho
khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng ngày một tăng lên. Có những nơi chúng ta
tuyên bố dành ưu tiên cao nhất nhưng FDI vẫn chưa sẵn sàng vào, nhiều khu công
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
20
nghiệp được mở ra ở các tỉnh trên khắp mọi miền đất nước nhưng tỷ lệ khai thác rất
thấp, trong khi có một số nơi lại quá tải, một số quy hoạch phát triển bị đảo lộn do có
quá nhiều cam kết FDI.
(2) Về cấu trúc vốn FDI theo ngành, lĩnh vực:
Cơ cấu đầu tư theo ngành chưa hợp lý, về cơ bản chưa kéo được FDI vào những
lĩnh vực cần phát triển ưu tiên như hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ cao,
nhằm tạo ra cơ sở phát triển bền vững và tăng khả năng đón đầu phát triển. Việt Nam
chưa có được những dự án có chất lượng cao về quy mô kinh tế, về tính bền vững, về
năng lực cạnh tranh quốc tế và khả năng kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu để tạo
nên năng lực và lợi thế cạnh tranh mới cho nền kinh tế. Sự mất cân đối giữa các
ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế được thể hiện ở chỗ FDI thường tập trung vào
những ngành có khả năng sinh lợi cao và sinh lợi ngay như khai thác tài nguyên thiên
nhiên, khoáng sản, dầu khí, những ngành khai thác được nguồn nhân lực giá rẻ, tận
dụng được vị trí địa lý và thị trường nội địa, khai thác những lợi thế so sánh vốn có
của Việt Nam. Những năm gần đây, ngày càng nhiều vốn FDI đổ vào một số ngành
Y tế, Giáo dục và đào tạo
Hoạt động khác
Nguồn: Dựa trên số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Điều đáng lưu ý là dù FDI tập trung nhiều vào lĩnh vực công nghiệp, đóng góp tới
hơn 35% tổng giá trị sản lượng công nghiệp của cả nước, nhưng đến nay hầu hết các
ngành công nghiệp của chúng ta vẫn chỉ ở trình độ công nghệ khiêm tốn, tạo được ít giá
trị gia tăng, năng lực cạnh tranh hạn chế, và ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị khu vực và
toàn cầu. Trong khi đó, nông nghiệp là thế mạnh của nước ta, lại là ngành thu hút FDI
không đáng kể, và khu vực FDI cũng không tạo ra được tác động tích cực trong việc
thúc đẩy sự phát triển của ngành này. Nguyên nhân chính là do đặc điểm của sản xuất
nông nghiệp là nhiều rủi ro, lãi suất thấp, thu hồi vốn chậm nên các nhà đầu tư ít quan
tâm. Vì vậy, khu vực nông nghiệp – nông thôn hiện tại cũng như những năm tới trông
chờ chủ yếu vẫn là vốn ngân sách nhà nước.
(3) Về cấu trúc FDI theo hình thức đầu tư:
Nếu như trong những năm đầu, đa số doanh nghiệp FDI chọn phương thức liên
doanh với doanh nghiệp trong nước giống như ở nhiều nước trên thế giới, thì càng
những năm sau, phương thức lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng trở
nên phổ biến hơn, kể cả nhiều doanh nghiệp liên doanh cũng được nhà đầu tư nước
ngoài mua nốt phần vốn góp của phía Việt Nam để trở thành 100% vốn nước ngoài.
Trước năm 2000, các doanh nghiệp liên doanh chiếm tỷ trọng 60-70% số dự án FDI,
thì kể từ đó đến nay, các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng trên
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
22
70%. Đây là một hiện tượng bất thường bởi sức lan tỏa của FDI không thể dựa chủ
yếu vào doanh nghiệp 100% vốn ngoại. Cho đến nay, hầu như chưa có một nghiên
cứu toàn diện nào từ các cơ quan quản lý nhà nước về xu hướng phát triển này đã đặt
ra vấn đề gì cho đất nước, nhất là tác động lan tỏa của FDI đối với các doanh nghiệp
trong nước.
Đối tác đầu tư
Số dự án
(còn hiệu lực)
Tổng vốn FDI đăng ký
(triệu USD)
1 Đài Loan 2.023 21.344.405,81
2 Hàn Quốc 2.327 20.572.892,32
3 Malaysia 341 18.064.514,60
4 Nhật Bản 1.160 17.816.524,08
5 Singapore 776 17.003.489,91
6 Mỹ 495 14.539.123,31
7 Quần đảo Virgin (Anh) 453 13.194.840,65
8 Hồng Kông 564 7.718.774,72
9 Quần đảo Cayman 44 6.630.072,85
10 Thái Lan 220 5.773.990,71
11 Canađa 93 4.798.138,13
13 Pháp 274 3.040.302,27
18 Vương quốc Anh 120 2.151.477,50
22 CHLB Đức 139 777.611,41
31 Italia 34 162.002,27
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Thu hút FDI từ các đối tác là nước phát triển là điều đáng mong muốn, tuy nhiên
những năm qua chúng ta chưa có chiến lược FDI trọng điểm có hiệu quả, với quan
điểm phổ biến là thu hút FDI thiên về mặt lượng, từ bất kỳ đối tác nào, cho nên kết
quả đạt được không như mong muốn.
2.1.3. Tình hình trì hoãn thực hiện dự án và rút vốn đầu tư gia tăng
Trong những năm gần đây, một vấn đề nổi lên rất bức bách là, có nhiều dự án
FDI bị bỏ dở, bị trì hoãn do nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn về kinh tế. Không
thu xếp được tài chính, nhiều chủ dự án đã có đơn xin rút hoặc tạm dừng đầu tư. Sự
gia tăng quá nhanh các dự án lớn, hay còn gọi là các “siêu dự án”, với cơ cấu đầu tư
chân tại chỗ”.
Còn tại Thái Nguyên, dự án khai khoáng Núi Pháo – một trong những dự án FDI lớn
nhất ở tỉnh này (quy mô 450 triệu USD) được cấp phép cách đây nhiều năm đến nay vẫn
không triển khai được, đang trong quá trình đàm phám chuyển đổi cho nhà đầu tư trong
nước thực hiện.
Năng lực tài chính của nhà đầu tư nước ngoài hạn chế là nguyên nhân việc triển khai
các dự án chậm trễ. Các trường hợp “nhùng nhằng” như trên không phải lần đầu tiên mới
xảy ra. Điển hình nhất về tình cảnh “đầu voi, đuôi chuột” là dự án liên hợp thép Tycoon -
E.United ở Dung Quất, Quảng Ngãi.
Được cấp phép vào tháng 9/2006 với tổng vốn 1,2 tỷ USD, nhưng sau 3 năm, hình hài
dự án chưa thấy đâu, chỉ thấy sự thay đổi như chong chóng của phía các nhà đầu tư.
Một dự án khác ở Bà Rịa - Vũng Tàu có tổng vốn đầu tư lên đến trên 3 tỷ USD, nhưng
ngay từ khi triển khai dư luận đã cho rằng đây là một dự án “xí chỗ”, bởi lẽ tiềm lực tài
chính của chủ đầu tư chỉ có khoảng 100 triệu USD, cùng với “lá bùa” là giấy phép xây dựng
casino, nằm trong tổng thể dự án khách sạn, khu du lịch, nghỉ dưỡng…
5
Báo cáo cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam, WB 6/2009.
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
25
“Thời gian gần đây các dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực BĐS có số vốn đăng ký khá lớn.
Phải hết sức lưu tâm rằng, không phải nhà đầu tư nước ngoài sẽ đem toàn bộ tiền của mình
vào đầu tư. Phổ biến là làm theo kiểu cuốn chiếu “lấy mỡ nó rán nó”. Do đó việc đóng góp
vào mục tiêu cân đối ngoại hối không lớn và loại hàng hóa này cũng không xuất khẩu được,
để mang về ngoại tệ cho đất nước!” - ông Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch
và Đầu tư nhận định.
Hậu quả tất yếu của việc dễ dãi trong tiếp nhận FDI là sẽ có nhiều dự án tỷ đô bị rút
giấy phép. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giải pháp bất đắc dĩ. Các hệ lụy xảy ra cuối cùng
nước ta phải gánh chịu. Có thể thấy mỗi dự án liên hợp thép thường chiếm ít nhất từ 1.000 -