cac biện pháp tu từ tiếng việt, bài tập - Pdf 25

Các biện pháp tu từ Tiếng Việt
BIỆN PHÁP TU TỪ:
cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn. Tuỳ theo
các phương tiện ngôn ngữ được kết hợp mà BPTT được chia ra: BPTT ngữ âm, BPTT từ vựng - ngữ nghĩa, BPTT
cú pháp, BPTT văn bản. Vd. điệp âm, điệp vần, điệp thanh, hài âm là những BPTT ngữ âm; tương phản, so sánh,
ẩn dụ, nói lái, phản ngữ là những BPTT từ vựng ngữ nghĩa; sóng đôi, câu hỏi tu từ là những BPTT cú pháp; hài
hoà tương phản, quy định về đoạn trong văn bản là những BPTT văn bản.
A. Các biện pháp tu từ được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng
Ðặc điểm chung của những biện pháp thuộc nhóm này là trong văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện
tượng chuyển đổi ý nghĩa lâm thời. Tức là, nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này được lâm thời
chuyển sang biểu thị đối tượng khác, dựa trên cơ sở của hai mối quan hệ liên tưởng : liên tưởng tương
đồng và logic khách quan. Mặc dù so sánh không phải là hiện tượng chuyển nghĩa nhưng nó là cơ sở
của nhiều biện pháp tu từ trong nhóm này.
I- So Sánh
1- Khái niệm:
So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có một nét tương đồng
nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm
mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe. Ví dụ:
Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. ( Ca dao )
Cần phân biệt so sánh tu từ với so sánh luận lí. Dù đều là thao tác đối chiếu giữa hai hay nhiều đối
tượng với nhau nhưng hai loại so sánh này lại có sự khác nhau về chất. Nếu so sánh tu từ là sự đối
chiếu giữa các đối tượng khác loại thì so sánh luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại. Nếu
so sánh tu từ nhằm mục đích gợi lên một cách hình ảnh đặc điểm giữa các đối tượng từ đó tạo nên xúc
cảm thẩm mĩ trong nhận thức của người tiếp nhận thì so sánh luận lí đơn thuần chỉ cho ta thấy sự ngang
bằng hay hơn kém giữa các đối tượng đấy mà thôi.Ví dụ :
So sánh tu từ So sánh luận lí
- Ðôi ta như cá ở đìa
Ngày ăn tản lạc, tối dìa ngủ chung
- Ðứt tay một chút chẳng đau
Xa nhau một chút như dao cắt lòng.

II- Ẩn dụ tu từ :
1- Khái niệm: Ẩn dụ là cách lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này để chỉ đối tượng kia dựa vào nét
tương đồng giữa hai đối tượng. Ví dụ:
Tưởng nước giếng sâu nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợi dây.
( Ca dao )
2- Cấu tạo:
2.1- Hình thức: Ẩn dụ tu từ chỉ phô bày một đối tượng- đối tượng dùng để biểu thị- còn đối tượng định
nói đến- được biểu thị- thì dấu đi, ẩn đi, không phô ra như so sánh tu từ.
2.2- Nội dung: Ẩn dụ tu từ cũng giống như so sánh tu từ (do đó người ta còn gọi là so sánh ngầm),
nghĩa là cần phải liên tưởng rút ra nét tương đồng giữa hai đối tượng. Những mối quan hệ liên
tưởng tương đồng thường được dùng để cấu tạo ẩn dụ tu từ là: tương đồng về màu sắc, tương
đồng về tính chất, tương đồng về trạng thái, tương đồng về hành động, tương đồng về cơ cấu
3- Chức năng : Ẩn dụ tu từ có hai chức năng: biểu cảm và nhận thức. Biện pháp tu từ này cũng được
dùng rộng rãi trong các PCCN tiếng Việt.
III- Nhân hoá :
1- Khái niệm: Nhân hoá là một biến thể của ẩn dụ tu từ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị
những thuộc tính, hoạt động của người dùng để biểu thị hoạt động của đối tượng khác loại dựa
trên nét tương đồng về thuộc tính, về hoat động giữa người và đối tượng không phải là người.
Ví dụ:
Những chị luá phất phơ bím tóc
Những cây tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Ðàn cò trắng
Khiêng nắng qua sông.
( Trần Ðăng Khoa )
2- Cấu tạo :
2.1- Hình thức:
+ Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của người để biểu thị những tính chất, hoạt động của đối
tượng không phải là người. Ví dụ:
Ðây những tháp gầy mòn vì mong đợi

2.2- Nội dung: Nếu ẩn dụ dựa trên mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng thì hoán dụ dựa vào mối
quan hệ có thực, quan hệ tiếp cận. Một số mối quan hệ logic khách quan thường được
dùng để cấu tạo nên hoán dụ tu từ:
- Quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng.
- Quan hệ giữa bộ phận và toàn thể.
- Quan hệ giữa cái chứa đựng và vật được chứa đựng ( cải dung).
- Quan hệ giữa chủ thể và vật sở thuộc.
- Quan hệ giữa số lượng xác định và số lượng không xác định ( cải số ).
- Quan hệ giữa tên riêng và tính cách con người ( cải danh).
3- Chức năng
Hoán dụ chủ yếu có chức năng nhận thức. Biện pháp tu từ này được dùng rộng rãi trong các
PCCN tiếng Việt.
V- Tượng trưng:
1- Khái niệm : Tượng trưng là biện pháp tu từ biểu thị đối tượng định miêu tả bằng ước lệ có tính chất xã
hội. Người ta quy ước với nhau rằng từ này có thể được dùng để biểu thị một đối tượng khác
ngoài nội dung ngữ nghĩa thông thường của nó.
Ví dụ:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.
( Nguyễn Công Trứ )
2- Cấu tạo:
2.1- Hình thức: Chỉ có một vế biểu hiện giống như ẩn dụ và hoán dụ tu từ.
2.2- Nội dung: Ðược xây dựng trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng tương đồng và logic khác quan.
* Tượng trưng ẩn dụ:
Chênh vênh thẳng đuột bách tùng
Với hàng lau cỏ đứng cùng được sau.
( Nguyễn Công Trứ)
*Tượng trưng hoán dụ:

3-Chức năng: Ðiệp ngữ vừa có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm. Biện pháp này được
dùng rộng rãi trong các PCCN.
II- Phối hợp từ:
1- Khái niệm: Phối hợp từ ( còn gọi là đồng nghĩa kép) là biện pháp tu từ trong đó người ta dùng phối
hợp nhiều từ ngữ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa nhằm mục đích biểu hiện đầy đủ các phương diện khác
nhau của cùng một đối tượng hoặc cùng một nội dung trình bày.
Ví dụ:
Xoè bàn tay bấm đốt
Tính đã bốn năm ròng
Người ta bảo không trông
Ai cũng nhủ đừng mong
Riêng em thì em nhớ.
( Thăm luá -Trần Hữu Thung )
2- Tác dụng :
- Giúp lời văn thêm mạnh, làm cho sự biểu đạt tư tưởng tình cảm đầy đủ, chính xác.
- Thể hiện sự say sưa, nhiệt tình của lời nói, làm tăng thêm tính hùng hồn và hấp dẫn. Tuy nhiên, nếu
lạm dụng thì câu văn dễ trở nên nặng nề.
3-Chức năng :
Phối hợp từ có cả chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này thường được dùng trong PC văn
chương và PC chính luận.
III- Tiệm Tiến:
1- Khái niệm: Tiệm tiến là biện pháp tu từ dùng cách sắp xếp các lượng ngữ nghĩa có quan hệ gần gũi
nhau theo một trình tự từ nhỏ đếön lớn, từ nông đến sâu, từ nhẹ đến mạnh, từ phương diện này đến
phương diện kia, hoặc ngược lại trình tự đó. Kết quả là phần đi sau hơn hoặc kém phần đi trước về nội
dung ý nghĩa hoặc về sắc thái biểu cảm.
Ví dụ: Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy
gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước
( Hồ Chí Minh)
2- Tác dụng: Tiệm tiến có tác dụng tạo nên sự bất ngờ, gây một cảm xúc và một ấn tượng đặc biệt đối
với nội dung trình bày bởi vì sự miêu tả cứï tăng dần hoặc giảm dần theo những cung bậc mà người ta

trong các phong cách : chính luận, thông tấn và văn chương .
VI- Im lặng :
1- Khái niệm: Im lặng (hay còn gọi là phép lặng) là biện pháp tu từ dùng sự biểu đạt bằng cách bỏ trống
(tín hiệu zêrô). Nhờ ngữ cảnh, nhờ những dòng chữ, những tiếng nói có mặt mà những dòng chữ,
những tiếng nói vắng mặt trở nên có nghĩa.( Trong chữ viết, phép lặng được thể hiện bằng dấu ba chấm
[ ] )
Ví dụ:
Tay em cầm một bông hồng
Ðẹp tươi như thể trắng trong như là
Sao anh như thấy thừa ra
Hoặc bông hồng ấy hoặc là chính em .
( Phạm Công Trứ )
2- Ðặc điểm : Im lặng thường được dùng trong hai trường hợp :
2.1- Diễn tả sự e thẹn, đau khổ, tiếc thương hay sự uất ức nghẹn ngào không nói ra được. Ví dụ:
Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta!
(Khóc Dương Khuê- Nguyễn Khuyến)
2.2- Dùng để châm biếm, đả kích. Ví dụ:
Ðã mang tiết xuất gia
Lại đeo thói nguyệt hoa
Sự mô đâu có thế
Ma!
( Thơ Yết hậu)
3- Chức năng: Im lặng có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này thường được dùng
trong các phong cách : khẩu ngữ, văn chương
VII- Khoa trương:
1- Khái niệm: Khoa trương ( hay còn gọi là Ngoa dụ, phóng đại- Hyperbole) là biện pháp tu từ dùng sự
cường điệu quy mô, tính chất, mức độ, của đối tượng được miêu tả so với cách biểu hiện bình thường
nhằm mục đích nhấn mạnh vào một bản chất nào đó của đối tượng được miêu tả.
Ví dụ :

Anh yêu em xong anh đi đâu?
Lắng tiếng gió, suối, thấy tiếng khóc
Một bụng một dạ một nặng nhọc
Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi
Nghĩ mãi gỡ mãi lỗi vẫn lỗi
Thương thay cho em căm thay anh
Tình hoài càng ngày càng tày đình.
2- Chức năng: Chơi chữ có cả hai chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này thường được dùng
để châm biếm, đả kích hoặc để đùa vui. Nó thường được dùng trong các PC như : khẩu ngữ, chính luận,
văn chương.
X- Nói lái:
1- Khái niệm: Nói lái là biện pháp tu từ dùng cách đánh tráo phụ âm đầu, vần và thanh điệu giữa hai hay
nhiều âm tiết để tạo nên những lượng ngữ nghĩa mới bất ngờ, nhằm mục đích châm biếm, đùa vui. Ðây
là hình thức chơi chữ đặc biệt của các ngôn ngữ phân tiết như tiếng Việt.
Ví dụ:
Cam sành nhỏ lá thanh ương
Ngọt mật thanh đường nhắm lớ bớ anh
Thanh ương là tuổi mong chờ
Một mai nhái lặn chà quơ, quơ chà.
( Ca dao )
Về lí thuyết, khi có hai âm tiết ta đã có thể nói lái. Tuy nhiên, nói lái chỉ trở thành một biện pháp nghệ
thuật nếu nó đem đến cho ta một nội dung ngữ nghĩa mới bất ngờ. Ví dụ: Vũ Như Cẩn àVẫn như cũ; Bùi
Lan àBàn lui
2- Chức năng : Nói lái có cả hai chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này chủ yếu được dùng
trong PC khẩu ngữ và văn chương.
XI- Dẫn ngữ- Tập Kiều :
1- Dẫn ngữ :
1.1- Khái niệm: Dẫn ngữ là biện pháp dùng những điển cố, thành ngữ, tục ngữ, danh ngôn hoặc thơ văn
có giá trị, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống ngôn ngữ và cuộc sống tinh thần của một tập thể người
nhằm thuyết minh một vấn đề mới, biểu hiện một tư tưởng, tình cảm mới, làm cho cách kiến giải của

thuý và tinh tế, tất cả những khả năng biến hoá của tiếng Việt đều thể hiện trong phong cách và qua
phong cách. Tất cả những vấn đề quan trọng như Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Chuẩn hoá
ngôn ngữ,phát triển và nâng cao tiếng Việt văn hoá đều phải được giải quyết trong sự gắn bó mật thiết
với phong cách. Mọi sự non kém, thiếu sót về ngôn ngữ đều sẽ bộc lộ khi sử dụng các phong cách chức
năng ngôn ngữ.
Ðối với nhà trường, sự phân loại và miêu tả các PC sẽ tạo ra những cơ sở khoa học về tiếng Việt để
biên soạn những tài liệu học tập, giảng dạy hoàn chỉnh về tiếng Việt. Sự phân loại và miêu tả các phong
cách có ý nghĩa về nhiều mặt: ý nghĩa xã hội, ý nghĩa lí luận và ý nghĩa sư phạm.
2- Các cách phân loại PCNN:
Việc phân loại các phong cách chức năng là một vấn đề đã được đặt ra từ thời Mĩ từ pháp cổ đại với
lược đồ bánh xe phong cách của Virgile. Riêng ở Việt Nam vấn đề này chỉ mới thực sự quan tâm từ khi
có các giáo trình về phong cách học. Cụ thể là trong quyển Giáo trình Việt ngữ tập III của Ðinh Trọng
Lạc xuất bản năm 1964. Từ đó đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại các
PCCNTV. Và, thực tế vấn đề này vẫn chưa có tiếng nói chung cả về số lượng các phong cách và cả về
thuật ngữ Có thể khảo sát hai quan điểm về cách phân loại qua hai bộ giáo trình Phong cách học và
đặc điểm tu từ tiếng Việt của giáo sư Cù Ðình Tú và Phong cách học tiếng Việt của giáo sư Ðinh Trọng
Lạc (chủ biên ) và Nguyễn Thái Hoà.
1-GS Cù Ðình Tú phân loại dựa trên sự đối lập giữa PC khẩu ngữ tự nhiên và PC ngôn ngữ gọt giũa.
Sau đó, trên cơ sở chức năng giao tiếp của xã hội mà chia tiếp PC ngôn ngữ gọt giũa thành : PC khoa
học, PC chính luận, PC hành chính. PC ngôn ngữ văn chương được khảo sát riêng không nằm trong
phong cách ngôn ngữ gọt giũa. Sơ đồ phong cách tiếng Việt được biểu hiện như sau :
Tiếng Việt toàn dân
Phong cách khẩu ngữ tự nhiên Phong cách ngôn ngữ gọt giũa

Phong cách
khoa học

Phong cách
chính luận


b- Chức năng và đặc trưng:
b.1- Chức năng : PCKN có các chức năng : trao đổi tư tưởng tình cảm và chức năng tạo tiếp.
Những vấn đề mà PCKN đề cập không chỉ là những vấn đề cụ thể, đơn giản trong đời sống tình cảm,
sinh hoạt hàng ngày mà còn là những vấn đề trừu tượng, phức tạp như chính trị xã hội, khoa học, nghệ
thuật, triết học,
b.2- Ðặc trưng: PCKN có 3 đặc trưng :
b. 2.1- Tính cá thể: Ðặc trưng này thể hiện ở chỗ khi giao tiếp, người nói bao giờ cũng thể hiện vẻ
riêng về thói quen ngôn ngữ của mình khi trao đổi, chuyện trò, tâm sự với người khác. Ngôn ngữ là công
cụ chung dùng để giao tiếp trong một cộng đồng nhưng ở mọi người có sự vận dụng và thể hiện không
giống nhau do nhiều nguyên nhân như: nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, tâm lí, tính cách, trình độ học
vấn, văn hoá Ðặc trưng này khiến cho sự thể hiện của phong cách KN cực kì phong phú, phức tạp, đa
dạng.
b.2.2- Tính cụ thể: Ở PCKN, những cách nói trừu tượng, chung chung tỏ ra không thích hợp. Ðiều
này do giao tiếp ở đây thường là giao tiếp hội thoại, sự tiếp nhận và phản hồi thông tin, tình cảm cần
phải tức thời và ngắn gọn. Ðặc trưng này đã giúp cho sự giao tiếp trong sinh hoaüt hàng ngày trở nên
nhanh chóng, dễ dàng, ngay trong trường hợp phải đề cập đến những vấn đề trừu tượng.
b.2.3- Tính cảm xúc: Ðặc trưng này gắn chặt với tính cụ thể. Khi giao tiếp ở phong cách KN người
ta luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, tình cảm của mình đối với đối tượng được nói đến. Những cách
diễn đạt đầy màu sắc tình cảm đã nảy sinh trực tiếp từ những tình huống cụ thể trong thực tế đời sống
muôn màu muôn vẻ. Chính thái độ, tình cảm, cảm xúc làm thành nội dung biểu hiện bổ sung của lời nói,
giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu sâu sắc nội dung cơ bản và nhất là mục đích, ý nghĩa
của lời nói
c- Ðặc điểm ngôn ngữ:
1- Ngữ âm :
Khi nói năng ở PC này người ta không có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm mà nói năng
thoải mái, không những trong phát âm mà cả trong điệu bộ cử chỉ. Chính vì đặc điểm này mà chúng ta
thấy PCKN là PC tồn tại rất nhiều những biến thể ngữ âm.
Ngữ điệu trong PCKN mang dấu ấn riêng của cá nhân, có tính chất tự nhiên , tự phát. Trong
một số trường hợp, ngữ điệu là nội dung thông báo chính chứ không phải là lời nói.
2- Từ ngữ:

a- Khái niệm:
PC khoa học là PC được dùng trong lĩnh vực nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học. Ðây là PC ngôn
ngữ đặc trưng cho các mục đích diễn đạt chuyên môn sâu. Khác với PCKN, PC này chỉ tồn tại chủ yếu ở
môi trường của những người làm khoa học ( ngoại trừ dạng phổ cập khoa học).
PC khoa học có ba biến thể: PC khoa học chuyên sâu, PC khoa học giáo khoa và PC khoa học phổ cập.
Khác với PC khẩu ngữ, ở PC này dạng viết là tiêu biểu.
b- Chức năng và đặc trưng:
1- Chức năng: PC khoa học có hai chức năng là: thông báo và chứng minh. Một vài giáo trình
trước đây cho rằng PCKH có chức năng chủ yếu là thông báo [14],[15]. Quan niệm trên tỏ ra không bao
quát hết bản chất của PC này. Chính chức năng chứng minh tạo nên sự khu biệt giữa PCKH với các PC
khác. Văn bản thuộc PC này không chỉ thuần thông báo các sự kiện, sự vật tồn tại trong thực tế khách
quan mà còn phải chứng minh, làm sáng tỏ ý nghĩa của các sự kiện ấy.
2- Ðặc trưng: PC khoa học có 3 đặc trưng :
2.1- Tính trừu tượng- khái quát: Mục đích của khoa học là phát hiện ra các quy luật tồn tại trong các sự
vật, hiện tượng nên phải thông qua trừu tượng hoá, khái quát hoá khi nhận thức và phản ánh hiện thực
khách quan. Trừu tượng hoá chính là con đường của nhận thức lí tính giúp ta thoát khỏi những nhận
biết lẻ tẻ, rời rạc ở giai đoạn cảm tính. Ví dụ , để có khái niệm PCCNNN, người ta đã phải trừu tượng
hoá tất cả các văn bản, các dạng lời nói trong quá trình hoạt động ngôn giao.
2.2- Tính logic: Cách diễn đạt của PC khoa học phải biểu hiện năng lực tổng hợp của trí tuệ, phải tuân
theo quy tắc chặt chẽ từ tư duy logic hình thức đến tư duy logic biện chứng. Các nội dung ý tưởng khoa
học của người viết phải được sắp xếp trong mối quan hệ logic, tránh trùng lặp hoặc mâu thuẫn; những
khái quát, suy lí khoa học không được phủ định lại những tài liệu (cứ liệu) làm cơ sở cho nó
2.3- Tính chính xác- khách quan: PC khoa học không được phép tạo ra sự khác biệt giữa cái biểu đạt và
cái được biểu đạt. Một văn bản khoa học chỉ có giá trị thực sự khi đưa đến người tiếp nhận những thông
tin chính xác về các phát hiện, phát minh khoa học. Muốn vậy, văn bản khoa học phải đảm bảo tính một
nghĩa. Nghĩa là nó không cho phép nhiều cách hiểu khác nhau hoặc hiểu một cách mơ hồ. Chân lí khoa
học luôn phụ thuộc vào các quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người.
Những từ ngữ biểu cảm, những ý kiến chủ quan không thích hợp ở PC này.
c- Ðặc điểm :
1- Ngữ âm: Khi phát âm ở PC này người ta thường có ý thức hướng đến chuẩn mực ngữ âm. Ngữ điệu

Báo chí ra đời trước hết là do nhu cầu thông tin. Qua báo chí, người ta tiếp cận được nhanh
chóng các vấn đề mà mình quan tâm. Do đó, phong cách thông tấn trước tiên phải đáp ứng được chức
năng này. Ngoài ra, báo chí còn đảm nhận một nhiệm vụ to lớn khác là tác động đến dư luận làm cho
người đọc, người nghe, người xem hiểu được bản chất của sự thật để phân biệt cái đúng cái sai, cái
thật, cái giả, cái nên ngợi ca, cái đáng phê phán.
2- Ðặc trưng : PC thông tấn có 3 đặc trưng:
2.1- Tính thời sự: Thông tin phải truyền đạt kịp thời, nhanh chóng. Chỉ có những thông tin mới mẻ,
cần thiết mới hấp dẫn người đọc, người nghe. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu trao đổi và tiếp nhận
thông tin của con người ngày càng lớn. Báo chí sẽ thoả mãn nhu cầu thông tin đó của con người, nhưng
đồng thời người ta đòi hỏi đấy phải là những thông tin kịp thời, nóng hổi.
2.2- Tính chiến đấu: Báo chí là công cụ đấu tranh chính trị của một nhà nước, một đảng phái, một
tổ chức. Tất cả công việc thu thập và đưa tin đều phải phục vụ cho nhiệm vụ chính trị đó. Tính chiến đấu
là một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình tạo nên sự ổn định và phát triển của xã hội trên mặt
trận chính trị tư tưởng. Ðấy chính là các cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới; giữa cái tiến bộ và lạc
hậu; giữa tích cực và tiêu cực
2.3- Tính hấp dẫn: Tin tức của báo, đài cần phải được trình bày và diễn đạt hấp dẫn để khêu gợi
hứng thú của người đọc, người nghe. Tính hấp dẫn được coi như là một trong những yếu tố quyết định
sự sinh tồn của một tờ báo, tạp chí hay các đài phát thanh, truyền hình. Ðiều này đòi hỏi ở hai mặt: nội
dung và hình thức.
-Về nội dung: Thông tin phải luôn luôn mới, đa dạng, chính xác và phong phú.
- Về hình thức: Ngôn ngữ phải có sức thu hút, lôi cuốn người đọc, đặc biệt là ở các tiêu đề.
c- Ðặc điểm :
1- Ngữ âm: Với các đài phát thanh và truyền hình trung ương, đòi hỏi khi đưa tin phải phát âm
chuẩn mực.
Với các đài phát thanh và truyền hình của địa phương hoặc khu vực, có thể sử dụng một cách có chừng
mực một số biến thể phát âm thuộc một phương ngôn nào đó, nơi mà đài phủ sóng.
2- Từ ngữ:
2.1- Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng. Do vậy, từ ngữ được dùng trong phong cách thông tấn
trước hết phải là từ ngữ toàn dân, có tính thông dụng cao. Tuy nhiên, ở mỗi thể loại có sự thể hiện khác
nhau:

khoa học, PC thông tấn vẫn còn một số quan niệm chưa thống nhất.
b- Chức năng và đặc trưng :
1- Chức năng : PC chính luận có ba chức năng: thông báo, tác động và chứng minh. Chính vì
thực hiện các chức năng này mà ta thấy PC chính luận có sự thể hiện đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ
có nét giống với PC thông tấn, PC khoa học và cả PC văn chương.
2- Ðặc trưng: PC chính luận có ba đặc trưng:
2.1- Tính bình giá công khai: Người nói, người viết bao giờ cũng bộc lộ công khai một cách rõ ràng trực
tiếp quan điểm, thái độ của mình đối với sự kiện. Ðây là đặc trưng khu biệt PC chính luận với PC khoa
học và PC văn chương. Nếu văn chương là bình giá gián tiếp, khoa học là tránh sự thể hiện những yếu
tố cảm tính chủ quan thì ngôn ngữ của PC chính luận bao giờ cũng bộc lộ trực tiếp quan điểm, thái độ
của mình về một vấn đề thời sự của xã hội. Sự bình giá này có thể là của cá nhân hoặc nhân danh một
tổ chức, đoàn thể chính trị nào đó.
2.2- Tính lập luận chặt chẽ: Ðể bày tỏ chính kiến, giải thích, thuyết phục và động viên mọi người
tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước, sự diễn đạt ở PC này đòi hỏi
có tính chất lập thuyết. Nghĩa là phải bằng những lí lẽ đúng đắn, có căn cứ vững chắc, dựa trên cơ sở
những luận điểm, luận cứ khoa học mà đấu tranh, thuyết phục, động viên. Tính lập luận chặt chẽ thể
hiện ở việc khai thác những quan hệ chiều sâu giữa hình thức ngôn ngữ và mục đích biểu đạt. Một văn
bản chính luận hay thường là những văn bản chưá đựng nhiều hàm ý sâu sắc, có sức chinh phục lòng
người, có sức cuốn hút mãnh liệt.
2.3- Tính truyền cảm: PC chính luận cóï tính truyền cảm mạnh mẽ , tức sự diễn đạt hùng hồn, sinh động
có sức hấp dẫn và đạt hiệu quả cao, thuyết phục cả bằng lí trí, cả bằng tình cảm, đạo đức. Ðặc trưng
này tạo nên sự khu biệt giữa PC chính luận với PC khoa học, thông tấn và khiến PC này gần với PC văn
chương. Trong văn bản chính luận, chúng ta thường bắt gặp các biện pháp tu từ, những từ ngữ có đặc
điểm tu từ cao nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ về mặt âm thanh và ý nghĩa.
c- Ðặc điểm :
1- Ngữ âm: Có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm. Khi phát biểu trong hội nghị hoặc diễn thuyết trong
mit tinh, ngữ điệu được xem là phương tiện bổ sung để tăng thêm sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe.
2- Từ ngữ:- Ðặc điểm nổi bật nhất là sự có mặt của lớp từ chính trị, công cụ riêng của PC chính luận. PC
chính luận đòi hỏi khi dùng từ chính trị phải luôn luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm và tình cảm cách mạng
của mình

đạt tính chất xác nhận, khẳng định của những tài liệu này. Văn bản hành chính thuộc loại giấy tờ có
quan hệ đến thể chế quốc gia , của xã hội có tổ chức cho nên sự diễn đạt ở đây phải luôn luôn thể hiện
tính nghiêm túc. Các văn bản như : hiến pháp, luật, quyết định, thông tư, mang tính chất khuôn phép
cao cho nên không chấp nhận PC diễn đạt riêng của cá nhân. Ngay cả những văn bản hành chính mang
tính cá nhân cũng phải đảm bảo đặc trưng này.
2.3- Tính khuôn mẫu: Văn bản hành chính được soạn thảo theo những khuôn mẫu nhất định do
nhà nước quy định. Những khuôn mẫu này được gọi là thể thức văn bản hành chính. Thể thức đúng
không những làm cho văn bản được sử dụng có hiệu quả trong hoạt động hiện hành của các cơ quan
mà còn làm cho văn bản có giá trị bền vững về sau.
c- Ðặc điểm:
1- Ngữ âm: Khi phát âm ở phong cách này phải hướng tới chuẩn mực ngữ âm, phát âm phải rõ
ràng, chính xác. Khác với các PC khác, khi tồn tại ở dạng nói, PC hành chính không phải là sự trình
bày , diễn đạt theo văn bản đã viết hoặc soạn đề cương mà là đọc lại.Nghĩa là chúng không chịu một sự
biến đổi nào bên trong. Ngữ điệu đọc hoàn toàn bị phụ thuộc vào cấu trúc của nội dung văn bản.
2- Từ ngữ:
- Những từ ngữ xuất hiện nhiều ở PC này là lớp từ ngữ chuyên dùng trong các hoạt động của bộ máy
nhà nước và các đoàn thể, còn được gọi là từ hành chính. Loại từ này tạo nên vẻ riêng nghiêm chỉnh, có
thể chế của sự diễn đạt hành chính.
- Có khuynh hướng dùng những từ ngữ thật chính xác đứng về mặt nội dung và những từ ngữ trung hoà
hoặc những từ ngữ trang trọng đứng về mặt sắc thái biểu cảm. Những từ ngữ này góp phần biểu thị tính
chất thể chế nghiêm chỉnh của các giấy tờ và văn kiện hành chính.
- Từ Hán Việt chiếm một tỉ lệ khá lớn.
3- Cú pháp:
- Dùng câu tường thuật là chủ yếu, các kiểu câu cảm thán , nghi vấn không thích hợp với yêu cầu thông
tin của phong cách này.
- Câu văn hành chính không chấp nhận sự mơ hồ. Tính thống nhất và chặt chẽ của các văn bản hành
chính không cho phép sử dụng những câu trong đó quan hệ ngữ pháp giữa các thành phần không rõ
ràng khiến nội dung câu văn bị hiểu theo nhiều cách.
- Câu văn hành chính không cho phép sự sáng tạo về ngôn ngữ của cá nhân, những yếu tố cảm xúc của
cá nhân. Do yêu cầu cao về sự thống nhất theo thể thức hành chính nên một số văn bản hành chính viết

vì thế ngôn ngữ văn chương dễ đi vào lòng người, nó trở thành ngôn ngữ của muôn người.
Tính hình tượng trong phong cách văn chương thể hiện ở chỗ ngôn ngữ ở đây có khả năng truyền đạt
sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ thế giới, cảnh vật, con người vào trong tác phẩm. Ngôn ngữ
trong phong cách khẩu ngữ cũng có khả năng này nhưng nó không là điều bắt buộc. Trong văn chương,
trái lại, đó là điều không thể thiếu. Ngôn ngữ văn chương phải làm sống dậy các động tác, vận động đầy
ý nghĩa của sự vật trong những thời khắc nhất định.
Bất kỳ một phương tiện từ ngữ nào trong một văn cảnh nhất định đều có thể chuyển thành một từ ngữ
nghệ thuật, nếu có thêm một nét nghĩa bổ sung nào đó.
2.3- Tính cá thể hoá: Tính cá thể hoá được hiểu là dấu ấn phong cách tác giả trong tác phẩm văn
chương. Dấïu ấn PC tác giả là cái thuộc về đặc điểm bản thể, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ
văn chương. Sêkhôp nói: Nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó sẽ không bao giờ
là nhà văn cả. Lối nói riêng mà Sêkhôp gọi chính là PC tác giả. Xét về mặt ngôn ngữ, PC tác giả thể hiện
ở hai dấu hiệu:
- Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác
giả;
- Sự sáng tạo ngôn ngữ của tác giả
c- Ðặc điểm:
1- Ngữ âm: Trong PCVC, những yếu tố ngữ âm như: âm, thanh, ngữ điệu, tiết tấu, âm điệu rất
quan trọng. Có thể nói, tất cả những tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt đều được vận dụng một cách
nghệ thuâtû để đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ về mặt ngữ âm của người đọc, người nghe. Hầu như mọi biến
thể của ngữ âm tiếng Việt đều được khai thác.
2- Từ ngữ: Từ ngữ trong PCVC rất đa dạng, gồm cả từ phổ thông và từ địa phương, biệt ngữ; từ
hiện đại và từ lịch sử, từ cổ; từ khiếm nhã và từ trang nhã. Từ trong sinh hoạt bình thường chiếm tỉ lệ
cao, song vẫn xuất hiện đủ các lớp từ văn hoá, kể cả thuật ngữ khoa học. Nguyên nhân là tác phẩm văn
chương có chức năng phản ánh mọi khía cạnh của cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Nhờ sử dụng toàn
bộ các phương tiện biểu hiện mà PCVC luôn luôn chuyển đổi, biến động, luôn luôn đa dạng mới mẻ
trong cách phô diễn.
3- Cú pháp: PCVC sử dụng hầu như tất cả các kiểu cấu trúc câu. Song cấu trúc câu đơn vẫn
chiếm tỉ lệ cao.
PCVC thường sử dụng các loại câu mở rộng thành phần định ngữ, trạng ngữ và các loại kết cấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status