Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế một cửa về quản lý đất đai của huyện đại từ tỉnh thái nguyên giai đoạn 2008 2013 - Pdf 25

DANH MỤC VIẾT TẮT
STT Viết tắt Giải thích
1 CCHC Cải cách hành chính
2 CV- TNMT Công văn tài nguyên môi trường
3 CT- UB Chỉ thị ủy ban
4 CT- TTCP Chỉ thị thủ tướng chính phủ
5 CV- UB Công văn ủy ban
6 HĐND Hội đồng nhân dân
7 NĐCP Nghị định chính phủ
8 QĐ - UB Quyết địn ủy ban
9 KH- UBND Kế hoạch ủy ban nhân dân
10 TT- BTNMT Thông tư bộ tài nguyên môi trường
11 TTHC Thủ tục hành chính
12 THPT Trung học phổ thông
13 GCNSDĐ Giấy chứng nhận sử dụng đất
14 WTO Tổ chức thương mại thế giới
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tăng trưởng giá trị sản xuất qua các năm (theo giá cố định 29
Bảng 4.2. Tình hình dân số và lao động của huyện Đại Từ 32
Bảng 4.3. Hiện trạng sử dụng đất đai 2013 của huyện Đại Từ 38
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2008 41
Bảng 4.5. Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2009 42
Bảng 4.6. Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2010 43
Bảng 4.7. Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2011 44
Bảng 4.8. Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2012 46
Bảng 4.9. Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2013 47
Bảng 4.10. Kết quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại huyện
Đại Từ - từ 2008 đến 2013 49
Bảng 4.11: So sánh kết quả trước và sau khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong
quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ 50

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính c p thi t c a t iấ ế ủ đề à 1
1.2. M c ích c a t iụ đ ủ đề à 2
1.3. Yêu c u c a t iầ ủ đề à 2
1.4. Ý ngh a c a t iĩ ủ đề à 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Khái quát v qu n lý nh n c v t aiề ả à ướ ềđấ đ 3
2.1.1. Khái ni m “ qu n lý nh n c v t ai”ệ ả à ướ ềđấ đ 3
2.1.2. Các quy nh chung trong qu n lý nh n c v t aiđị ả à ướ ềđấ đ 3
2.1.3. C n c pháp lý trong qu n lý nh n c v t aiă ứ ả à ướ ềđấ đ 7
2.1.4. Tình hình qu n lý Nh n c v t ai Vi t Namả à ướ ềđấ đ ở ệ 9
2.2. Tìm hi u c ch m t c aể ơ ế ộ ử 14
2.2.1. Khái ni m “ m t c a”ệ ộ ử 14
2.2.2. Các quy nh chung v c ch m t c ađị ề ơ ế ộ ử 15
2.2.3. C n c pháp lý v c ch “m t c a”ă ứ ề ơ ế ộ ử 17
2.3. Tình hình th c hi n c ch “m t c a” trên th gi i v b i h c kinh ự ệ ơ ế ộ ử ế ớ à à ọ
nghi m cho Vi t Namệ ệ 17
2.3.1.Kinh nghi m th c hi n c ch m t c a c a Indonesiaệ ự ệ ơ ế ộ ử ủ 17
2.3.2. Tình hình th c hi n c ch “m t c a” t i B o Nhaự ệ ơ ế ộ ử ạ ồĐà 18
2.3.3. B i h c kinh nghi m cho Vi t Namà ọ ệ ệ 19
2.4. Tình hình th c hi n c ch “m t c a” t i Vi t Namự ệ ơ ế ộ ử ạ ệ 20
2.5. Quá trình th c hi n c ch “m t c a” v qu n lý t ai t i huy n iự ệ ơ ế ộ ử ề ả đấ đ ạ ệ Đạ
Từ 21
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1. i t ng v a i m nghiên c uĐố ượ àđị để ứ 22
3.1.1. i t ng nghiên c uĐố ượ ứ 22
3.1.2. Ph m vi nghiên c uạ ứ 22
3.2. a i mĐị để 22
3.3. N i dung nghiên c uộ ứ 22
3.3.1 i u ki n t nhiên, kinh t , xã h i v qu n lý s d ng t c a Đề ệ ự ế ộ à ả ử ụ đấ ủ

4.3. ánh giá ý ki n c a cán b , công dân v vi c th c hi n c ch “m t Đ ế ủ ộ ề ệ ự ệ ơ ế ộ
c a” trong qu n lý h nh chính nh n c v t ai t i Huy n i T .ử ả à à ướ ềđấ đ ạ ệ Đạ ừ 52
4.3.1. ánh giá ý ki n c a công dân v vi c th c hi n c ch “m t c a” Đ ế ủ ề ệ ự ệ ơ ế ộ ử
trong qu n lý h nh chính nh n c v t ai t i Huy n i T .ả à à ướ ềđấ đ ạ ệ Đạ ừ 52
4.3.2. ánh giá ý ki n c a cán b phòng v vi c th c hi n c ch “m t Đ ế ủ ộ ề ệ ự ệ ơ ế ộ
c a” trong qu n lý h nh chính nh n c v t ai t i Huy n i T .ử ả à à ướ ềđấ đ ạ ệ Đạ ừ.53
4.3.3. ánh giá chung tình hình th c hi n c ch m t c a t i huy n iĐ ự ệ ơ ế ộ ử ạ ệ Đạ
Từ 55
4.4. M t s gi i pháp c b n nh m t ng c ng công tác c i cách h nh ộ ố ả ơ ả ằ ă ườ ả à
chính v công tác th c hi n c ch “m t c a” v qu n lý t ai t i huy n à ự ệ ơ ế ộ ử ề ả đấ đ ạ ệ
i TĐạ ừ 57
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1. K t lu nế ậ 59
5.2. Ki n nghế ị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
v
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với lịch sử phát triển của đất nước, công tác quản lý đất đai của
nước ta đang ngày càng hoàn thiện. Trong những năm vừa qua, thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng, cải cách hành chính (CCHC) đã được triển khai,
từng bước đi vào chiều sâu và đã góp phần tích cực vào những kết quả, thành
tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên so với yêu cầu của đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là trong bối cảnh hiện nay Việt
Nam đã chính thức ra nhập WTO, đang tích cực hội nhập vào kinh tế khu vực
và toàn cầu thì chúng ta phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa nền hành chính Nhà
nước mới có thể nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhanh chóng
thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp hóa. Ngày nay, cải cách hành chính đang là vấn đề

quản lý đất đai của huyện đại từ.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Khái quát về quản lý hành chính nhà nước về đất đai và cơ chế “một cửa”.
- Xem xét tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính
Nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ tỉnh thái nguyên giai đoạn 2008 - 2013.
Tìm hiểu thuận lợi, khó khăn và những nguyên nhân tồn tại khi thực hiện cơ
chế “một cửa” trong công tác quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại
huyện Đại Từ. Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác cải
cách hành chính và công tác thực hiện cơ chế “một cửa” về quản lý đất đai tại
huyện Đại Từ.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Đây là cơ hội cho bản
thân củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội áp
dụng lý thuyết đã học vào thực tiễn. Giúp bản thân rèn luyện kĩ năng, nghiên
cứu sau khi ra trường.
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăng
cường công tác cải cách hành chính và công tác thực hiện cơ chế “một cửa”
trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ.
2
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Khái quát về quản lý nhà nước về đất đai
2.1.1. Khái niệm “ quản lý nhà nước về đất đai”
- Khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một
hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những
quy luật nhất định
- Khái niệm “quản lý nhà nước về đất đai”: quản lý nhà nước về đất đai
là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực
hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt
động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai

nhiệm vụ: Cơ quan địa chính ở trung ương và địa phương chịu trách nhiệm
trước Chính phủ và cơ quan chính quyền cùng cấp trong quản lý nhà nước về
đất đai.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: quản lý nhà nước về đất đai của chính
quyền phải tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện quyền chủ sở hữu
toàn dân về đất đai.
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với địa phương và vùng lãnh
thổ: có sự hài hoà giữa quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo chuyên ngành.
- Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử: quản lý nhà nước của chính
quyền phải tuân thủ việc kế thừa các quy định của luật pháp của Nhà nước
trước đây, cũng như tính lịch sử trong quản lý đất đai qua các thời kỳ.
 !
- Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.
- Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm được
quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất.
- Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra
một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai.
- Phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết
những sai phạm.
"#$%
- Công cụ pháp luật Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân
thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và các nghĩa vụ khác.
- Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai: trong công tác quản lý
nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ
quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác
quản lý nhà nước về đất đai.
4
- Công cụ tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá
trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể
kinh tế - xã hội.

5
trong cả nước”. Trong đó đã quy định rõ các nội dung của công tác quản lý
Nhà nước đối với đất đai như sau:
- Điều tra, khảo sát và quy hoạch phân bổ các loại đất.
- Quy hoạch sử dụng đất.
- Quy định các chế độ, thể lệ quản lý việc sử dụng đất đai và tổ chức
thực hiện các chế độ thể lệ ấy.
- Giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất.
- Thống kê, đăng ký đất đai.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các chế độ, thể chế quản lý và sử
dụng đất đai.
- Giải quyết các tranh chấp về đất đai.
* Theo điều 13 Luật đất đai năm 1993, nội dung quản lý Nhà nước về
đất đai gồm 7 nội dung
- Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất đai và lập bản đồ địa chính.
- Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai.
- Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực
hiện các chế độ thể chế ấy.
- Giao đất, thu hồi đất.
- Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể chế về quản lý và sử dụng đất đai.
- Giải quyết tranh chấp đất đai.
* Theo điều 6 Luật đất đai 2003, nội dung quản lý Nhà nước về đất
đai gồm 13 nội dung
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ hành chính.
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ

của Trung ương, của Tỉnh có liên quan, UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Tài
nguyên và Môi hướng dẫn về trình tự, thủ tục trong việc lập hồ sơ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất và các bước để
thực hiện xử lý, cưỡng chế đối với các trường hợp tự ý chuyển mục đích sử
dụng đất trái phép. Cụ thể:
- Các văn bản chỉ đạo trong công tác cấp GCNQSD đất:
+ Công văn số: 610/CV-UB ngày 20/8/2004 V/v điều tra thực trạng cấp
GCNQSD đất trên địa bàn huyện.
7
+ Công văn số 1044/CV-UB ngày 17/12/2004 V/v cử cán bộ tham gia
Ban chỉ đạo cấp GCNQSD đất.
+ KH số 243/KH-BCĐ ngày 29/3/2005: Triển khai kế hoạch cấp
GCNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân.
+ Công văn số 74/CV-TNMT ngày 30/8/2005: Tập trung đẩy nhanh tiến
độ cấp GCNQSD đất.
+ Quyết định số 259/QĐ-UBND ngày 23/2/2006: Kiện toàn BCĐ cấp
GCNQSD đất.
+ Chỉ thị số 03/CT-UB ngày 01/3/2006: V/v đẩy nhanh việc hoàn thành
cấp GCNQSD đất lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân.
+ KH số 10/KH-UB ngày 01/3/2006: Kế hoạch cấp GCNQSD đất lần
đầu cho hộ gia đình, cá nhân.
+ Công văn số 269/CV-UBND ngày 22/6/2006 V/v giải quyết vướng
mắc trong giao nhận GCNQSD đất.
+ Thông báo kết luận số 64/TB-KL ngày 12/9/2006: Đánh giá công tác
cấp GCNQSSD đất 8 tháng đầu năm 2006
+ KH số 21/KH-UBND ngày 13/3/2007: Kế hoạch cấp GCNQSD đất
năm 2007.
+ Thông báo kết luận số 82/TBKL ngày 30/8/2007: Giải quyết vướng
mắc trong cấp GCNQSD đất ở Thị trấn Đại Từ.
+ Công văn số: 118/CV-TNMT ngày 20/5/2008 V/v đẩy nhanh tiến độ

- Ngày 14/12/1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành luật cải
cách ruộng đất. Mục tiêu là: Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực
dân Pháp và chế độ xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ chiếm hữu
ruộng đất của giai cấp phong kiến.
- Năm 1954 cuộc cải cách ruộng đất cơ bản hoàn thành.
Ngày 03/7/1958 có Chỉ thị 345/TTg cho tái lập hệ thống Địa chính trong
Bộ Tài chính và ủy ban nhân dân các cấp để làm nhiệm vụ đo đạc, lập bản đồ
giải thửa và sổ sách địa chính.
- Năm 1960, hợp tác hóa nông nghiệp cơ bản đã hoàn thành 90% đất
canh tác được tập thể hóa, hình thức sở hữu ruộng đất ra đời. Hiến pháp của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định rõ 3 hình thức sở hữu đất đai
như sau:
+ Sở hữu toàn dân.
+ Sở hữu tư nhân.
+ Sở hữu tập thể.
Sau mùa xuân 1975 miền nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước
được thống nhất, Nhà nước có chủ trương kiểm kê, thống kê đất đai trong cả
9
nước. Để thực hiện nội dung này Chính phủ đã ra quyết định số 69/CP ngày
20/6/1977 về công tác kiểm kê đất đai trong cả nước.
Ngày 07/11/1979 Hội đồng Chính phủ ra nghị định 404/CP thành lập
Tổng cục Quản lý ruộng đất thuộc Chính phủ.
* Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử
dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Xây dựng chính sách pháp luật là vấn đề mà Đảng, Nhà nước và nhân
dân hết sức quan tâm. Trong những năm vừa qua, với sự cố gắng vươn lên
của mình Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã từng
bước xây dựng hoàn chỉnh Luật đất đai, xây dựng trình Chính phủ ban hành
14 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai, phối hợp với các ngành soạn
thảo 38 Nghị định về các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động quản lý đất đai

xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình.
Mặc dù, có rất nhiều cố gắng nhưng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
còn chưa thực hiện đồng bộ giữa các cấp, chưa gắn liền với quy hoạch chi tiết
của các ngành, việc lập quy hoạch cấp huyện, cấp xã còn chậm, chưa bồi
dưỡng chất lượng, phân cấp quản lý quy hoạch chưa rõ ràng.
* Công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất
Công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là hạt nhân của hệ thống quản lý đất đai, là một trong
những nhiệm vụ quan trọng và hết sức nặng nề mang tính cấp bách, được
Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Trên cơ sở Luật đất đai 1993 đã hai lần sửa đổi vào năm 1998, 2001 và
Luật đất đai năm 2003, Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi
trường) đã xây dựng nhiều văn bản pháp lý về đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa
chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tăng cường công tác kiểm tra,
chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn các địa phương trên cả 3 lĩnh vực
này. Thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nhà nước đã
lập được hồ sơ địa chính để quản lý nguồn tài nguyên đất đai. Đồng thời các
chủ sử dụng đất cũng được xác lập quyền sử dụng hợp pháp, làm cơ sở để
thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của người sử dụng đất.
Đến nay, công tác này đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng, 26 tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương cơ bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nông nghiệp, 15 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ở đô thị, 20 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn, 05 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các loại đất ( Đà Nẵng, Long An,
11
Bắc Ninh, Hậu Giang, Sóc Trăng ). Ngoài ra một số tỉnh đã đạt kết quả thấp
như Hòa Bình mới chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được 6,37%
đối với đất ở, Hưng Yên 40,8%, Thái Bình 53%

12
quốc. Riêng Thanh tra Nhà nước hàng năm nhận từ 2.500 - 7.000 đơn thư.
Tổng cục Địa chính trước đây nhận 2.500 - 3.000.
Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các địa phương và Trung ương
đã có những chuyển biến tích cực. Hiện nay có 13 tỉnh không có đơn thư đến
Bộ Tài nguyên và Môi trường, còn 23 tỉnh, thành phố khác có 2.143 vụ việc
giải quyết, trong năm 2005 đã giải quyết 1.779 đơn thư, năm 2006 đã giải
quyết 2.070 đơn thư, số đơn thư tồn đọng giảm đáng kể.
* Công tác quản lý tài chính về đất đai
Công tác quản lý tài chính về đất đai là công tác mới được đưa vào Luật
đất đai, nhằm xây dựng các quy định trong quá trình quản lý đất đai. Đây
cũng là một nguồn thu lớn của ngân sách Nhà nước như: thu tiền thuế sử dụng
đất, thu tiền chuyển quyền sử dụng đất, phí và lệ phí trong quản lý và sử dụng
đất đai, thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất ở, tiền thuê đất nhưng
các khoản thu hiện nay từ đất đai vẫn còn khiêm tốn, chưa tương xứng với
tiềm năng và tình hình thực tế của các địa phương. Công tác này còn nhiều
bất cập, hạn chế, thủ tục rườm rà.
* Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
bất động sản
Công tác quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị
trường bất động sản là một nội dung mới được đưa vào Luật đất đai năm
2003, nhằm phục vụ tốt công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Vì từ trước tới
nay, thị trường tồn tại như một thị trường ngầm, mặc dù có diễn ra khá sôi
động nhưng Nhà nước không quản lý được. Điều này gây rất nhiều vướng
mắc trong quản lý Nhà nước về đất đai. Luật đất đai năm 2003 nêu rõ quyền
sử dụng đất trong thị trường bất động sản quy định tại điều 61, 62, 63. Điều
63 nổi bật lên việc Nhà nước quản lý đất đai trong việc phát triển thị trường
bất động sản bằng các biện pháp:
- Tổ chức đăng ký hoạt động giao dịch về quyền sử dụng đất.
- Tổ chức đăng ký hoạt động phát triển quỹ đất đầu tư xây dựng kinh

hạn chế.
2.2. Tìm hiểu cơ chế một cửa
2.2.1. Khái niệm “ một cửa”
"+," là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc
thẩm quyền của cơ quan hành chính Nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến
trả lại kết quả thông qua một đầu mối là "Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả" tại
cơ quan hành chính Nhà nước
Việc thực hiện cơ chế ,/ nhằm đạt được bước chuyển căn bản
trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính Nhà
nước với tổ chức, công dân, giảm phiền hà cho tổ chức, công dân, chống tệ
14
quan liêu, tham nhũng, cửa quyền của cán bộ, công chức, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý Nhà nước.
2.2.2. Các quy định chung về cơ chế một cửa
Theo quy định tại Điều 2, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg, ngày
22/6/2007, của Thủ tướng Chính phủ, việc thực hiện cơ chế "một cửa", tại cơ
quan hành chính Nhà nước quy định:
Cơ chế “một cửa” được áp dụng trong các cơ quan hành chính Nhà nước
ở địa phương, cụ thể là UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (các sở,
ban, văn phòng HĐND và UBND); UBND huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh; UBND xã, phường, thị trấn.
* Cơ chế “một cửa” được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
+ Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.
+ Công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết
công việc của tổ chức, công dân.
+ Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
+ Việc phối hợp giữa các bộ phận có liên quan để giải quyết công việc
của tổ chức, công dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước.
+ Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức,
công dân.

đúng thời gian quy định.
+ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhận lại kết quả giải quyết công việc
và trả lại cho tổ chức, công dân theo đúng thời gian đã hẹn, thu phí, lệ phí đối
với những công việc được thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.
+ Trường hợp giải quyết hồ sơ không đúng hẹn thì bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả có trách nhiệm thông báo cho tổ chức, công dân lý do và hẹn thời
gian trả lại kết quả.
+ Quy trình giải quyết công việc theo cơ chế một cửa tại UBND huyện
Đại Từ.
Tổ Chức Công Dân
Lãnh đạo UBND huyện
Các Phòng Ban
chuyên môn
Văn Phòng UBND - huyện
Bộ Phận Tiếp Nhận Và Trả Kết quả
1
6
2
3
4
5
16
Chú thích:
1. Nộp hồ sơ
2. Chuyển phòng ban chuyên môn giải quyết.
3. Văn phòng trình ký
4. Chuyển văn phòng trình ký
5. Trả hồ sơ về văn phòng đóng dấu vào sổ
6. Trả kết quả cho tổ chức công dân tiến hành thu lệ phí theo quy định.
2.2.3. Căn cứ pháp lý về cơ chế “một cửa”

lý giấy phép hiệu quả hơn qua việc sử dụng các bộ phận một cửa. Đây là nơi
kết hợp việc quản lý của nhiều bộ chuyên môn riêng biệt với nhau thành một
cơ quan nơi có thể xử lý nhanh chóng việc cấp giấy phép.
- Chương trình đánh giá tác động pháp lý: Chương trình nhằm hỗ trợ
chính quyền địa phương thực hiện việc đánh giá tác động pháp lý như một
nhiệm vụ thường xuyên khi soạn thảo các quy định mới. Chương trình bổ
sung và hỗ trợ cho Cơ chế một cửa trong việc giúp đỡ Chính phủ rà soát lại
các quy định liên quan đến giấy phép kinh doanh.
01 2))3)#4)5*)6
Cơ chế một cửa tại Indonesia được thực hiện dưới nhiều hình thức. Vị trí
của Cơ chế một cửa trong nền hành chính địa phương, có thể xem xét 3 yếu
tố: nền tảng pháp lý, cấp độ tổ chức, và thẩm quyền hoạt động. Nền tảng pháp
lý: Xu hướng thiết lập cơ chế một cửa ở cấp địa phương được phát động từ
giữa những năm 1990. Tuy nhiên, trước khi diễn ra việc phân quyền cho địa
phương, các cơ quan cấp phép là một phần của cấu trúc chính phủ quốc gia,
không có sự tích hợp cấp phép kinh doanh cho tới sau khi diễn ra sự phân
quyền. Bộ Nội Vụ đã ban hành một thông tư vào năm 1997 hướng dẫn chung
việc xây dựng cơ chế một cửa tại địa phương.
Cơ chế một cửa có thể được thực hiện ở nhiều cấp độ tổ chức khác nhau:
- Thành công của bộ phận một cửa còn được quyết định bởi nhận thức
của công chúng. Cơ chế một cửa có thể được quảng bá qua đài phát thanh, tài
liệu, tờ rơi và biển quảng cáo ở các địa điểm công cộng hoặc các chiến dịch
thông tin trực tiếp được tiến hành bởi các nhân viên của bộ phận một cửa.
2.3.2. Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha bắt đầu tổ chức thực hiện và thiết lập bộ phận một cửa từ
năm 1999 với tên gọi là The Citizen Shops (Tạm dịch là: Bộ phận tiếp công
dân). Bộ phận này được thiết lập với mục đích thành lập những tổ chức hiện
đại, cập nhật và hiện đại hóa ở các thành phố lớn để cung cấp dịch vụ công,
thống nhất các dịch vụ công tại một đầu mối, cải thiện chất lượng dịch vụ
18

Đồng thời với đó, cần phải giải quyết những vấn đề từ lý luận đến thực tiễn ở
một số khía cạnh như:
19
- Làm thế nào để nền hành chính quan liêu truyền thống có thể ứng dụng
nền quản lý công mới hướng tới khách hàng trong bối cảnh đất nước đang
chuyển đổi và cải cách hành chính?
- Liệu cơ chế “một cửa” có thật sự là một sự cải cách hay chỉ là diện mạo
mới cho cách cung cấp dịch vụ trước đây, làm thế nào để nâng cao chất lượng
cơ chế “một cửa”?
- Khung thể chế và văn hoá thống trị trong hệ thống đang kìm hãm các
cải cách dịch vụ công theo những cách nào?
2.4. Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ, trong những năm qua, các địa phương đã tập trung triển
khai thực hiện cơ chế cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa” liên thông tại cơ
quan hành chính nhà nước các cấp từ cấp tỉnh, cấp huyện đến cấp xã để nâng
cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công, góp phần từng
bước làm thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa chính quyền và cá nhân, tổ chức
theo hướng hành chính phục vụ, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức khi đến
giao dịch với cơ quan hành chính. Nhiều địa phương đã chủ động triển khai
thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông hiện đại tại Ủy ban Nhân
dân cấp huyện. Trong số 700 đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước,
hiện đã có 686 đơn vị triển khai thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên
thông, đạt 98%. Những đơn vị hành chính cấp huyện cho đến nay chưa triển
khai thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông đều là các huyện đảo,
các huyện mới thành lập.
Cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông hiện đại cũng đã bắt đầu xuất
hiện với việc áp dụng công nghệ thông tin, các trang thiết bị hiện đại tại một
số địa phương từ những năm 2006. Tính đến nay đã có 42/63 tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương đang triển khai cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status